VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG THỊ THUÝ
CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI PHỤ NỮ
BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH TỪ THỰC TIỄN XÃ HỒNG
MINH, HUYỆN PHÚ XUYÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số :
60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. HÀ THỊ THƯ
HÀ NỘI, 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài luận văn: “Công tác xã hội cá nhân đối với
phụ nữ bị bạo lực gia đình từ thực tiễn xã Hồng Minh, huyện Phú
Xuyên, thành phố Hà Nội” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi dưới
sự hướng dẫn khoa học của TS. Hà Thị Thư và những kết quả nghiên cứu
trong luận văn này là hoàn toàn trung thực.
Hà Nội, ngày
đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình .................................................................... 58
Chương 3: ỨNG DỤNG PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ
NHÂN VÀ BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XÃ HỘI
CÁ NHÂN ĐỐI VỚI PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH TỪ THỰC TIỄN
XÃ HỒNG MINH, HUYỆN PHÚ XUÂN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI........... 63
3.1. Ứng dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân....................................... 63
3.2. Đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo
lực gia đình ........................................................................................................ 71
KẾT LUẬN ...................................................................................................... 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BLGĐ
Bạo lực gia đình
CTXH
Công tác xã hội
NVCTXH
Nhân viên công tác xã hội
PCBLGĐ
Phòng chống bạo lực gia đình
4
Biểu 2.4: Phản ứng của phụ nữ trước hành vi BLGĐ
45
5
Biểu 2.5 : Sự tham gia can thiệp của NVCTXH
46
6
Biểu 2.6 : Mức độ can thiệp của nhân viên CTXH
47
7
Biểu 2.7 : Các hình thức tham vấn của NVXH
53
8
Biểu 2.8 : Các dịch vụ liên quan đến kinh tế và vốn tín dụng
57
50
5
Bảng 2.5 : Kết nối nguồn lực hỗ trợ phụ nữ bị BLGĐ
52
6
Bảng 2.6: Giáo dục các kỹ năng cho phụ nữ bị BLGĐ
54
7
Bảng 2.7 : Dịch vụ hỗ trợ pháp lý
56
8
Bảng 2.8: Dịch vụ hỗ trợ việc làm
57
9
Bảng 3.1 : Đánh giá nhu cầu của chị Nguyễn Thị B
Bạo lực gia đình đã trở thành một vấn đề nóng được bàn luận sôi nổi trên các diễn
đàn. Nó không còn là một vấn đề mới mẻ nhưng vẫn luôn rất thời sự bởi những biến
tướng và hậu quả do nó gây ra cho xã hội với nhiều mức độ khác nhau, ảnh hưởng
trực tiếp đến nhân cách, danh dự, nhân phẩm và quá trình phát triển của mỗi cá
nhân, gián tiếp tạo nên mầm mống các tệ nạn và tội phạm nguy hiểm khác cho xã
hội. Chưa bao giờ những thông tin về Bạo lực gia đình trên các phương tiện thông
tin đại chúng lại bùng nổ cả về quy mô và mức độ như những năm gần đây. Thực tế
đó đã khiến cho Bạo lực gia đình luôn là đề tài có sức hút mạnh mẽ đối với các nhà
hoạch định chính sách, các nhà hoạt động xã hội, các nhà nghiên cứu .
1
Công tác xã hội đối với nạn nhân bị Bạo lực gia đình nói chung và phụ nữ bị
BLGĐ nói riêng là vấn đề còn khá mới mẻ ở Việt Nam. Đa phần các nghiên cứu
chủ yếu tập trung vào hoạt động tham vấn cho phụ nữ về mặt tâm lý sau khi họ bị
Bạo lực gia đình, trong khi đó việc nghiên cứu một cách toàn diện các hỗ trợ của
Công tác xã hội cá nhân đối với phụ nữ bị Bạo lực gia đình nhìn chung còn khiêm
tốn, thậm chí là chưa có.
Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Công tác xã hội cá nhân đối với phụ nữ
bị bạo lực gia đình từ thực tiễn xã Hồng Minh,huyện Phú Xuyên, thành phố Hà
Nội” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trong những năm gần đây bạo lực gia đình đã trở thành một vấn đề nóng thu
hút được nhiều sự quan tâm của toàn xã hội. Không chỉ riêng giới chuyên môn mà
các nhà truyền thông, báo chí cũng đã tốn không ít giấy mực khi bàn đến vấn đề này.
Nhiều công trình nghiên cứu, các cuộc hội thảo chuyên ngành đã được diễn ra ở cả
trong nước và quốc tế. Mỗi công trình nghiên cứu lại đưa đến những cách tiếp cận khác
nhau khi bàn về vấn đề BLGĐ, đóng góp vào cái nhìn chung cho lĩnh vực này.
Trong số các nghiên cứu của nước ngoài, phải kể đến đóng góp của nhà nữ
thiếu sự xử phạt, thiếu sự đánh giá hay các cách tiếp cận toàn diện [2, tr. 33].
2.2. Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam
Ở Việt Nam, cũng có rất nhiều những đóng góp của nhiều tác giả nghiên cứu
trong lĩnh vực này. Chuyên gia nghiên cứu về Giới và Gia đình – GS.TS Lê Thị
Quý là người đã có nhiều công trình nghiên cứu về BLGĐ. Có thể kể đến như bài
viết “Bạo lực gia đình ở Việt Nam” đăng trên tạp chí Khoa học và Phụ nữ . Trong
bài viết, tác giả đã chỉ ra năm nguyên nhân chính của nạn BLGĐ là: nguyên nhân
kinh tế, nguyên nhân nhận thức, nguyên nhân văn hóa – xã hội, nguyên nhân sức
khỏe, nguyên nhân từ phía những người phụ nữ, và một nguyên nhân sâu xa nhất là
sự bất bình đẳng trong quan hệ giới [17, tr. 45].
Công trình nghiên cứu “Bạo lực trên cơ sở giới” (1999) của TS Vũ Mạnh
Lợi, Vũ Tuấn Huy, Nguyễn Hữu Minh – thuộc Viện nghiên cứu Gia đình và Giới
tiến hành ở ba thành phố: Hà Nội, Huế, TP HCM. Trong nghiên cứu các tác giả đã đi
sâu tìm hiểu về thái độ của cộng đồng và các thiết chế xã hội về bạo lực trên cơ sở giới,
tìm hiểu phản ứng của các cá nhân, luật pháp và các thiết chế đối với nạn BLGĐ.
3
Trong nghiên cứu các tác giả cũng cho thấy tình trạng bạo lực gia đình đang có chiều
hướng gia tăng tại ba thành phố trong địa bàn nghiên cứu, đặc biệt là trong những gia
đình mà người phụ nữ đang thực hiện và khẳng định vai trò kinh tế hộ [8, tr. 65].
Năm 2001, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tiến hành thực hiện đề tài:“Bạo
lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam” tại ba tỉnh: Thái Bình, Lạng Sơn và Tiền
Giang. Đề tài tiến hành tìm hiểu nhận thức, thái độ của người dân và các cán bộ thi
hành pháp luật của các tổ chức đoàn thể xã hội tại địa phương. Đề tài cũng đã chỉ ra
được những nguyên nhân và hậu quả của nạn BLGĐ đối với phụ nữ và phản ứng
của nạn nhân trước những hành vi bạo lực [23, tr. 55].
Nhóm tác giả Nguyễn Hữu Minh, Lê Ngọc Lân, Nguyễn Thị Mai Hoa, Trần
Thị Cẩm Nhung thuộc Viện Gia đình và Giới cùng nghiên cứu “Bạo lực của chồng
đối với vợ ở Việt Nam trong những năm gần đây” (2006) đã đưa ra nhận định: chủ
giả đã đưa ra những dấu hiệu nhận biết, các biện pháp hỗ trợ nạn nhân một cách tức
thời cũng như về lâu dài [22, tr. 63].
Như vậy, có thể thấy theo dòng lịch sử vấn đề về BLGĐ và Phòng chống
BLGĐ đã và đang thu hút được rất nhiều sự quan tâm nghiên cứu của các học giả.
Song có lẽ, cho đến nay, BLGĐ vẫn đang là một vấn đề nóng được xã hội quan tâm
bởi những biến đổi ngày càng phức tạp của nó đang diễn ra trong thực tiễn đời sống
hàng ngày. Còn rất nhiều những công trình nghiên cứu với quy mô khác nhau về
vấn đề BLGĐ đã được các tác giả thực hiện với mong muốn sẽ góp phần đưa đến
một cái nhìn đa sắc cạnh về vấn đề BLGĐ tại các địa phương trên cả nước. Các
nghiên cứu đã phần nào phản ánh được thực trạng, nguyên nhân, hậu quả của
BLGĐ cũng như đã đưa ra được các kết luận, khuyến nghị có ý nghĩa cho công tác
phòng chống BLGĐ ở VN.
Tại Học viện Khoa học xã hội Việt Nam cũng đã có một số công trình nghiên
cứu về hoạt động công tác xã hội đối với nạn nhân bị bao lực gia đình. Luận văn
thạc sỹ của Nguyễn Thị Mai Phương với đề tài “Công tác xã hội đối với phụ nữ bị
bạo lực gia đình từ thực tiễn xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái” đã Nghiên cứu
lý luận và thực trạng công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình tại xã Y Can
trên địa bàn huyện Trấn Yên, ứng dụng hoạt động công tác xã hội nhóm nhằm trợ giúp
đối tượng là phụ nữ bị bạo lực gia đình tại xã Y Can, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.
Luận văn thạc sỹ của Nguyễn Thị Phương Thảo với đề tài “ Công tác xã hội
đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình từ thực tiễn Thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng
5
Bình” đã tìm hiểu thực trạng các hoạt động trợ giúp phụ nữ bị bạo lực gia đình như
tuyên truyền phổ biến pháp luật, hoạt động hòa giải cấp cơ sở, hoạt động bảo vệ phụ
nữ bị bạo lực gia đình và chỉ ra những hạn chế của các hoạt động trợ giúp ấy .
Những tài liệu đã được công bố nói trên luôn là những tài liệu tham khảo quan
trọng trong việc nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn :”Công tác xã hội cá nhân đối
với phụ nữ bị bạo lực gia đình từ thực tiễn thực tiễn xã Hồng Minh,huyện Phú Xuyên
các dịch vụ công tác xã hội.
- Phạm vi về khách thể: Đề tài nghiên cứu trên 2 nhóm khách thể chính đó là:
+ Phụ nữ bị bạo lực: 35 người
+ Cán bộ làm việc với phụ nữ bị bạo lực: 15 người
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,
trong đó:
- Phương pháp luận duy vật biện chứng: Đề tài xem xét hoạt động CTXH đối
với nạn nhân bị bạo lực gia đình trong mối quan hệ với các yếu tố môi trường và hệ
thống xung quanh, đặt vấn đề trong một tổng thể. Những vấn đề liên quan đến nạn
nhân bị BLGĐ và các phương pháp thực hiện CTXH chuyên nghiệp được phân tích
theo các tương quan để đưa ra một kết luận khách quan, toàn diện.
- Phương pháp luận duy vật lịch sử: Đối tượng nghiên cứu được đánh giá,
phân tích theo một trục thời gian, mang tính lịch sử rõ nét. Qua đó, các vấn đề và
yếu tố liên quan trong đề tài nghiên cứu có sự so sánh, đối chiếu theo các thời kỳ
lịch sử, đảm bảo tính xác thực và toàn vẹn trong trình bày kết quả nghiên cứu.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu phân tích tài liệu
Là phương pháp thu thập thông tin từ các công trình nghiên cứu và các tài
liệu có sẵn của các tác giả trong và ngoài nước. Phương pháp này được áp dụng
phân tích các tài liệu như: Báo cáo về tình hình văn hóa, kinh tế, xã hội của xã Hồng
Minh, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội, mẫu thu thập thông tin có sẵn của
huyện và xã cùng với các báo cáo chuyên ngành của Công an, Tư pháp, Văn hóa
Thông tin, các văn bản quy định, hương ước thực hiện xây dựng nông thôn mới…
* Phương pháp quan sát
7
8
Đề tài thể hiện được vai trò của công tác xã hội cá nhân trong việc trợ giúp
nạn nhân bị bạo lực gia đình đặc biệt là phụ nữ, từ đó mọi người nhận rõ được tầm
quan trọng của nhân viên công tác xã hội hiện nay.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài xây dựng nhằm nghiên cứu thực trạng hoạt động công tác xã hội cá nhân
với phụ nữ bị bạo lực gia đình, phát hiện các vấn đề trong thực trạng nhằm đưa ra các
giải pháp, kiến nghị cho vấn đề bạo lực gia đình tại xã Hồng Minh, huyện Phú
Xuyên, thành phố Hà Nội.
7. Cơ cấu của luận văn
Cơ cấu của luận văn, ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn được chia làm ba
chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về công tác xã hội cá nhân đối với phụ nữ bị
bạo lực gia đình.
Chương 2: Thực trạng công tác xã hội cá nhân đối với phụ nữ bị bạo lực gia
đình từ thực tiễn xã Hồng Minh, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội.
Chương 3: Ứng dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân đối với phụ nữ bị
bạo lực gia đình và đề xuất một số biện pháp hỗ trợ phụ nữ là nạn nhân của bạo lực
gia đình.
9
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN
ĐỐI VỚI PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH
1.1. Đặc điểm về phụ nữ bị bạo lực gia đình
1.1.1. Một số khái niệm
viên trong gia đình làm tổn thương tới nhân phẩm, sức khỏe, tâm thần, tính mạng
11
của một hay nhiều thành viên khác. Bạo lực gia đình xảy ra giữa những người có
quan hệ đặc biệt (vợ chồng, con dâu, con rể) hoặc ruột thịt (ông bà, cha mẹ, con
cháu, anh chị em, họ hàng) có thể trong cùng một mái nhà hoặc mái nhà khác. [19,
tr.43,44]
- Bạo lực tinh thần
Là những lời nói, thái độ, hành vi ngược đãi hoặc sỉ nhục của một hoặc nhiều
thành viên trong gia đình làm tổn thương tới nhân phẩm, sức khỏe, tâm thần của một
hay nhiều thành viên khác. Bạo lực tinh thần cũng còn là sự áp đặt, chỉ đạo hoặc xâm
phạm tới nguyện vọng, ý thích, thị hiếu riêng của mỗi người.[19, tr.44]
- Bạo lực tình dục
Là những hành vi cưỡng ép hoặc dùng bạo lực để thỏa mãn tình dục của một
người hoặc một nhóm người đối với một người hoặc một nhóm người khác. Hành
vi này có thể diễn ra một lần hoặc lặp đi lặp lại nhiều lần và diễn ra cả trong quan hệ
vợ chồng hoặc bạn tình. Bạo lực tình dục còn bao hàm cả việc cưỡng ép vợ sinh
nhiều con hoặc đẻ con trai.Bạo lực tình dục là một dạng đặc biệt trong quan hệ giới
tại gia đình. Nó vừa có thể diễn ra kín đáo, âm thầm vừa có thể diễn ra công khai
nhưng nhìn chung cả đạo đức và pháp luật đều khó có thể can thiệp.[19, tr.44]
- Bạo lực kinh tế
Là việc dùng sức mạnh để đe dọa, áp đặt hoặc lừa mị nhằm bóc lột lao động,
chiếm giữ và kiểm soát tài chính của một hoặc một nhóm người với một hoặc một
nhóm người khác trong gia đình. Dạng bạo lực này đưa đến sự phân công lao động và
hưởng thụ bất hợp lý giữa các thành viên trong gia đình.
* Khái niệm phụ nữ bị bạo lực gia đình
Trong rất nhiều cuộc nghiên cứu về BLGĐ đều chỉ ra rằng bạo lực xảy ra chủ yếu
với người già, phụ nữ và trẻ em, những người yếu thế trong gia đình.
Hiện nay chúng ta chưa có những nghiên cứu quy mô và chuyên biệt về “BLGĐ
hạn chế về nhận thức về quyền con người, luật pháp, về bình đẳng giới, những quna
niệm giáo dục theo tư tưởng phong kiến…tất cả khiến cho chuyện BLGĐ trở thành
điều mà một bộ phận lớn người dân cho là điều bình thường . Bà Cao Thị Hồng
Vân, Trưởng ban Xã hội và Gia đình, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam nói: “Nguyên
nhân sâu xa nhất dẫn đến bạo lực là tư tưởng trọng nam khinh nữ, gia trưởng
phong kiến vẫn đang tồn tại phổ biến trong các tầng lớp nhân dân”. (Nguồn:
vietbao.com )
Trong một số nghiên cứu gần đây, người ta cũng chỉ ra rằng, Việt Nam chịu
ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng “trọng nam kinh nữ” của Nho giáo. Trong tư tưởng nay,
vai trò, sự tồn tại của người nam giới được đề cao đồng thời hạ thấp vai trò của
người phụ nữ. Chính những tư tưởng này đã tạo nên thói gia trưởng độc đoán cho
13
những người đàn ông trong gia đình và là một trong những nguyên nhân gây lên
BLGĐ. Không khó để bắt gặp những câu nói, “dạy con từ thủa còn thơ, dậy vợ từ
thủa bơ vơ mới về” hay “thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi”. Phương
pháp giáo dục gia đình này vô tình chung đã bao che cho những hành động trái với
đạo lý, trái với pháp luật của những ông chồng gia trưởng.
Sự thiếu hiểu biết này không chỉ xảy ra với các ông chồng và ngay cả những
người phụ nữ trong gia đình. Người phụ nữ thường thiếu tự tin, tự nhận trách nhiệm
về mình, không dám tham gia vào các quyết định trong gia đình, tự hạ thấp những
giá trị của bản thân, càng gây nên tính ích kỷ của những ông chồng. Những nghiên
cứu chỉ ra rằng, nhiều người vợ cảm thấy mình bị đánh là đúng, do mình không
chăm sóc chồng chu đáo, do mình không sinh được con trai…và việc có bị mắng
nhiếc, bị đánh hàng ngày cũng là do “cái số mình nó khổ” mà không nghĩ rằng mình
đang là nạn nhân của BLGĐ.
*Yếu tố kinh tế
Kinh tế khó khăn là một trong những nguyên nhân của BLGĐ. “Đói nghèo gây
ra bạo lực”. Điều này đúng. Đói nghèo không phải trực tiếp sinh ra bạo lực nhưng là
không phù hợp hay thiếu tế nhị trong giao tiếp khi gia đình xảy ra mâu
thuẫn…Cũng có nhiều trường hợp người chồng đánh vợ khi người vợ không đảm
bảo thiên chức của mình khi họ hoàn toàn có khả năng, hay những trường hợp do
người vợ ngoại tình, ăn chơi không phù hợp với điều kiện kinh tế, truyền thống gia
đình chồng cũng là những nguyên nhân khiến cho người chồng có những hành vi
bạo lực với người phụ nữ.
Bên cạnh đó còn phải đề cập tới những yếu tố về mặt luật pháp và thái độ của
cộng đồng với BLGĐ. Khi pháp luật và xã hội còn chưa nhận thức đúng đắn và đầy
đủ về vấn đề này thì người chồng vẫn cho đó là việc làm không phạm pháp, người
dân xung quanh vẫn coi đó là chuyện nội bộ của mỗi gia đình, nên không có ai can
thiệp cùng với việc thiếu những dịch vụ hỗ trợ nạn nhân nên người phụ nữ vẫn hàng
ngày cam chịu những hành vi bạo hành từ người chồng của mình.
1.1.2.2 Hậu quả của Bạo lực gia đình
Với tính chất nghiêm trọng, BLGĐ gây nên những hậu quả nặng nề và mức độ
ảnh hưởng của nó là rất lớn, nó không chỉ với nạn nhân bị bạo lực mà còn với
những thành viên khác trong gia đình, cộng đồng xung quanh và toàn xã hội.
* Hậu quả của Bạo lực gia đình với người phụ nữ
Với những phụ nữ bị BLGĐ, họ phải chịu những tổn thương nghiêm trọng và
toàn diện về mọi mặt: thể chất, tinh thần, kinh tế…mà hậu quả cao nhất là họ có thể
bị giết bởi chính người chồng hay các thành viên trong gia đình mình. Khi người
phụ nữ bị bạo hành, sức khỏe của họ bị giảm sút, tinh thần hoảng loạn, thất vọng
15
chán nản. Bên cạnh những tổn thương trên thân thể còn có thể nhận thấy những hậu
quả về mặt tâm lý như: hoảng loạn, chán nản, thất vọng, xấu hổ, mất tự chủ…
Với hình thức bạo lực tinh thần, dù khó có thể nhận thấy nhưng không thể phủ
nhận những hậu quả tiêu cực sâu sắc ảnh hưởng tới người phụ nữ. Những lời mắng
chửi, xúc phạm nặng nề kiến cho người vợ cảm thấy phẫn uất, tình trạng này kéo
dài khiến nhiều người đã tìm tới cái chết. Với những nạn nhân thường xuyên bị cô
cho người phụ nữ những sự tổn thương.
*BLGĐ ảnh hưởng tiêu cực tới những thành viên khác trong gia đình.
Trước hết, BLGĐ là nguyên nhân chủ yếu của sự tan vỡ gia đình. Theo thống
kê, từ 01/01/2006 đến 31/12/2008 các toà án địa phương trong cả nước đã thụ lý,
giải quyết sơ thẩm cho 352.047 vụ việc thuộc lĩnh vực hôn nhân gia đình, trong đó
có 39.730 vụ ly hôn do BLGĐ, chiếm 51,3% tổng số vụ ly hôn. (Nguồn: Báo Pháp
luật-đời sống, số tháng 5/2009)
BLGĐ gây nên bầu không khí căng thẳng và nguy hiểm cho tất cả thành viên
trong gia đình, làm ảnh hưởng tới chất lượng cuộc sống, sức khoẻ thể chất và tinh
thần cũng như sự an toàn cho họ. Dù không là nạn nhân trực tiếp nhưng BLGĐ gây
nên những ảnh hưởng tiêu cực tới những thành viên khác trong gia đình. Thể hiện
rõ nhất là với người cao tuổi, trẻ em-những người yếu thế trong gia đình.
Với trẻ em, những chủ nhân tương lai của gia đình, của xã hội, BLGĐ gây ra
cho các em những ảnh hưởng rõ nét và lâu dài. Trẻ em sống trong gia đình có bạo
lực thường không được chăm sóc đầy đủ về cả thể chất và tinh thần. Sự phát triển
nhận thức, nhân cách không bằng những trẻ sống trong môi trường gia đình bình
thường và được giáo dục đầy đủ. Báo cáo của cuộc điều tra về gia đình Việt Nam
do Bộ Văn Hoá Thể thao và Du lịch kết hợp với UNICEF năm 2008. Có 85% trẻ
khi được hỏi đều cảm thấy buồn, lo lắng khi phải sống trong môi trường bạo lực,
20% trẻ cảm thấy sợ hãi, 5,5% trẻ muốn bỏ nhà đi, 8,5% xa lánh cha mẹ và 4,2%
không còn kính trọng cha mẹ nữa. (Nguồn: Thông tin về bạo lực giới, chuyên san số
1-CSAGA/CMRC-năm 2009-sđd trang 34). Rất nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, trẻ
em nam thường có xu hướng lặp lại hành vi bạo lực của bố khi lớn lên và khi lập
gia đình, còn trẻ em nữ thường nhút nhát hơn so với trẻ em khác do thường xuyên
chứng kiến cảnh mẹ bị đánh đập.
Như vậy, hậu quả của BLGĐ với phụ nữ không chỉ là chuyện giữa hai vợ
chồng, giữa bố và mẹ mà nó ảnh hưởng gián tiếp tới những thành viên khác trong
gia đình.
*Bạo lực gia đình và những hậu quả với xã hội
chỉ sợ cho bản thân mà còn luôn lo sợ cho tính mạng của con mình.Nạn nhân bị
BLGĐ thường hạ thấp giá trị của mình, cảm thấy như mình có tội lỗi và xấu hổ
trước những người khác.Có những nạn nhân BLGĐ bị tổn thương tâm lý trầm trọng
tới mức họ có những rối loạn tâm lý như trầm uất, hoang tưởng.Họ sẽ trở nên phụ
thuộc nhiều hơn vào người có hành vi BLGĐ và từ đó khiến họ ngày một thụ động,
18
không dám đưa ra ý kiến, đề xuất hay quyết định trong gia đình họ, thậm chí là
không dám nói điều này ra với ai, kể cả những người thân của mình.
Bởi vậy nên việc họ chịu tiếp xúc và cởi mở chia sẻ vấn đề là rất khó. Muốn
trợ giúp các nạn nhân bị bạo hành thì chính bản thân họ phải mong muốn và có nhu
cầu được trợ giúp.
*Đặc điểm thể chất
Những hành vi BLGĐ như đánh đập, ném, sử dụng hung khí để hành hạ khiến
nạn nhân BLGĐ có thể bị giảm khả năng về ăn, ngủ, nghỉ. Bị tổn thương thực thể từ
nhẹ như bầm tím, xây xước, chảy máu. Tới nặng hơn như bị thương tật làm giảm
hoặc mất khả năng lao động thậm chí là tử vong.
Phụ nữ bị ép buộc tình dục còn bị ảnh hưởng tới sức khỏe sinh sản như mang
thai ngoài ý muốn, bị các bệnh hay biến chứng sản khó, bệnh lây nhiễm qua đường
tình dục.
Do có những đặc điểm về thể chất, tâm lý như vậy nên việc tiếp cận, thu thập
thông tin của đối tượng rất khó. Điều này cũng gây ảnh hưởng đến kết quả của quá
trình trợ giúp đối tượng.Nếu đối tượng có nghị lực, hay mạnh dạn thì việc hỗ trợ sẽ
dễ dàng hơn.Nhưng nếu đối tượng ỷ lại, phụ thuộc và thiếu ý chí thì buộc sức làm
việc của NVCTXH phải tăng lên và cũng gây khó khăn cho việc trợ giúp.Tuy nhiên
với nguyên tắc là luôn chấp nhận thân chủ nên dù có gặp trở ngại hay khó khăn
trong việc tiếp cận cũng như trợ giúp thì NVCTXH vẫn luôn phải cố gắng để có thể
hoàn thành nhiệm vụ của mình.Đặc điểm của đối tượng là một yếu tố quan trọng
quyết định đến hoạt động CTXH, sự tích cực của đối tượng sẽ khiến quá trình trợ
đáp ứng, cái nhu cầu kế tiếp tiếp là nhu cầu tình cảm, tình yêu và được nhìn nhận
xuất hiện. Maslow nói rằng con người luôn tìm cách vượt qua cảm giác cô đơn và
xa lánh. Điều này liên quan đến cả tình cảm cho và nhận tình yêu, và ý thức thuộc
về lẫn nhau. Phụ nữ bị BLGĐ là đối tượng chịu nhiều tổn thương về thể chất và tinh
thần, bởi hơn ai hết, họ bị chính những người họ yêu thương bạo hành. Nhân viên
20