VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN HOÀNG KHANH
CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ EM
BỊ XÂM HẠI TÌNH DỤC TỪ THỰC TIỄN HUYỆN CHỢ MỚI
TỈNH AN GIANG
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã ngành: 60 90 01 01
UẬN V N THẠC S C NG TÁC XÃ HỘI
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS ĐỖ HẠNH NGA
HÀ NỘI - 2016
ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các
số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo đọ tin cậy, chính xác và trung
thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ
công trình khoa học nào khác.
Tác giả luận văn
ỜI CẢM ƠN
Xin chân thành cám ơn Ban chủ nhiệm khoa Công tác xã hôi – Học viện
2.4. Công tác xã hội cá nhân với trẻ em bị xâm hại tình dục ................................48
2.5. Đánh giá mức độ tiếp cận và kết quả hỗ trợ xã hội cho đối tượng ................58
Chƣơng 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP CHO VIỆC ĐƢA C NG TÁC XÃ HỘI
VÀO CAN THIỆP HỖ TRỢ TRẺ BỊ XÂM HẠI TÌNH DỤC ............................. 64
3.1. Biện pháp cho đẩy mạnh cung cấp dịch vụ xã hội trong phòng ngừa, can
thiệp, trị liệu cho trẻ bị xâm hại tình dục ..............................................................64
3.2. Các biện pháp can thiệp hỗ tợ trẻ em bị xâm hại tình dục .............................66
DANH MỤC TÀI IỆU THAM KHẢO .................................................................... 72
PHỤ ỤC
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
CTXH
Công tác xã hội
NVCTXH
Nhân viên công tác xã hội
LĐTBXH
Lao động Thương binh Xã hội
BVCSGDTE
Bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em
BHYT
trong mười nhóm trẻ đó. Theo các kết quả nghiên cứu gần đây, trẻ em bị xâm hại
tình dục ngày càng có chiều hướng gia tăng và có dấu hiệu trẻ hóa độ tuổi và ngày
càng phức tạp(theo báo cáo của tổng kết chương trình bảo vệ trẻ em của Bộ
LĐTBXH 2015). Khi một đứa trẻ chẳng may trở thành nạn nhân của nạn xâm hại
tình dục thì đứa trẻ đó gặp rất nhiều khó khăn để vượt qua “tai nạn” xảy ra với
mình. Trong khi đó, phần lớn trẻ em bị xâm hại tình dục đều thiếu những kiến thức
kỹ năng cơ bản cho việc giải quyết vấn đề của bản thân. Những hạn chế này khiến
cho trẻ em bị xâm hại tình dục thường bị tổn thương tâm lý rất nặng, các em thường
rơi vào trạng thái trầm cảm, chán nản, hoang mang, lo sợ và có nhiều em đã tìm đến
cái chết để tự giải quyết vấn đề của mình. Đây là một trong những vấn đề cấp thiết
cần có sự quan tâm của các cấp chính quyền, các ban ngành làm công tác bảo vệ
chăm sóc và giáo dục trẻ em.
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới về Sức khỏe và Bạo lực năm 2002, có
khoảng 20% phụ nữ và 5% nam giới đã từng bị xâm hại tình dục trong thời thơ ấu.
1
Báo cáo của Bộ Lao động Thương binh Xã hội Việt Nam cho biết có hơn 1,5 triệu
trẻ em (dưới 16 tuổi) có hoàn cảnh đặc biệt năm 2015, chiếm 9% tổng số trẻ em cả
nước và trong đó có 900 trẻ em bị xâm hại tình dục.
Các hành vi xâm hại, bạo hành và bóc lột đối với trẻ em là những vấn đề xã
hội cơ bản gây ra những tác động rất lớn, có ảnh hưởng đến đời sống và sự ổn định
lâu dài của xã hội. Tuy nhiên, trên thực tế những vụ xâm hại tình dục thường không
bị tố cáo, số vụ xâm hại tình dục trẻ em xảy ra trên thực tế nhiều hơn số vụ được
báo cáo, nguyên nhân của tình trạng này là do người bị hại không muốn hoặc không
dám tiết lộ, do đó vẫn còn nhiều thủ phạm xâm hại tình dục trẻ em không bị xét xử
.Ở tỉnh An Giang, trong những năm qua tình hình xâm hại tình dục trẻ em là vấn đề
rất đáng lo ngại do số vụ xâm hại tình dục trẻ em ngày càng gia tăng. Theo kết quả
báo cáo tình hình trẻ em bị xâm hại của Sở Lao động Thương binh – Xã hội tỉnh An
việc giáo dục trẻ em những kỹ năng trong cuộc sống của gia đình còn nhiều hạn
chế. Phần lớn các vụ xâm hại tình dục trẻ em xảy ra trên địa bàn trong thời gian qua
là do gia đình thiếu sự quan tâm đến trẻ em, không đảm bảo môi trường an toàn cho
cuộc sống của trẻ, sự thiếu cảnh giác của gia đình đối với những đối tượng có thể
gây ra xâm hại tình dục với trẻ. Để giải quyết tình trạng xâm hại tình dục trẻ em gái,
trước hết phải trang bị cho các em kỹ năng biết tự bảo vệ bản thân trước nguy cơ bị
xâm hại, đây là việc làm hết sức cần thiết tránh để những vụ án xâm hại tình dục trẻ
em đáng tiếc xảy ra. Do đó, việc thực hiện đề tài “Công tác xã hội cá nhân đối với
trẻ em bị xâm hại tình dục từ thực tiễn huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang” là hết sức
cần thiết nhằm đánh giá được thực trạng và đề ra các giải pháp nhằm giảm bớt tình
trạng trẻ em bị xâm hại tình dục.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trẻ em là một trong những nhóm đối tượng nhận được sự quan tâm đặc biệt của
Luật pháp trong việc bảo đảm cho các em có được quyền sống, được học tập và được
phát triển. Có rất nhiều nghiên cứu của các nhà các nhà khoa học trong và ngoài nước
đề cập đến những vấn đề của trẻ em. Trong phạm vi đề tài nghiên cứu của mình, tác
giả lựa chọn và phân tích một số công trình nghiên cứu, các đánh giá, bài viết tiêu
biểu có liên quan dưới đây:
Thứ nhất, công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến trẻ em nói chung:
3
“Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em” do Cục Bảo vệ, chăm sóc trẻ em Bộ
LĐTB&XH thực hiện năm 2015. Với mục tiêu đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận
động các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể thực hiện tốt công tác bảo vệ, chăm
sóc và giáo dục trẻ em, từng bước hạn chế tình trạng trẻ em rơi vào hoàn cảnh đặc
biệt và trẻ em bị xâm hại, bị bạo lực, tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ em có cơ hội
phát triển một cách toàn diện cả về thể chất, nhân cách và trí tuệ.
“Báo cáo Phân tích tình hình trẻ em ở Việt Nam” do UNICEF thực hiện năm
em là do liên quan đến văn hóa truyền thống “Văn hóa Việt Nam vẫn còn e dè khi
nhắc đến những cụm từ liên quan đến “tình dục” hay “xâm hại tình dục”…nên việc
dạy con cách thức phòng tránh lạm dụng tình dục vẫn chưa được chú trọng hoặc
còn lúng túng trong các gia đình việt. Một nét văn hóa nữa liên quan đến xâm hại
tình dục trẻ em đó là sự tổn hại đến “danh dự gia đình”. Khi trẻ bị xâm hại tình dục,
nhiều gia đình đã phải làm ngơ vì lo ngại dư luận ảnh hưởng đến danh dự của gia
đình. Đây là một hạn chế khiến cho các cơ quan chức năng khó khăn trong việc thu
thập số liệu, bỏ sót tội phạm hay công tác điều tra của cơ quan đại diện pháp luật”.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng công tác xã hội đối với trẻ em bị
xâm hại tình dục. Đề tài đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác
bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em thông qua phương pháp của công tác xã hội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số lý luận về:công tác xã hội cá nhân, công tác xã hội với
trẻ em, trẻ em bị xâm hại tình dục và công tác xã hội với trẻ em bị xâm hại tình dục.
- Đánh giá thực trạng trẻ em bị xâm hại tình dục trên địa bàn huyện Chợ Mới,
tỉnh An Giang.
- Đề xuất một số biện pháp nhằm hạn chế tình trạng trẻ em bị xâm hại tình
dục trên địa bàn huyện và nhân rộng cho toàn tỉnh An Giang.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
- Vai trò của gia đình và cộng đồng trong việc phòng, chống xâm hại tình dục
trẻ em trên địa bàn huyện Chợ Mới tỉnh An Giang.
- Công tác xã hội đối cá nhân với trẻ em bị xâm hại tình dục từ thực tiễn huyện
Chợ Mới tỉnh An Giang.
5
6
+ Hộ gia đình nông dân(cha mẹ trẻ lao động trong lĩnh vực nông nghiệp):50hộ
+ Hộ gia đình kinh doanh (cha mẹ trẻ lao động trong lĩnh vực thương mại,
dịch vụ): 50 hộ
Căn cứ trên danh sách hộ gia đình có con gái trong độ tuổi từ 5 tuổi đến dưới
16 tuổi do địa phương cung cấp, chúng tôi sẽ tiến hành phương pháp bốc thăm ngẫu
nhiên các hộ gia đình để thực hiện điều tra bằng phiếu hỏi.
- Trẻ em: đối tượng được chọn thực hiện phiếu điều tra là trẻ em gái trong độ
tuổi từ 5 tuổi đến 16 tuổi với số lượng 100 trẻ em được chia đều cho 3 địa bàn tiến
hành nghiên cứu (Phụ lục 2).
Địa bàn nghiên cứu:
+ Thị trấn Chợ Mới: đại diện cho vùng thành thị
+ Xã Long Điền B: đại diện cho vùng nông thôn phát triển
+ Xã Hội An: đại diện cho vùng nông thôn kém phát triển
5.1.2. Phương pháp thu thập thông tin định tính: Thực hiện phỏng vấn sâu
các đối tượng:
- Trẻ em gái bị xâm hại tình dục (09 trẻ em – Phụ lục 3)
- Gia đình có trẻ em gái bị xâm hại tình dục (09 gia đình trẻ - Phụ lục 4)
- Cán bộ quản lí địa phương (4 cán bộ - Phụ lục 5)
5.2. Phƣơng pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu, thu thập, xử lý, khái quát hóa những thông tin, những nghiên cứu
thuộc các vấn đề liên quan đến đề tài của các tác giả trong và ngoài nước có liên
quan đến hoạt động can thiệp, hỗ trợ cho trẻ em bị xâm hại tình dục từ các ban
ngành liên quan, cũng như làm sáng tỏ các thuật ngữ có liên quan đến đề tài. Từ đó
phân tích, tổng hợp nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu: Công tác
xã hội đối với trẻ em bị xâm hại tình dục.
5.3. Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
- Để tìm hiểu thực trạng các dịch vụ can thiệp, hỗ trợ cho trẻ em bị xâm hại
hòa nhập đối với trẻ em bị xâm hại tình dục là điều rất quan trọng, cũng như nhìn
nhận vai trò của các dịch vụ công tác xã hội trong hỗ trợ, can thiệp cũng như điều trị
đối với trẻ em bị xâm hại tình dục.
8
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu cung cấp những thông tin và giải pháp đưa công tác xã hội
vào can thiệp hỗ trợ tái hòa nhập cho trẻ em bị xâm hại tình dục tại gia đình và cộng
đồng. Trên cơ sở đó có thể được các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham khảo trong việc
hoàn thiện chính sách, xây dựng những mô hình nhân rộng về phòng ngừa tình trạng
trẻ em bị xâm hại tình dục. Từ đó, các đối tượng liên quan trong đề tài có được những
trợ giúp như:
6.2.1. Đối với trẻ em bị xâm hại tình dục
Giúp trẻ em bị xâm hại tình dục có thể thay đổi những hành vi, tâm lý hiện tại.
Từ đó trẻ sớm vượt qua những biến cố và có thể hòa nhập với cộng đồng đang sống
để phát triển tốt hơn.
6.2.2. Đối với phụ huynh gia đình có trẻ em bị xâm hại tình dục
Giúp cho các bậc phụ huynh có cái nhìn đúng hơn về tình trạng hiện tại của
trẻ, nhìn nhận trẻ em bị xâm hại tình dục không phải là lỗi của trẻ. Giúp cho cha mẹ
có thêm những biện pháp trong kết hợp phục hồi cho trẻ.
6.2.3. Đối với ban ngành làm công tác bảo vệ chăm sóc trẻ em
Góp phần tìm thêm những giải pháp nâng cao chất lượng cung cấp các dịch vụ
can thiệp hỗ trợ cho trẻ em trên địa bàn huyện và toàn tỉnh.
6.2.4. Đối với học viên nghiên cứu
Giúp học viên có cái nhìn tổng quan về nhu cầu can thiệp hỗ trợ của trẻ em bị
xâm hại tình dục và khả năng đáp ứng các nhu cầu đó của người làm CTXH. Quá
trình nghiên cứu là cơ hội để học viên có thể áp dụng những kiến thức đã học vào
thực tế, phát huy được những khả năng, sự sáng tạo của mình, từ đó làm phong phú
Có quan niệm cho rằng, công tác xã hội là một dạng trợ giúp giống như việc đưa ra
bàn tay giúp đỡ cho những người nghèo, cá nhân, gia đình có khó khăn về kinh tế,
về tình cảm, về quan hệ xã hội trong các cơ sở xã hội, y tế hay giáo dục, công tác xã
hội giúp cộng đồng tiếp cận với các dịch vụ để đảm bảo nhu cầu và đảm bảo an sinh
xã hội (A.Skidmore, 1997)
Tại Đại Hội Liên Đoàn công tác xã hội chuyên nghiệp quốc tế ở Canada năm
2004, công tác xã hội được khẳng định là một hoạt động chuyên nghiệp nhằm tạo ra
sự thay đổi, phát triển của xã hội bằng sự tham gia vào quá trình giải quyết các vấn
đề xã hội (vấn đề nảy sinh trong mối quan hệ xã hội), vào quá trình tăng cường
năng lực và giải phóng tiềm năng của cá nhân, gia đình và cộng đồng, công tác xã
hội giúp cho con người phát triển hài hòa và đem lại cuộc sống tốt đẹp cho mọi
người dân.
Hội đồng Đào tạo công tác xã hội Mỹ định nghĩa: công tác xã hội là một nghề
nhằm tăng cường các chức năng xã hội của cá nhân, hay nhóm người bằng những
hoạt động tập trung vào can thiệp mối quan hệ xã hội để thiết lập sự tương tác giữa
con người và môi trường có hiệu quả. Hoạt động này bao gồm ba nhóm: phục hồi
năng lực đã bị hạn chế, cung cấp nguồn lực cá nhân và xã hội, và phòng ngừa sự
suy giảm chức năng xã hội [15, tr.39].
11
Công tác xã hội ở Việt Nam được các tác giả xem xét từ những khía cạnh khác
nhau:
Tác giả Nguyễn Thị Oanh cho rằng, công tác xã hội là hoạt động thực tiễn,
mang tính tổng hợp được thực hiện và chi phối bởi các nguyên tắc, phương pháp hỗ
trợ cá nhân, nhóm và cộng đồng giải quyết vấn đề. Công tác xã hội theo đuổi mục
tiêu vì phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội. Theo quan điểm của Bà,
công tác xã hội là hoạt động thực tiễn bởi nhân viên xã hội luôn làm việc trực tiếp
với các đối tượng, với nhóm người cụ thể. Tuy nhiên Bà cho rằng, công tác xã hội
hiện nay, đó là phương pháp CTXH với cá nhân.
CTXH cá nhân trước hết được khẳng định như một phương pháp chuyên
nghiệp, mà các nhân viên xã hội sử dụng để hỗ trợ cá nhân vượt qua khó khăn trong
việc thực hiện các chức năng xã hội của họ. Với phương pháp này nhân viên xã hội
can thiệp giải quyết vấn đề của cá nhân trong mối quan hệ tương tác với môi trường
xã hội của cá nhân đó. Gia đình cũng được coi như một trường hợp (một case) với
các mối quan hệ đặc thù giữa các cá nhân trong gia đình đó, vì thế đã được xếp vào
phương pháp CTXH cá nhân. Như vậy “cá nhân” có thể được hiểu rộng hơn là một
case hay một trường hợp cụ thể, cần sự quan tâm sâu sắc. Vì thế, trong phương
pháp này, nhân viên xã hội có điều kiện nhấn mạnh vào nguyên tắc cá thể hóa sự
giúp đỡ đối với thân chủ là một cá nhân hay đối với trường hợp là cả gia đình.
Mối quan hệ một – một được nhắc đến như là một chìa khóa quan trọng trong
phương pháp CTXH cá nhân, quyết định vai trò và ciệc lựa chọn các kỹ năng tác
nghiệp của người nhân viên xã hội. Với mối quan hệ một - một, nhân viên xã hội là
người tương tác trực tiếp với chủ nhân, để tìm hiểu sâu sắc vấn đề và hoàn cảnh của
một cá nhân đó. Khi tác nghiệp, thân chủ cùng với các mối quan hệ xã hội của thân
chủ là mối quan tâm hàng đầu của nhân viên xã hội. Như vậy vai trò của người
nhân viên xã hội trong phương pháp CTXH cá nhân là người tạo điều kiện, giúp cá
nhân đánh giá, xác định vấn đề, tìm kiếm tài năng, điểm mạnh tiến đến nâng cao
năng lực tự giải quyết vấn đề của bản thân. Bên cạnh đó, nhân viên xã hội khi tương
tác trong mối quan hệ một – một với cá nhân, cũng có thể cùng lúc tham gia với các
vai trò khác như nhà giáo dục, nhà biện hộ, người môi giới. Để thực hiện việc tương
tác trực tiếp đạt hiệu quả cao, nhân viên xã hội cần phải thành thạo các kỹ năng sử
dụng trong đối thoại trực tiếp như: Kỹ năng tạo lập mối quan hệ ban đầu, kỹ năng
lắng nghe, kỹ năng vấn đàm, kỹ năng quan sát.
Mối quan hệ một - một cũng được đề cao khi nhân viên xã hội làm việc với
gia đình. Trong khi làm việc với gia đình, vai trò chủ yếu của nhân viên xã hội
13
14
sinh, là những bé thơ trong nhà trẻ, mẫu giáo, là các em học sinh trong các trường
tiểu học, trung học cơ sở hoặc trong trường trung học phổ thông, với một điều kiện
duy nhất là các em chưa đủ 16 tuổi (tính theo tháng).
1.1.5. Khái niệm xâm hại tình dục trẻ em
Có nhiều định nghĩa khác nhau về xâm hại tình dục trẻ em được các tổ chức
quốc tế, các cơ quan trong nước, các nhà nghiên cứu và các chuyên gia đưa ra.
Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa xâm hại tình dục như sau: “Xâm hại tình dục
trẻ em là việc lôi kéo trẻ em tham gia vào hoạt động tình dục mà trẻ em đó không
hiểu một cách đầy đủ, không có khả năng quyết định ưng thuận một cách có hiểu
biết, hoặc hành động đó là trái luật pháp hoặc trái quy tắt xã hội. Xâm hại tình dục
trẻ em là hành động diễn ra giữa một trẻ em với một người trưởng thành hoặc với
một trẻ em khác mà do độ tuổi và mức độ phát triển, người này có mối quan hệ
trách nhiệm, tin tưởng hoặc quyền hành với trẻ và hành động gây ra nhằm thoả mãn
nhu cầu của người đó”.
Trong trường hợp thủ phạm xâm hại tình dục trẻ em là một thành viên trong
gia đình hoặc có họ hàng với trẻ, thì việc xâm hại tình dục được coi là loạn luân.
Xâm hại tình dục trẻ em cũng có thể xảy ra dưới hình thức bóc lột thông qua văn
hoá phẩm khiêu dâm hoặc hoạt động mại dâm.
Trong phạm vi nghiên cứu của vấn đề này chúng tôi sử dụng định nghĩa về
xâm hại tình dục đã được tổ chức SIDA nêu lên trong nghiên cứu “Thực trạng xâm
hại tình dục trẻ em đường phố tại thành phố Huế và Hà Nội” do Viện sức khoẻ sinh
sản và gia đình thực hiện. Theo đó, xâm hại tình dục trẻ em được hiểu là: “việc tiếp
xúc hoặc tác động qua lại giữa trẻ và một người lớn tuổi hơn trẻ, có hiểu biết hơn
trẻ hoặc giữa trẻ và một người lớn (người lạ, anh chị em hoặc người có địa vị quyền
lực, ví dụ như là bố mẹ, người chăm sóc hoặc người nào khác) trong tình huống trẻ
bị sử dụng như một vật để thoã mãn nhu cầu tình dục của người lớn hoặc của trẻ.
hại về mặt tình dục. Các hoạt động phòng, chống bao gồm phòng tránh không cho
các hành vi xâm hại tình dục xảy ra với trẻ em và cả việc giải quyết khi vấn đề xảy
ra nhằm đảm bảo cho trẻ em trong xã hội được sống trong môi trường an toàn.
16
1.2. Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.2.1. Quyền trẻ em
Trong thực tiễn quyền, theo nghĩa tiếng Việt, là cái mà luật pháp, xã hội, phong
tục hay lẽ phải cho phép hưởng thụ, vận dụng, thi hành... và khi thiếu được yêu cầu để
có, nếu bị tước đoạt có thể đòi hỏi để giành lại. Về khái niệm khoa học, quyền là
nguyên tắc đạo đức xác định và thừa nhận sự tự do hành động của con người trong một
xã hội nhất định. Khái niệm quyền chỉ liên quan đến hành động, mà cụ thể là liên quan
đến tự do hành động, nghĩa là thoát khỏi những cưỡng chế về mặt thể xác, thoát khỏi
tình trạng bị ép buộc hay bị can thiệp bởi/từ những người khác. Đối với mỗi cá nhân,
quyền là sự thừa nhận về mặt đạo đức đối với một sự chọn lựa tích cực, được tự do
hành động theo lý trí, vì các mục tiêu riêng, do sự lựa chọn riêng tự nguyện, không bị
cưỡng ép. Về phần những người xung quanh, các quyền của cá nhân đó không áp đặt
nghĩa vụ nào lên những người xung quanh ngoại trừ một quyền phủ quyết: họ không
được vi phạm các quyền của cá nhân đó.
Một số định nghĩa về quyền con người do một số chuyên gia, cơ quan nghiên cứu
từng nêu ra cũng không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung, quyền con người
thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con
người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc
tế.
Theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc, quyền con người là
những bảo đảm pháp lý phổ quát có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống
lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được
phép và tự do cơ bản của con người.
mẹ - người chăm sóc yêu cầu phòng ngừa để tránh những nguy hại đến sự phát triển
của trẻ), Quyền được phát triển (cha mẹ và nhà nước đảm bảo rằng tất cả mọi trẻ em
đều có cơ hội như nhau để tiếp cận tối đa với những nguồn lực sẵn có) và Quyền độc
lập (sự tự do lựa chọn cách sống, quan hệ xã hội theo khuynh hướng không bị kiểm tỏa
bởi uy quyền của thế giới người lớn).
Việc tiếp cận các vấn đề của trẻ em trên khía cạnh quyền không phải là nội dung
quá mới trên thế giới, nhưng ở Việt Nam việc tiếp cận những vấn đề của trẻ em về
quyền chưa thực sự rõ ràng, nhất là những quyền đó khi triển khai vào thực tiễn đời
sống xã hội còn nhiều bất cập. Khi tiếp cận vấn đề về phòng ngừa tai nạn thương tích
18
đối với trẻ em dựa trên quyền của trẻ em là cách tiếp cận có nội dung thực tế vào đời
sống trẻ em, bởi không chỉ là những vấn đề cá nhân của trẻ em mà còn liên quan đến
những nội dung về thể chế, chính sách. Trong đó nội hàm về quyền của trẻ em được
hiểu khá rộng, theo Công ước của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em được Đại hội đồng
Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989 và có hiệu lực từ ngày 02/9/1990. Việt Nam
là một trong những quốc gia phê chuẩn Công ước từ rất sớm. Đây là văn kiện quan
trọng nhất về quyền con người của trẻ em trong hệ thống pháp luật quốc tế về quyền
con người, bao gồm các điều luật như: Trẻ em có quyền được lắng nghe, được tự do
bày tỏ quan điểm về tất cả các vấn đề có tác động đến trẻ, được tự do phát biểu, suy
nghĩ, hội họp và tiếp cận thông tin, thúc đẩy lợi ích tốt nhất của trẻ và tăng cường sự
phát triển cá nhân; Có quyền tham gia bình đẳng với nhau không phân biệt; Có quyền
được bảo vệ tránh khỏi bị lôi kéo, bạo lực, lạm dụng và bóc lột...Trong quá trình từng
bước làm hài hoà Công ước với hệ thống luật pháp quốc gia, các quyền cơ bản của trẻ
em được xem xét trong việc sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các luật và bộ luật. Các
quyền này nếu được thực hiện đầy đủ sẽ tạo cơ hội cho trẻ em được thực hiện quyền
chính trị, xã hội của mình, trong mối tương quan với các quyền dân sự, văn hóa, kinh
tế.