Tìm hiểu về quản lý và sử dụng các khoản đóng góp của người dân trong tài chính công tại xã duyên thái huyện thường tín thành phố hà nội - Pdf 37

PHẦN 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đất nước ta bước vào quá trình đổi mới kể từ đại hội Đảng VI năm
1986, làm cho mọi mặt đời sống kinh tế xã hội được cải thiện đáng kể, tạo
cho đất nước ta một diện mạo mới trong mắt bạn bè quốc tế. Trong những
năm tới đây, phát triển kinh tế vẫn là quan điểm chủ đạo của Đảng dựa trên
nội lực là chính. Chúng ta đang đẩy mạnh cải cách, phát triển tài chính nhằm
tạo dựng nền tài chính quốc gia vững mạnh, cơ chế tài chính phù hợp với thể
chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Mặt khác, Đảng cũng chủ trương
phát triển toàn diện giữa nông thôn và thành thị, đồng bằng và miền núi, thu
hẹp tối đa khoảng cách giàu nghèo. Với phương châm quan tâm nhiều hơn
nữa đến hoạt động sản xuất nông nghiệp, phát triển nông thôn theo hướng
CNH - HĐH nhằm nâng cao đời sống người nông dân. So với trước đây, đời
sống của người dân được cải thiện rất nhiều, tuy nhiên nếu so sánh với thành
thị thì nông thôn vẫn còn một khoảng cách. Có một nghịch lý thấy rõ rằng
phát triển cơ sở hạ tầng ở thành phố thì người dân không phải đóng góp
nhưng ngược lại ở nông thôn xây dựng cơ sở hạ tầng thì người dân phải tham
gia đóng góp. Vì vậy, giá cả dịch vụ ở nông thôn thường cao hơn nhiều so với
thành thị. Tính bình quân một hạt thóc nông dân làm ra đã phải "gánh" hàng
chục các khoản phí, lệ phí, tiền đóng góp.
Chính sách huy động sức dân dưới hình thức Nhà nước và nhân dân
cùng làm hiện nay đã đạt được những thành tựu đáng kể trong phát triển nông
thôn, bên cạnh mặt tích cực một số địa phương còn nôn nóng, huy động quá
mức so với thu nhập của nhân dân vô tình tạo thành gánh nặng cho người dân
trong điều kiện thu nhập còn thấp, đời sống khó khăn. Nhiều khoản đóng góp
của dân còn chưa được công khai, sử dụng các khoản đóng góp của dân ở một

1





- Đề xuất những định hướng giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả
quản lý và sử dụng các khoản đóng góp của người dân trong tài chính công
của xã.
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu là công tác quản lý và sử dụng các khoản
đóng góp của người dân xã Duyên Thái huyện Thường Tín thành phố Hà Nội.
1.4 Phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Về không gian
Đề tài điều tra khảo sát trên địa bàn xã Duyên Thái huyện Thường Tín
thành phố Hà Nội.
1.4.2Về nội dung
Đề tài nghiên cứu các khoản đóng góp của người dân và tình hình huy
động quản lý, sử dụng các khoản đóng góp đó.
1.4.3 Về thời gian
Đề tài được tiến hành nghiên cứu, phân tích và đánh giá từ tháng
01/2010 đến tháng 5/2010 với số liệu nghiên cứu tập trung trong 3 năm
(2007-2008-2009).

3


PHẦN 2
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ
VÀ SỬ DỤNG CÁC KHOẢN ĐÓNG GÓP CỦA DÂN TRONG
TÀI CHÍNH CÔNG CẤP CƠ SỞ

2.1 Các khoản đóng góp của dân trong tài chính công cấp cơ sở:
2.1.1 Tài chính công cấp cơ sở:

chính của xã. Tài chính công ở cấp cơ sở chính là ngân sách xã của địa phương.
Để đảm bảo nguồn lực vật chất này cung cấp cho toàn bộ các hoạt động kinh
tế, xã hội, an ninh quốc phòng và đời sống của mọi người được đảm bảo.
Tài chính công cấp cơ sở phải khai thác triệt để các nguồn thu tại cơ sở
theo luật định. Đảm bảo thu đúng, thu đủ, kịp thời đáp ứng nhu cầu chi tiêu
cho các công việc thuộc chức năng nhiệm vụ theo quy định của luật Ngân
sách Nhà nước như: Chi lương, sinh hoạt phí cho các công chức, các khoản
chi tiêu quản lý hành chính hay mua sắm trang thiết bị cho văn phòng mới
được thực hiện. Do vậy không có các khoản chi này của Ngân sách xã thì bộ
máy chính quyền Nhà nước cơ sở không tồn tại và phát triển được.
Thứ hai: Tài chính công cấp cơ sở là công cụ quan trọng để chính
quyền quản lý toàn diện các hoạt động kinh tế, văn hóa xã hội tại địa
phương.
Với tư cách là chính quyền cấp cơ sở gắn liền với đời sống nhân dân và
thực hiện quản lý trực tiếp đối với nhân dân. Do vậy chức năng và nhiệm vụ
của ngân sách xã phải thực hiện là luôn đảm bảo quyền và lợi ích của nhân
dân trên địa bàn. Trực tiếp liên hệ và giải quyết các công việc của dân trên
mọi phương diện theo chính sách chế độ của Nhà nước đặt ra…. Nhằm đáp
ứng các nhu cầu, nguyện vọng của nhân dân. Để giải quyết được các vấn đề
trên hiệu quả chính quyền xã phải có những công cụ đặc biệt thực hiện yêu
cầu này mà ngân sách xã là một trong các công cụ đó. Thông qua hoạt động
thu vào tài chính công cấp cơ sở mà các nguồn thu được tạo lập tập trung vào
quỹ ngân sách xã, đồng thời giúp chính quyền cơ sở thực hiện việc kiểm tra,
5


kiểm soát, điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và các hoạt
động khác được pháp luật cho phép. Việc kiểm soát thông qua tài chính công
cấp cơ sở được thể hiện qua việc phân loại các ngành nghề kinh doanh, các
chủng loại hàng hóa…mà qua đó chống các hoạt động kinh tế phi pháp, trốn

Tài chính công cấp cơ sở bao gồm hai nội dung cơ bản đó là ngân sách
xã, phường, thị trấn và các hoạt động tài chính khác của xã, phường, thị trấn.
Thứ nhất: Là Ngân sách xã, phường, thị trấn. Đây là một loại quỹ tiền
tệ của cơ quan chính quyền nhà nước cấp xã. Hoạt động của quỹ này này thể
hiện trên hai phương diện: huy động nguồn thu vào quỹ (thu ngân sách) và
phân phối, sử dụng các khoản vốn quỹ đó. Ngân sách cấp xã cung cấp các
phương diện vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của bộ máy nhà nước ở cơ
sở và ngân sách cấp xã chính là một công cụ đặc biệt quan trọng để chính
quyền phường, thị trấn thực hiện quản lý toàn diện các hoạt động kinh tế, xã
hội địa phương.
Thức hai: Là các hoạt động tài chính khác của xã, phường, thị trấn
theo quy định của pháp luật bao gồm:
Các quỹ công chuyên dùng của xã, phường, thị trấn.
Tài chính các hoạt động sự nghiệp của xã, phường, thị trấn.
Các hoạt động tài chính khác theo quy định của pháp luật.
2.1.2 Các khoản đóng góp của dân trong tài chính công cấp cơ sở:
Khoản đóng góp: là những khoản được trích từ thu nhập của hộ (vật
chất, tiền và công lao động) được hộ tự nguyện hoặc bắt buộc đóng cho các tổ
chức, đơn vị mà hộ có quan hệ.
Hộ gia đình đóng góp bằng tiền đối với các quỹ phát động từ các tổ
chức đoàn thể như quỹ tình nghĩa, quỹ vì người nghèo, quỹ bảo trợ trẻ, quỹ
khuyến học… Hộ đóng góp bằng ngày công lao động và vật liệu xây dựng để
xây dựng nhà văn hóa thôn bản, xây dựng kênh mương, bê tông đường giao
thông nông thôn…
Nếu phân theo tính chất bắt buộc và tự nguyện, các khoản đóng góp
được phân chia thành hai loại sau:
Khoản đóng góp mang tính chất bắt buộc: là những khoản mà hộ nông
7





xem xét những khoản nào hợp lý, những khoản nào cần loại bỏ cho phù hợp
với đời sống của người dân hiện nay.
Nông nghiệp, nông thôn, nông dân là một vấn đế rất lớn đã được nêu
trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 10. Hiện nay, cán bộ ngành chức năng
đang hoàn thiện phương án miễn giảm các khoản đóng góp bất hợp lý để trình
chính phủ. Cần khẳng định rằng, thực hiện khoan sức dân là hợp lý, những
cách thức tiến hành như thế nào phải được nghiên cứu kỹ và làm một cách
khoa học, phù hợp với xu hướng đất nước ta đang thực hiện.
Trong những năm gần đây Đảng và Nhà nước đã ra một số quy định về
huy động các khoản đóng góp của dân và chính sách quản lý và sử dụng các
khoản đóng góp, nội dung một số Quy định, Thông tư như sau:
Nghị định số 24/NĐ-CP ngày 16/04/1999 của Chính phủ về việc ban
hành quy chế tổ chức huy động, quản lý và sử dụng các khoản đóng góp tự
nguyện của nhân dân để xây dựng cơ sở hạ tầng của các xã, thị trấn và Thông
tư số 85/1999/TT-BTC ngày 7/7/1999 của bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện
quy chế.
Thông tư số 29/1999/TT-BTC ngày 19 tháng 03 năm 1999 về việc
hướng dẫn thực hiện công khai tài chính đối với các quỹ có nguồn thu từ
khoản đóng góp của nhân dân.
Thông tư số 118/1000/TT-BTC ngày 22/12/200 của Bộ Tài chính quản
lý ngân sách phường xã và hoạt động tài chính khác ở phường xã, thị trấn.
Thông tư số 41/2001/TT-BTC ngày 12/6/2001 của Bộ Tài chính về việc
hướng dẫn việc miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp theo Nghị định
05/2001/NQ-CP ngày 07/7/2003 của Chính phủ, việc quyết định chủ trương
đầu tư, mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi công
cộng (điện, đường, trường học, trạm y tế, nghĩa trang, các công trình văn hóa,
thể thao…) do nhân dân ở xã, thôn bản và quy định trực tiếp.
Thông tư 19/2005/TT-BTC ngày 11/3/2006 sửa đổi, bổ sung một số

hoạch tổ chức, điều hành và kiểm soát hoạt động thu, chi của Nhà nước
nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước một
cách hiệu quả nhất.
10


Quy trình tổ chức quản lý và sử dụng các khoản đóng góp của dân trong
tài chính công cấp xã. Nơi nào có phát sinh các quỹ từ nguồn thu đóng góp của
dân thì Chủ tích UBND cấp xã sẽ phải tiến hành thực hiện công việc sau:
Thứ nhất: Mọi quyết định đóng góp phải do dân và vì dân, tất cả mọi
việc đều do dân quyết định – Hội đồng nhân dân cấp xã tiến hành tổ chức lấy
ý kiến của đại đa số nhân dân về nội dung đóng góp, mục đích và lợi ích đóng
góp của nhân dân.
Thứ hai: Việc quản lý và sử dụng phải thực hiện chặt chẽ và tuân theo
trình tự sau:
+ Huy động nguồn vốn dưới hình thức nào, số lượng bao nhiêu, thời
gian huy động.
+ Việc thu tiền dân phải có biên lại.
+ Phải mở sổ kế toàn đúng theo quy định, chế độ kế toàn, thống kê Nhà nước.
+Thực hiện thanh toán qua tài khoản kho bạc Nhà nước cấp huyện.
+ Phản ánh cân đối thu – chi qua tài chính cấp xã.
+ Quyết toán đầy đủ rõ ràng.
+ Thực hiện công khai tài chính trước dân.
2.2.2 Yêu cầu về công tác quản lý và sử dụng các khoản đóng góp của dân
trong tài chính công cấp xã:
Công tác quản lý và sử dụng các nguồn thu trong tài chính công cần
phải đáp ứng những yêu cầu sau:
Bảo toàn nguồn vốn, quỹ của tài chính cấp xã: Phát huy tính chủ động
của địa phương trong việc tự cân đối ngân sách, chống lại tư tưởng ỷ lại,
trông chờ vào nguồn bổ sung từ cấp trên điều tiết xuống. Tổ chức động viên

phát triển kinh tế của xã hội cũng như của người dân sẽ có tác động rất lớn
đến việc thực hiện nghĩa vụ đóng góp của người dân … Trong những năm
gân đây Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách hợp lòng dân như
cho rà soát lại toàn bộ các khoản dân phải đóng góp ở tất cả các đại phương
trong cả nước, ra chính sách xóa bỏ nhiều khoản đóng góp bất hợp lý (CV
6189/BTC-NSNN ngày 4/2009 của Bộ Tài chính về việc tăng cường chỉ đạo,
kiểm tra, rà soát việc huy động đón góp của nhân dân)…
12


Lãnh đạo chính quyền cấp cơ sở: Khi lãnh đạo chính quyền cấp cơ sở
được nhận thức là người đại diện và hoạt động vì lợi ích Nhà nước và cộng
đồng thì người dân sẽ tích cực tham gia đóng góp cho chính quyền nhằm làm
thay đổi bộ mặt nông thôn. Một chính quyền không đại diện cho quyền lợi
chung sẽ giảm sự hợp tác và tăng sự chống đối đóng góp của người dân. Mặt
khác, sự đại diện của một cấp lãnh đạo còn được người dân nhận thức ở sự
công tâm, trong sạch, không tham những, vụ lợi; quản lý – công khai minh
bạch các nguồn lực tài chính tại địa phương.
Công tác tuyên truyền: Đây là công tác quan trọng nhằm giúp người
dân hiểu hơn về chính sách, quan điểm của Đảng và Nhà nước, đây trở thành
công cụ nâng cao tính tự giác của người dân. Do vậy, muốn thực hiện tốt công
tác tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước thì công tác
này phải được đổi mới và tăng cường cả về nội dung và hình thức.
Quan điểm và lợi ích của người dân: Nếu các khoản đóng góp mà người dân
được hưởng lợi nhiều thì họ sẽ sẵn sàng đóng góp cho địa phương. Ngược lại
nếu người dân thấy các khoản đóng góp mặc dù ít nhưng không hiệu quả hoặc
có nhưng không đáng kể người dân sẽ không tuân thủ đóng góp cho chính
quyền địa phương dẫn đến nợ đọng tăng lên. Vì vậy, công tác quản lý và sử
dụng như thế nào? Để người dân thấy được lợi ích được hưởng từ việc đóng
góp thì họ sẽ thực hiện đóng góp tự nguyện làm cho công tác thu nộp và quản

xét mức tỷ lệ đóng góp so với tổng thu nhập của người dân là bao nhiêu?
Thứ hai: Nghiên cứu về công tác quản lý các khoản đóng góp của dân
trong tài chính công cấp cơ sở.
Tìm hiểu quy trình quản lý tài chính công tại cấp xã được thực hiện như
thế nào và nguyên tắc quản lý? Từ đó thấy được thực trạng quản lý các khoản
đóng góp của dân trên địa bàn xã Duyên Thái huyện Thường Tín thành phố
Hà Nội như thế nào? Có thực hiện đúng quy trình quản lý.
Thứ ba: Nghiên cứu về công tác sử dụng các khoản đóng góp của dân
trong tài chính công.
Từ thực trạng công tác quản lý, tìm hiểu nguyên tắc sử dụng các khoản
đóng góp như thế nào? Việc sử dụng có hiệu quả không? Từ đó thấy được
14


mức độ người dân được hưởng lợi từ việc đóng góp của họ?
2.4 Thực tiễn quản lý và sử dụng các khoản đóng góp của dân trong tài
chính công cấp cơ sở ở Trung Quốc và ở nước ta:
2.4.1 Thực tiễn tại Trung Quốc:
Để có những chính sách phù hợp với công tác quản lý và sử dụng các
khoản đóng góp của dân trong tài chính công cấp cơ sở ở nước ta, với kinh
nghiệm học tập ở nước bạn láng giềng có nhiều nét tương đồng với ta.
Về cơ chế quản lý:
Trung Quốc hiện đang thực hiện chế độ quản lý tài chính cấp xã trực
tiếp từ cấp huyện (việc quản lý tài chính cấp xã chỉ mang tính chất đại diện,
không trực tiếp tiến hành hoạch toán và phê chuẩn). Mục tiêu của việc quản lý
này là nhằm tránh những sai phạm trong việc thu chi sai chế độ và thu chi
không đúng mục đích của các cấp quản lý tài chính cấp xã. Hiện các huyện
thực hiện phân cấp quản lý rõ ràng theo cơ chế chuyên môn, tức cơ quan quản
lý tài chính cấp huyện sẽ phân thành các quầy chuyên môn: quầy quản lý các
khoản thu, quầy thu – chi bù trừ, quầy quản lý ngân sách giáo dục, quầy quản

thiết thực ở địa bàn dân cư. Tuy nhiên, trong thực tế việc thực hiện các quy
định về phí, lệ phí và huy động các khoản đóng góp của nhân dân vẫn còn
những tồn tại, hạn chế cần khắc phục. Chỉ thị số 24/2007/CT-TTg ngày 01
tháng 11 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường chấn chỉnh
việc thực hiện các quy định của pháp luật về phí, lệ phí, chính sách huy động
đóng góp mang tính chất xã hội, từ thiện, phải thực hiện theo đúng nguyên tắc
tự nguyện, hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp không được ra văn
bản bắt buộc đóng góp, không được giao chỉ tiêu huy động cho cấp dưới,
không việc huy động đóng góp với việc cung cấp các dịch vụ công mà người
dân được hưởng.
Theo đánh giá của Ủy ban Tài chính – ngân sách Quốc hội, một số địa
phương nông nóng, huy động đóng góp quá mức so với thu nhập của người
dân vô hình tạo gánh nặng cho người dân trong điều kiện thu nhập còn thấp,
đời sống khó khăn. Mức huy động đóng góp của người dân còn được thực
hiện tùy tiện tại nhiều nơi, gây ra bất hợp lý giữa các vùng. Những vùng kinh
16


tế khó khăn thì mức đóng góp có xu hướng cao hơn vùng thuận lợi.
Theo báo cáo của 46 tỉnh, thành phố, kết quả điều tra ở 135 xã và 117
hợp tác xã nông nghiệp cho thấy số lượng và mức thu của các khoản đóng
góp từ hộ nông dân rất khác nhau giữa các địa phương, các vùng. Bình quân 1
hộ có khoảng 30 khoản với mức đóng góp từ 250.000 đồng đến 800.000
đồng/năm. Trong đó, có trên 20 khoản phải đóng góp do xã và các tổ chức
thu, với mức thu từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng/hộ/năm và khoảng 10
khoản chi dịch vụ do hợp tác xã thu, với mức thu từ 200.000 đồng đến
400.000 đồng/hộ/năm.
Nếu thống kê theo báo cáo của địa phương về các khoản thu chính thức
là loại trừ mức tăng đột xuất của một số khoản thu (so với đa số các địa phương
trong vùng) thì số lượng các khoản thu và mức thu của các vùng như sau:

để đảm bảo các hoạt động của tổ chức đó như: Quỹ Hội Nông dân, Hội Phụ
nữ… với mức thu không lớn, bình quân mỗi thành viên nộp khoảng 7.000
đồng/năm.
Các khoản đóng góp mang tính chất xã hội như Quỹ chăm sóc người
cao tuổi, Quỹ xóa đói giảm nghèo hoặc Quỹ vì người nghèo, Quỹ bảo trợ trẻ
em, Quỹ khuyến học… với mức đóng góp bình quân 1 hộ khoảng 5.000 đến
10.000 đồng/năm.
Các khoản đóng góp do xã thu:
Các khoản do xã thu chủ yếu là thực hiện theo nhiệm vụ được cấp trên
giao: nghĩa vụ lao động công ích, Quỹ an ninh – quốc phòng, Quỹ phòng
chống bão lụt, xây dựng trường học, xây dựng giao thông nông thôn… Hiện
nay quỹ An ninh – quốc phòng được miễn thu theo Chỉ thị số 24/2007/CTTTg ngày 01 tháng 11 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ.
Mức thu: Các khoản thu cố định được thực hiện theo các văn bản quy
định của Nhà nước như nghĩa vụ lao động công ích, Quỹ an ninh – quốc
phòng, Quỹ phòng chống bão lụt… Các khoản thu để xây dựng cơ sở hạ tầng
phụ thuộc vào mục đích sử dụng. Trong trường hợp để đầu tư mới, các khoản
thu thường lớn. Trường hợp để sửa chữa thường xuyên các hạng mục cơ sở hạ
tầng thì khoản thu không nhiều những ổn định trong thời gian dài.
Hình thức thu:
Các khoản đóng góp do các tổ chức thu chủ yếu theo đối tượng là các
18


thành viên của tổ chức đó như nông dân, Phụ nữ… Các khoản đóng góp mang
tính chất xã hội như Quỹ chăm sóc người cao tuổi, Quỹ xóa đói giảm nghèo
hoặc Quỹ vì người nghèo, Quỹ bảo trợ trẻ em, Quỹ khuyến học… chủ yếu thu
theo hộ.
Các khoản đóng góp do xã thu chủ yếu theo hộ, trừ những khoản đóng
góp được quy định cụ thể đối tượng thu: lao động công ích thu theo lao động
trong độ tuổi quy định của Pháp lệnh nghĩa vụ lao động công ích, các hội thu

không đúng thẩm quyền, hoặc thu cả những khoản cấp có thẩm quyền đã bãi
bỏ. Ngoài ra, các thôn hiện tại đang thực thu 11 khoản đóng góp với tổng số
thu 19 tỷ 34 triệu đồng. Tỉnh chỉ đạo UBND các xã, phường, thị trấn bãi bỏ
ngay các khoản đóng góp của nhân dân không đúng quy định, dừng ngay việc
huy động đóng góp các loại quỹ đã được bãi bỏ, miễn giảm như quỹ lao động
công ích, quỹ phòng, chống bão lụt, quỹ dân nuôi, quỹ kiến thiết xã hội, quỹ
tu bổ trường lớp, quỹ an ninh tự quản, quỹ đắp đất dự trữ, quỹ văn hóa xã hội,
quỹ quản trang, quỹ chỉ đạo sản xuất, quỹ phòng bệnh gia súc, tiêm phòng thú
y, quỹ dịch vụ bảo nông, quỹ bảo vệ đồn điền, hỗ trợ lương giáo viên mầm
non… Chỉ có ngành tài chính là đơn vị tham mưu cho cấp có thẩm quyền ban
hành các khoản thu, quản lý nguồn thu. Yêu cầu các địa phương thực hiện
nghiêm nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trong quản lý,
sử dụng các khoản thu đóng góp của nhân dân.
Trong khi những cơ chế, chính sách của Nhà nước đang hướng tới việc
miễn, giảm những khoản phí, đóng góp nhằm giảm gánh nặng cho người dân,
thì tại xã Xuân Lộc, huyện Triệu Sơn (Thanh Hóa), người dân thường xuyên
phải oằn mình với các khoản đóng góp trái với quy định của Nhà nước, khiến
nhân dân bất bình.
Qua điều tra, chúng tôi được biết, hiện nay UBND xã Xuân Lộc đang
thu các khoản đóng góp của dân trái với quy định của Nhà nước gồm: phí an
ninh quốc phòng (1,6kg thóc/hộ/năm); đóng góp hỗ trợ các tổ chức đoàn thể
(10kg thóc/khẩu/năm); đóng góp làm đường giao thông nông thôn được
UBND xã này thu với phương thức rất “không giống ai” là 5kg thóc/tạ/năm
(mỗi sào ruộng được tính là 3 tạ/vụ); tiền xây dựng cơ sở hạ tầng là 80.000
đồng/hộ/vụ tức là 160.000 đồng/hộ/năm).3
Tại Thành phố Đà Nẵng:
20


“Hiện thành phố Đà Nẵng chỉ còn duy nhất một quỹ đóng góp từ nhân

Xã Duyên Thái, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội có diện tích tự
nhiên là 388,43 ha, phía Tây, Bắc tiếp giáp với hai xã Đông Mỹ; xã Liên Ninh
của huyện Thanh Trì; phía Đông, Nam tiếp giáp với ba xã Ninh Sở; Văn
Bình; Nhị Khê của huyện Thường Tín; xã cách trung tâm huyện 5 km và cách
trung tâm thành phố 17km.
3.1.1.2 Địa hình đất đai:
Xã Duyên Thái huyện Thường Tín thành phố Hà Nội thuộc đồng bằng
châu thổ sông Hồng. Vùng đất có cấu tạo địa chất tương đối đơn giản do lớp
thổ nhưỡng được hình thành bởi lượng phù sa sông Hồng bồi đắp.
3.1.1.3 Khí hậu thời tiết:
Duyên Thái là xã đồng bằng với khí hậu đặc thù vùng nhiệt đới quanh
năm bốn mùa xuân, hạ, thu, đông.
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội
3.1.2.1 Tình hình sử dụng đất đai:

22


Bảng 3.1 Tình hình biến động đất đai của xã qua 3 năm 2007- 2009
ĐVT: ha
Chỉ tiêu
Diện tích đất tự nhiên
1. Diện tích đất nông nghiệp
1.1 Đất trồng cây hàng năm
1.2 Đất trồng cây lâu năm
1.3 Diện tích NTTS
2 Đất chuyên dung
2.1Đất cụm công nghiệp
2.2Đất điểm công nghiệp làng nghề
2.3Đất ở

So sánh (%)
BQ (%)
08/07
09/08
388,43
100,00
100,00
100,00
209,5
100,99
103,20
102,09
145
100,00
100,00
100,00
25
100,00
100,00
100,00
39,5
106,45
119,69
113,07
169,46
104,57
105,91
105,24
18,7
104,65

quyền địa phương nói riêng.
Diện tích đất nông nghiệp của xã 209,5ha chiếm 53,94%; diện tích đất
chuyên dùng 169,46ha chiếm 43,63% (Trong đó: đất cụm công nghiệp 18,7
ha chiếm 4,8%, đất điểm công nghiệp làng nghề 12,5ha chiếm 3,2%); đất
chưa sử dụng 9,47ha chiếm 2,44%.
3.1.2.2 Tình tình dân số và lao động:
Hiện xã có 2535 hộ với 9840 nhân khẩu làm ăn sinh sống trên địa bàn
(số liệu điều tra dân số và nhà ở năm 2009); 99,8% là người thuộc dân tộc
kinh có đời sống tinh thần tín ngưỡng hướng đạo phật; lực lượng lao động
trong độ tuổi của xã chiếm 53,6% với 5269 lao động (trong đó lao động
chuyên về nông nghiệp chiếm 17% với 896 lao động; lao động kết hợp nông,
công, tiểu thủ công nghiệp ngành nghề, thương mại, dịch vụ chiếm 65% với
3424 lao động; lao động chuyên về công nghiệp, thủ công nghiệp, xây dựng
chiếm 18% với 949 lao động).

24


Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động của xã qua 3 năm 2007 – 2009
Chỉ tiêu
I. Tổng số nhân khẩu
II. Tổng số hộ
1.Theo ngành nghề
1.1 Hộ nông nghiệp
1.2 Hộ nghề thủ công nghiệp
1.2 Hộ kiêm
III. Tổng số lao động
1. LĐ nông nghiệp
2. LĐ CN, thủ CN, XD
2. LĐ kiêm

5056
883
921
3252

448
375
1700
5269
896
949
3424

So sánh (%)
08/07
09/08
BQ
101,6
103,17
102,38
109,12 101,93
105,52
99,31
109,96
111,79
116,90
101,96
101,09
109,16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status