Công tác xã hội cá nhân đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình từ thực tiễn thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ NHUNG

CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI
PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI, 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ NHUNG

CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI
PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. ĐỖ PHÚ HẢI

2.2. Thực trạng công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình tại Yên Bái
.......................................................................................................................... 35
2.3. Trường hợp điển cứu................................................................................. 41
Chương 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC XÃ HỘI HỖ TRỢ
ĐỐI VỚI PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH TỪ THỰC TIỄN TẠI
THÀNH PHỐ YÊN BÁI ................................................................................... 69
3.1. Hoàn thiện chính sách pháp luật ............................................................... 69
3.2. Nâng cao thông tin tuyên truyền ............................................................... 70
3.3. Áp dụng các hoạt động tư vấn, chăm sóc tại địa phương ........................ 71
3.4. Phát triển kinh tế ....................................................................................... 72
3.5. Tăng cường năng lực quản lý Nhà nước ................................................... 73
KẾT LUẬN ........................................................................................................ 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................... 76


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Bạo lực gia đình là một vấn đề được xã hội đặc biệt quan tâm.Đây không
còn là đề tài mới, nhưng vẫn rất thời sự.Nạn bạo lực gia đình vẫn xảy ra đâu đó
một cách khá thường xuyên, để lại sự tổn hại xã hội nghiêm trọng.Bạo lực gia
đình có ảnh hưởng lớn đến tinh thần và thể chất của nạn nhân, có những trường
hợp dẫn đến thương tật suốt đời, thậm chí tử vong.
Xã hộingày càng phát triển, vị trí của mỗi người trong gia đình cũng thay
đổi và hướng tới sự bình đẳng, bình đẳng giữa vợ - chồng, giữa cha mẹ và con
cái. Xu hướng phát triển này đang được cả xã hội khuyến khích. Song, bên cạnh
những gia đình được xem là tổ ấm thực sự thì tình trạng bạo lực mà nạn nhân
chủ yếu là người phụ nữ - người vợ trong gia đình vẫn xảy ra ở mọi nơi, mọi lúc
đến mức báo động. Điều này gây ảnh hưởng lớn tới nền tảng gia đình và xã
hội. Ngày nay, bạo lực gia đình đối với phụ nữ đã trở thành một vấn đề mang
tính toàn cầu, xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới và được nhiều tổ chức cũng

luận xã hội về việc thể hiện bạo lực như: vụ chồng nhốt vợ vào cũi nuôi chó ở
Song Khê - Yên Dũng, đuổi vợ ra khỏi nhà vào đêm giáp Tết Nguyên đán ở
Hương Vĩ - Yên Thế, nhốt vợ dùng điếu cày đập vào đầu dẫn đến tử vong ở Mi
Điền - Việt Yên, bắt vợ phải quan hệ tình dục theo sở thích điên dại ở Quý Sơn Lục Ngạn và nhiều vụ việc khác liên quan đến bất bình đẳng không cho vợ
tham gia các hoạt động xã hội, chính trị tại địa phương. Từ những vụ việc trên
có thể khái quát về một số định kiến giới thường gặp hiện nay như sau:
- Phụ nữ phải phụ thuộc, yếu đuối, thụ động, nam giới là độc lập, mạnh
mẽ có năng lực và là người ra quyết định.
- Chồng có quyền dạy vợ, vợ phải nghe theo chồng.

2


- Nam là trụ cột trong gia đình, có quyền quyết định những việc lớn quan
trọng trong gia đình, nữ có trách nhiệm nuôi dạy con cái, nội trợ trong nhà.
- Nam giỏi việc xã hội, nữ phải giỏi việc nhà.
Định kiến như trên, đã gây nhiều tác động tiêu cực đến cơ hội, khả năng
phát triển của chị em phụ nữ trong công việc xã hội và nhất là trong đời sống gia
đình. Ở những gia đình có sự phân biệt, coi trong nam giới hơn nữ giới thì gia
đình đó dành nhiều sự quan tâm, chăm sóc về mọi mặt cho các trẻ em trai, nhiều
hơn cho trẻ em gái. Do đó khi trưởng thành, các em trai thường có điều kiện
tham gia vào đời sống kinh tế, chính trị, xã hội tốt hơn các em gái, mặc dù năng
lực của các em gái không thua kém các em trai. Những suy nghĩ, cách hành xử,
sự dạy dỗ có liên quan đến phân biệt, định kiến giới của ông, bà, cha, mẹ, anh,
chị chính là những yếu tố ảnh hưởng lớn tới việc hình thành quan niệm về giới
của mỗi thành viên trong gia đình. Do đó, nếu trong gia đình có những định
kiến giới thì những định kiến này sẽ được lặp lại ở các thế hệ tiếp theo. Chính vì
vậy, để đảm bảo sự bình đẳng giới trong xã hội, rất cần thực hiện tốt việc bình
đẳng giới ngay trong mỗi gia đình. Và muốn xoá bỏ, hạn chế bạo lực gia đình thì
phải loại trừ những nguyên nhân gốc rễ gây ra nó - đó chính là quan niệm về bất

Bạo lực gia đình, nguyên nhân của nhiều vụ ly hôn tại Việt Nam, RFA
(2006)
Nghiên cứu bạo lực gia đình ở Việt Nam của TS.Hoàng Bà Thịnh
(Trường Đại học KHXH&NV)
Bạo hành "câm" - Nỗi kinh hoàng trong phòng ngủ. Thống kê của Viện
Xã hội học, Viện KH-XH VN.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Mục đích nghiên cứu
- Học viện thực hiện nghiên cứu này làm đề tài tốt nghiệp thạc sỹ ngành
công tác xã hội.
4


- Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng phụ nữ bị bạo lực gia đình tại
thành phố Yên Bái. Đồng thời đưa ra một số nguyên nhân dẫn đến thực trạng
này.
- Thông qua sự trợ giúp của công tác xã hội những phụ nữ bị bạo lực gia
đình nói chung và phụ nữ bị bạo lực gia đình tại địa phương tôi nói riêng sẽ tự
giải quyết được vấn đề khó khăn, có niềm tin vào khả năng và sức mạnh của bản
thân, xây dựng gia đình hạnh phúc, ổn định cuộc sống.
- Đánh giá hoạt động của công tác xã hội trong việc hỗ trợ phụ nữ bị bạo
lực gia đình tại thành phố Yên Bái. Đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả hoạt động của công tác xã hội.
- Nghiên cứu trường hợp cụ thể về phụ nữ bị bạo lực gia đình và đưa ra
biện pháp hỗ trợ hợp lý trong tiến trình trị liệu cho thân chủ.
3.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận nhằm ứng dụng vào đề tài.
- Nghiên cứu thực trạng công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia
đình tại thành phố Yên Bái.
- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động công tác xã hội

Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con người như mong
muốn có đủ thức ăn, nước uống, được ngủ nghỉ.Những nhu cầu cơ bản này đều
là các nhu cầu không thể thiếu hụt vì nếu con người không được đáp ứng đủ
những nhu cầu này, họ sẽ không tồn tại được nên họ sẽ đấu tranh để có được và
tồn tại trong cuộc sống hàng ngày.
Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao.
Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng,
an tâm, an toàn, vui vẻ, địa vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân.
Các nhu cầu cơ bản thường được ưu tiên chú ý trước so với những nhu
cầu bậc cao này. Với một người bất kỳ, nếu thiếu ăn, thiếu uống họ sẽ không
6


quan tâm đến các nhu cầu về vẻ đẹp, sự tôn trọng.Tuy nhiên, tuỳ theo nhận thức,
kiến thức, hoàn cảnh, thứ bậc các nhu cầu cơ bản có thể đảo lộn. Ví dụ như:
người ta có thể hạn chế ăn, uống, ngủ nghỉ để phục vụ cho các sự nghiệp cao cả
hơn. Ngược lại, theo chủ thuyết cách mạng vô sản, của cải, sở hữu tài sản là nhu
cầu số một bỏ qua các nhu cầu bậc cao khác.
Tháp nhu cầu của Maslow:
Tầng thứ nhất: Các nhu cầu về căn bản nhất thuộc "thể lý" - thức ăn,
nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi.
Tầng thứ hai: Nhu cầu an toàn - cần có cảm giác yên tâm về an toàn thân
thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo.
Tầng thứ ba: Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc- muốn
được trong một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân
hữu tin cậy.
Tầng thứ tư: Nhu cầu được quý trọng, kính mến - cần có cảm giác được
tôn trọng, kinh mến, được tin tưởng.
Tầng thứ năm: Nhu cầu về tự thể hiện bản thân - muốn sáng tạo, được
thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công

nhân, nhóm xã hội trong việc đòi hỏi được đáp ứng các quyền của họ; đồng thời
nhấn mạnh vai trò của bên có trách nhiệm trong việc thực hiện các quyền của cá
nhân, nhóm xã hội một cách công khai, minh bạch mà không có sự phân biệt
đối xử...
Phân tích và đánh giá năng lực của chủ thể quyền và chủ thể có nghĩa vụ
thực hiện quyền. Đối với chủ thể quyền, các năng lực quan trọng nhất gồm:
năng lực nhận thức, năng lực hành vi và năng lực về vị thế xã hội, nếu thiếu một
trong các năng lực trên sẽ là trở ngại để họ thực hiện các quyền của mình. Đối
với chủ thể có nghĩa vụ thực hiện quyền, các năng lực quan trọng nhất gồm:
năng lực nhận thức, năng lực tổ chức, năng lực con người (lãnh đạo, quản lý,
8


công chức, nhân viên), năng lực về tài chính... Phân tích, đánh giá năng lực của
các chủ thể là khâu quan trọng then chốt để xác định năng lực nào mà chủ thể
quyền đang thiếu hụt; năng lực nào mà chủ thể có nghĩa vụ thực hiện quyền
đang thiếu hụt, từ đó xây dựng các chiến lược hành động cụ thể, đề xuất các biện
pháp sửa đổi, bổ sung hoàn thiện sự thiếu hụt đó để hỗ trợ họ hoàn thành tốt
quyền và nghĩa vụ của mình.
Chú ý quan tâm đến nhóm dễ bị tổn thương, đặc biệt nhóm người bị thiệt
thòi nhất và bị loại ra khỏi quá trình phát triển.Mục tiêu của phương pháp tiếp
cận dựa trên quyền là bảo đảm các quyền nhiều hơn cho mọi người.Đó cũng là
yêu cầu của tiến bộ và công bằng xã hội.Vì vậy, lẽ tự nhiên nó phải hướng đến
nhóm người dễ bị tổn thương và bị thiệt thòi nhiều nhất trong đời sống xã hội,
như người nghèo, phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người nhiễm HIV/AIDS. Do
vậy, trách nhiệm của các nhà hoạch định chính sách phải “làm hết sức mình để
đảm bảo các quyền về kinh tế, xã hội, văn hóa cho những người bị thiệt thòi
nhất và đảm bảo sự tham gia của họ trong quá trình ra quyết định"
5.2.


- Phân tích ưu điểm, hạn chế của quá trình thực hiện.
- Phát hiện các vấn đề trong thực tiễn thực hiện và từ đó đưa ra các giải
pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung
chính bao gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận về công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình.
Chương 2: Thực trạng công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình
tại thành phố Yên Bái.
Chương 3: Giải pháp tăng cường công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo
lực gia đình từ thực tiễn tại thành phố Yên Bái.

10


Chương 1
LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH
1.1. Các khái niệm công cụ
1.1.1. Khái niệm gia đình
Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù, một nhóm xã hội nhỏ mà các
thành viên của nó gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống
hoặc quan hệ con nuôi, bởi tính cộng đồng về sinh hoạt, trách nhiệm đạo đức với
nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng của mỗi thành viên cũng như để thực
hiện tính tất yếu của xã hội về tái sản xuất con người.
1.1.2. Bạo lực gia đình
Ở Việt Nam, Luật phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 định nghĩa
“Bạo lực gia đình (BLGĐ) là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại
hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các thành
viên khác trong gia đình”.

Chửi bới, mắng nhiếc, im lặng không nói chuyện trong thời gian dài...
được coi là bạo lực tinh thần.
 Bạo lực xã hội
Bạo lực xã hội là các hành vi ngăn không cho tiếp xúc với gia đình, bạn
bè, bao vây kinh tế nhằm hạn chế các hoạt động mang tính cộng đồng.
Các dạng cơ bản của bạo lực xã hội:
Cô lập/cách ly: Là những hành động tường xuyên chỉ trích, nghi ngờ về
gia đình và bạn bè của người vợ, không tin tưởng vào bạn bè của vợ đến nhà và
thường xuyên đi lại xung quanh làm cho bạn bè của vợ cảm thấy không thoải
mái, không cho phép vợ có bạn riêng và tìm cách cô lập vợ.

12


Kiểm soát chặt chẽ vợ: Người chồng luôn kiểm soát chặt chẽ vợ mình,
mọi thứ vợ làm, nói chuyện với ai, đi đâu, không để cho vợ có cuộc sống riêng
của mình.
Bao vây kinh tế: Người chồng luôn muốn vợ phải phụ thuộc kinh tế vào
mình, tìm mọi cách không cho vợ đi làm, kiểm soát tiền, từ chối những ý kiến,
quyết định của vợ liên quan đến tài chính.
1.3. Đặc điểm phụ nữ bị bạo lực gia đình
1.3.1. Đặc điểm tâm lý
Phụ nữ bị bạo lực gia đình thường có các có các ảnh hưởng tâm lý như lo
lắng, sợ hãi, hoảng loạn, xấu hổ và né tránh. Họ cảm thấy nhân phẩm bị xúc
phạm, có cảm giác bị cô lập, bị bỏ rơi, cảm thấy bị khống chế và kiểm soát, cuộc
sống rất nặng nề, chán nản, căng thẳng, tuyệt vọng, mất ăn, mất ngủ, bị stress,
những nạn nhân trong tình trạng nặng thì có các dấu hiệu ảnh hưởng về tâm thần
như trầm cảm, rối loạn tâm thần, thậm chí có ý định tự tử.
1.3.2. Đặc điểm thể chất
Về thể chất người phụ nữ thường phải chịu những thương tích trên cơ thể

đến các cơ quan và tổ chức có khả năng, đủ thẩm quyền.
1.5. Quan điểm và mục tiêu phòng chống bạo lực gia đình
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến việc thực hiện
bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình. Năm 2006, tại kỳ họp thứ 10,
Quốc hội khoá XI đã chính thức thông qua Luật Bình đẳng giới, có hiệu lực thi
hành từ ngày 01/7/2007, tiếp đến ngày 21/11/2007, tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá
XII đã thông qua Luật Phòng chống bạo lực gia đình có hiệu lực thi hành từ ngày
01/7/2008. Đây là hai bộ Luật thể hiện tính nhân văn sâu sắc của chế độ ta, cụ thể
hoá chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về thực hiện bình đẳng giới, bảo
đảm quyền con người, đề cao vai trò của gia đình đối với xã hội, khẳng định gia
đình là nền tảng của xã hội phát triển bền vững.
1.6. Chính sách, pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình
Năm năm qua, công tác thông tin, tuyên truyền Luật Phòng, chống bạo lực
gia đình được các cơ quan báo chí địa phương, Cổng thông tin điện tử tỉnh, phòng
Văn hóa - Thông tin, Đài Truyền thanh – Truyền hình cấp huyện và hệ thống Đài
14


truyền thanh cơ sở chú trọng triển khai bằng nhiều hình thức và phương thức khác
nhau đã góp phần thay đổi nhận thức, hành vi về bạo lực gia đình, tiến tới xoá bỏ
bạo lực gia đình và tạo sự chuyển biến về nhận thức của các cấp, các ngành, cán bộ,
đảng viên và quần chúng nhân dân trên địa bàn tỉnh Yên Bái.
Với chức năng quản lý nhà nước về báo chí – xuất bản, Sở thông tin và
truyền thông đã thường xuyên hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra, giám sát trên báo chí,
hệ thống phát thanh - truyền hình, Cổng thông tin điện tử tỉnh, các trang thông tin
điện tử, các bản tin, xuất bản phẩm trên địa bàn tỉnh về công tác tuyên truyền, trong
đó có hoạt động phổ biến chính sách, pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình,
bình đẳng giới. Bên cạnh đó, Sở Thông tin và Truyền thông đã định hướng công
tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng tập trung vào các nội
dung: Chỉ thị 49/CT-TW ngày 21/2/2005 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa

thường xuyên hướng dẫn các cơ sở phát hành thực hiện tốt các quy định của Luật
Xuất bản, các quy định của Nhà nước về kinh doanh xuất bản phẩm, đặc biệt là tài
liệu về thực hiện chính sách Dân số - Kế hoạch hóa gia đình (DS-KHHGĐ); Luật
Phòng, chống bạo lực gia đình; bình đẳng giới. Trong 5 năm, Sở Thông tin và
Truyền thông đã cấp phép 15 giấy phép xuất bản tài liệu không kinh doanh có nội
dung tuyên truyền về công tác phòng, chống bạo lực gia đình với tổng số trên
15.000 bản.
Ngoài ra, Sở còn tích cực tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về
phòng, chống bạo lực gia đình trên website Sở Thông tin và Truyền thông; tổ chức
hội nghị tập huấn tuyên truyền DS-KHHGĐ trong đó có nội dung phòng, chống
bạo lực gia đình tại Sở Thông tin và Truyền thông; tuyên truyềnlồng ghép trong các
Hội nghị của cơ quan, các cuộc họp của Chi bộ và các tổ chức Công đoàn, Đoàn
Thanh niên. Từ đó, nhận thức của cán bộ công chức, viên chức trong cơ quan đã có
những chuyển biến rõ rệt. Kết quả, từ năm 2009 đến nay, 100% cán bộ công chức,
viên chức trong cơ quan thực thực hiện nghiêm chỉnh Luật Hôn nhân gia đình, Luật
phòng, chống bạo lực gia đình, bình đẳng giới cũng như chính sách DS-KHHGĐ.
Qua 5 năm triển khai, công tác thông tin, tuyên truyền Luật Phòng, chống
bạo lực gia đình trên các phương tiện thông tin đại chúng tỉnh Yên Bái được chú
trọng triển khai bằng nhiều hình thức và phương thức khác nhau đã góp phần thay
16


đổi nhận thức, hành vi về bạo lực gia đình, tiến tới xoá bỏ bạo lực gia đình và tạo
sự chuyển biến về nhận thức của các cấp, các ngành, cán bộ, đảng viên và quần
chúng nhân dân trên địa bàn tỉnh, góp phần không nhỏ vào giảm thiểu tình trạng
bạo lực gia đình, giảm thiểu các tệ nạn xã hội xâm nhập vào gia đình và phát triển
kinh tế - xã hội tại địa phương.
1.7. Một số mô hình hỗ trợ phụ nữ bị bạo lực gia đình
1.7.1. Mô hình nhóm phòng, chống bạo lực gia đình
Mô hình phòng, chống bạo lực gia đình được thành lập ở cấp thôn, ấp, buôn,

phân công trách nhiệm cho từng thành viên tham gia. Ít nhất 3 tháng 1 lần, Ban chỉ
đạo họp đánh giá kết quả hoạt động và đề xuất phương hướng tiếp theo.
Mục đích hoạt động: Tập hợp các gia đình có nhu cầu tham gia sinh hoạt để
giao lưu, học hỏi, chia sẻ những kiến thức, kỹ năng xây dựng gia đình.
- Câu lạc bộ được thành lập ở cấp thôn. Mỗi thôn có thể có nhiều Câu lạc bộ.
- Số lượng thành viên từ 20 đến không quá 40 gia đình
- Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ: có từ 3 đến 5 thành
- Địa điểm sinh hoạt: linh hoạt tuỳ theo thực tế từng địa bàn triển khai, có thể
tại trụ sở nhà văn hoá xã/phường, nhà sinh hoạt cộng đồng, nhà thành viên Ban chủ
nhiệm hoặc nhà các thành viên Câu lạc bộ...
1.7.2. Mô hình “ Ngôi nhà bình yên”
“Ngôi nhà bình yên” là ý tưởng được mở ra từ tháng 3/2007, nhằm tạo một
nơi trú ẩn an toàn cho những nạn nhân trốn thoát khỏi bọn buôn người. Thông
thường, những đối tượng này khi trở về đến biên giới Việt Nam sẽ được các cơ
quan chức năng đón nhận và đưa về “Ngôi nhà bình yên”.Tại đây, họ được bảo vệ,
chăm sóc sức khoẻ, tâm lý cũng như phục hồi các tổn thương cả thể xác lẫn tâm lý
do bị buôn bán, hành hạ bạo lực. Khi được bình ổn tâm lý sức khoẻ, cán bộ làm
việc tại ngôi nhà này sẽ định hướng giúp họ có những quyết định về kỹ năng nghề
nghiệp, tạo cơ hội cho họ tham gia các lớp học nghề như: nghề phục vụ khách sạn,
nấu ăn, trang điểm.
Tại Ngôi nhà bình yên, những người là nạn nhân bị buôn bán sẽ được hỗ trợ
về nơi ăn, ở, chăm sóc y tế, hỗ trợ tâm lý và pháp lý, đào tạo nghề, hướng dẫn kỹ
năng sống trong tối đa 18 tháng.
18


Đối với các trường hợp là nạn nhân của bạo hành gia đình họ cũng được
hưởng những sự trợ giúp tương tự, từ vài ngày đến vài tuần. Ở đây còn có nhà trẻ
chuyên chăm sóc trẻ 3 - 6 tuổi là nạn nhân. Các cháu được chăm sóc ăn uống và
hưởng chế độ giáo dục toàn diện theo chương trình phù hợp do giáo viên chuyên

- Đại diện cho đối tượng trước các nhà cung cấp dịch vụ.
- Thực hiện các vấn đề của đối tượng liên quan đến các cơ quan và các quan
chức chính phủ.
- Thúc đẩy các cam kết, thúc đẩy sự bình đẳng và công bằng của hệ thống
các cơ quan liên quan đến việc bảo vệ đối tượng.
- Đại diện giải quyết các vấn đề của đối tượng khi liên quan đến các cơ quan
pháp luật và điều tra.
- Thực hiện tất cả các quan tâm khác với tư cách là người đại diện của thân
chủ.
1.8.2. Các nguyên tắc cơ bản trong quá trình thực hành công tác xã hội
Trên cơ sở nền tảng triết lý và giá trị và nguyên tắc nghề nghiệp của công tác
xã hội người ta đưa ra hệ thống các qui tắc ứng xử cho NVXH trong quá trình thực
hiện nhiệm vụ. Những qui tắc ứng xử này đóng vai trò như kim chỉ nam cho hành
động tương tác của NVXH với thân chủ trong quá trình trợ giúp. Sau đây là những
nguyên tắc ứng xử của NVXH trong quá trình tiến hành hoạt động trợ giúp.
 Chấp nhận thân chủ
Khái niệm chấp nhận thân chủ là một khái niệm khá trừu tượng, nhưng có
thể biến thành hành động cụ thể qua việc sử dụng các kỹ thuật. Chấp nhận đòi hỏi
việc tiếp nhận thân chủ, theo nghĩa bóng và nghĩa đen, không tính toán, không
thành kiến và không đưa ra phán quyết nào về hành vi của anh ta. Nguyên tắc chấp
nhận thân chủ dựa trên nến tảng của giả định triết học mỗi cá nhân đều có giá trị
bẩm sinh, bất kể địa vị xã hội hay hành vi của anh ta. Thân chủ được chú ý và nhìn
nhận là một con người dù anh ta có thể phạm tội. Thân chủ phục vụ của ngànhcông
tác xã hội là con người, đặc biệt là nhóm người yếu thế, nhóm người có hoàn cảnh
và nhu cầu cơ bản chưa được đáp ứng. Mỗi con người, dù là bình thường hay bất
bình thường họ đều có nhân phẩm, có giá trị riêng và có quyền được tôn trọng, bình
đẳng. Chính vì vậy trong các hoạt động trợ giúp, NVXH cần có thái độ tôn trọng
20



Mỗi cá nhân có quyền quyết định về các vấn đề thuộc về cuộc đời, những quyết
định của người khác hướng dẫn họ nhưng không nên áp đặt trên họ. Trong các tình
huống, NVXH không nên quyết định, chọn lựa hay lên kế hoạch cho thân chủ,
ngược lại thân chủ có thể được hướng dẫn và họ có khả năng tự quyết định về
mình.
21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status