DANH MỤC VIẾT TẮT
CTXH
NVCTXH
HLHPN
LDTB&XH
Công tác xã hội
Nhân viên công tác xã hội
Hội liên hiệp phụ nữ
Lao động thương binh và xã
UBND
BLGĐ
hội
ủy ban nhân dân
Bạo lực gia đình
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Gia đình là cái nôi đầu tiên nuôi dưỡng tâm hồn và nhân cách
của mỗi người, là nơi con người tìm thấy sự bình yên và an toàn khi ở
đó. Tuy nhiên trong thực tế đối với không ít người thì gia đình l ại là
nỗi đau bởi các cuộc bạo lực đang diễn ra. Bạo l ực trong gia đình
không những làm tổn hại đến sức khoẻ, thể xác cho nạn nhân mà còn
làm tổn thương về mặt tinh thần, ảnh hưởng đến cuộc sống của t ất
cả những người xung quanh và gây ra nhiều hậu quả cho xã hội. B ạo
xã hội trong việc trợ giúp, tham vấn tư vấn, hòa giải, truy ền thông,
biện hộ, trợ lý pháp lý và là cầu nối giữa người phụ n ữ với các nguồn
lực hỗ trợ của xã hội. Tuy nhiên việc thực hiện giúp đỡ đối tượng còn
gặp nhiều khó khăn. nhằm hiểu rõ thực trạng về vai trò nhân viên
công tác xã hội, với mong muốn được góp một ph ần công s ức nh ỏ bé
của mình vào việc trợ giúp nạn nhânvới những cán bộ nh ững ng ười
trợ giúp phụ nữ bị bạo lực gia đình, giảm hậu quả bạo lực, phòng,
chống bạo lực gia đình, vì thế tôi đã lựa chọn đề tài “ Vai trò của nhân
viên Công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực gia đình tại huyện Ti ền
Hải tỉnh Thái Bình” để thực hiện luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
2.1. Trên thế giới
Bạo lực gia đình với phụ nữ đang xảy ra ở khắp nơi trên thế giới
với nhiều dạng thức tinh vi không phân biệt dân tộc, màu da, tầng l ớp,
lứa tuổi, trình độ văn hóa, địa vị xã hội. Ngay ở nh ững n ước đ ược coi là
phát triển và văn minh ở châu Âu, châu Mỹ vẫn có không ít ng ười ph ải
chịu đựng vấn nạn này. Nạn bạo lực gia đình thực sự là một v ấn đề có
tính toàn cầu và đòi hỏi một cách tiếp cận đa ngành để giải quyết
triệt để.
Theo các nghiên cứu diện rộng, khoảng 10-15% phụ nữ trên th ế
giới bị chồng gây ra bạo lực thể xác trong suốt cuộc đời họ (T ờ Sự
thật của Tổ chức Y tế Thế giới, Số 239, tháng 6, 2000).
Bạo lực gia đình đối với phụ nữ là nguyên nhân th ứ 10 trong các
nguyên nhân hàng đầu gây ra cái chết cho phụ n ữ từ độ tuổi 15 đến
44 trong năm 1998 (WHO).
Báo cáo Nghiên cứu đa quốc gia của WTO về sức khỏe phụ n ữ và
bạo lực gia đình đối với phụ nữ Việt Nam năm 2010. Trong đó có nêu
lên một số kinh nghiệm chăm sóc sức khỏe phụ nữ là nạn nhân của
bạo lực gia đình. Dự án Nâng cao Bình đẳng giới – Hạn chế bạo lực gia
đình của tổ chức Bắc Âu trợ giúp Việt Nam (NAV) tại huyện Kiến
hình thức đã và đang xảy ra ở mọi cộng đồng, mọi quốc gia trên th ế
giới bất kể sự khác biệt về giai cấp, chủng tộc, tôn giáo. Bạo l ực đ ối
với phụ nữ không chỉ là vấn đề một quốc gia hay khu vực mà nó là
một vấn đề mang tính chất toàn cầu. Sự bất bình đ ẳng gi ữa nam và
nữ đã có từ lâu trong lịch sử văn hoá của nhiều quốc gia theo ch ế đ ộ
phụ hệ, trong đó có Việt Nam, đã tạo nên thái độ và niềm tin chắc
chắn của xã hội về vị trí, vai trò và trách nhiệm của người ph ụ n ữ
trong gia đình và trong sự phát triển đất nước. Ngay sau khi cách
mạng tháng Tám thành công, Đảng và Nhà nước ta đã đ ặc biệt quan
tâm đến vấn đề giải phóng phụ nữ, xoá bỏ những tàn tích phong kiến
như cưỡng ép hôn nhân, trọng nam khinh nữ, đánh đập vợ, nh ững v ấn
đề đó đã được đề cập đến trong Điều 9 Hiến pháp Việt Nam năm
1946 “ Đàn bà ngang quyền đàn ông về mọi phương diện” hoặc đ ược
quy định trong Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 nh ư “C ấm
đánh đập, ngược đãi vợ”. Tuy nhiên nạn bạo lực gia đình đối v ới ph ụ
nữ vẫn tiếp tục tồn tại dai dẳng trong xã hội Việt Nam. Đây là một
vấn đề đáng lo ngại đã và đang được quan tâm nghiên cứu, giải quyết,
4
trong những năm gần đây, đã có nhiều khoá tập huấn, không ít cu ộc
hội thảo và những công trình nghiên cứu công phu về ch ủ đề “Bạo l ực
giới”, “Bạo lực trong gia đình” và kết quả cho thấy bạo lực trong gia
đình đối với phụ nữ là một hiện tượng phổ biến ở Việt Nam
Cuốn sách “Bạo lực giới trong gia đình Việt Nam và vai trò c ủa
truyền thông đại chúng trong sự nghiệp phát triển phụ n ữ” Hoàng Bá
Thịnh chủ biên được xây dựng từ một tập hợp bài nghiên c ứu, tham
luận được trình bày trong hội thảo “Bạo lực với phụ nữ trong gia đình
và vai trò của truyền trông đại chúng trong sự nghiệp phát tri ển ph ụ
nữ” ngày 28-29/6/2001 tại Hà Nội. Cuốn sách gồm 2 ph ần chính.
- Ngiên cứu thực trạng tình hình phụ nữ bị bạo lực gia đình
tại huyện Tiền Hải
- Nghiên cứu thực hiện Vai trò nhân viên công tác xã hội trong
việc trợ giúp phụ nữ bị bạo lực gia đình.
- Dựa vào nghiên cứu Đưa ra một vài đề xuất, kiến nghị nhằm
nâng cao vai trò nhân viên công tác xã hội trong công tác tr ợ giúp ph ụ
nữ bị bạo lực gia đình.
- Đề cập khó khăn về việc thực hiện vai trò nhân viên công tác
xã hội trong trợ giúp phụ nữ bị bạo lực gia đình.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ vai trò của nhân viên công tác xã hội trong vi ệc tr ợ
giúp phụ nữ bị bạo lực gia đình.
- NVCTXH trong công tác trợ giúp phụ nữ bị bạo lực gia đình
đã có những hiệu quả như thế nào.
- Một số kết luận nhằm nâng cao vai trò của nhân viên công
tác xã hội trong công tác trợ giúp nhằm giảm hậu quả cho nạn nhân bị
bạo lực, giúp phòng, chống bạo lực gia đình đối v ới ph ụ n ữ.
5. Khách thể nghiên cứu
- 05 Phụ nữ - nạn nhân bị bao lực gia đình
- 03 Nhân viên CTXH – hội liên hiệp phụ nữ đang thực hiện vai
trò can thiệp, hỗ trợ những nạn nhân bị bạo lực gia đình
- 02 người bạo hành gia đình
6. Đối tượng nghiên cứu
Vai trò nhân viên CTXH trong trợ giúp phụ nữ bị bạo lực gia đình
7. Phạm vi nghiên cứu
Không gian và giới hạn nội dung nghiên cứu: phụ n ữ bị bạo l ực
gia đình độ tuổi từ 18 đến 50 tuổi tại huy ện Tiền H ải tỉnh Thái Bình.
Thời gian nghiên cứu: năm 2012 đến năm 2017
8. Phương pháp nghiên cứu
8.1. Phương pháp phân tích tài liệu
8.2. Phương pháp phỏng vấn sâu
Phỏng vấn sâu là những cuộc đối thoại được lặp đi lặp lại giữa
nhà nghiên cứu và người cung cấp thông tin nhằm tìm hiểu cuộc sống,
kinh nghiệm và nhận thức của người cung cấp thông tin thông qua
chính ngôn ngữ của người ấy.
Phỏng vấn sâu là dạng phỏng vấn chỉ áp dụng trong nh ững
trường hợp nhà nghiên cứu ít nhiều đã xác định được sơ bộ vấn đ ề
nghiên cứu và những thông tin cần thu thập cho đề tài. Mục tiêu chung
của phỏng vấn sâu không phải để hiểu một cách đại diện, khái quát
về tổng thể mà giúp người nghiên cứu hiểu sâu, hiểu kỹ về vấn đ ề
bạo lực gia đình đối với phụ nữ và vai trò trợ giúp của nhân viên công
tác xã hội. Người phỏng vấn tự do hoàn toàn trong cách d ẫn d ắt cu ộc
phỏng vấn, đặt trình tự các câu hỏi và cách thức đặt câu hỏi nhằm thu
thập thông tin mong muốn. Trong quá trình phỏng vấn nhân viên công
tác xã hội tập trung phỏng vấn sâu các cá nhân để thu th ập thông tin.
Việc chọn người để phỏng vấn có chủ định, đó là nh ững người có liên
quan đến vấn đề nghiên cứu.
Phỏng vấn sâu thường áp dụng cho những tìm hiểu về nguyên
nhân của một hành động hay một loạt hành động nào đó g ắn v ới
những trường hợp cụ thể. Như vậy, trước khi tiến hành phỏng vấn,
việc xác định được đối tượng phỏng vấn là vô cùng quan trọng. Họ
7
phải là những trường hợp tiêu biểu, có tính đại diện và đ ảm b ảo
thông tin mà họ cung cấp hoàn toàn phục vụ được cho nghiên c ứu c ủa
nhà nghiên cứu. Chính xác hơn, họ phải là những người liên quan
nhiều đến mục tiêu nghiên cứu và đảm bảo thông tin thu đ ược t ừ
những khách thể này hoàn toàn có thể thỏa mãn cho những câu hỏi
nghiên cứu mà nhà nghiên cứu đặt ra.
trợ giúp khỏi nạn bạo lực trong gia đình, n ắm bắt đ ược th ể tr ạng và
8
các biểu hiện trong giao tiếp, ứng xử giữa người gây ra bạo lực và nạn
nhân bị bạo lực, giữa người phụ nữ bị bạo lực với cán bộ. Qua đó đánh
giá sự trợ giúp của cán bộ, nhân viên với vai trò là nh ững nhân viên
công tác xã hội để từ đó có những biện pháp tr ợ giúp n ạn nhân là
người phụ nữ bị bạo lực gia đình.
9. Kết cấu khóa luận tốt nghiệp
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phục lục, tài liệu tham kh ảo, nội
dung của chủ đề gồm 3 chương:
Chương 1: Cở sở lý luận về vai trò nhân viên CTXH trong việc tr ợ
giúp phụ nữ bị bạo lực gia đình tại huyện Tiền Hải.
Chương 2: Vai trò nhân viên công tác xã hội trong việc tr ợ giúp
phụ nữ bị bạo lực gia đình tại huyện Tiền Hải.
Chương 3: Kết luận, giải pháp và khuyến nghị.
9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ NHÂN VIÊN CTXH TRONG
VIỆC TRỢ GIÚP PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH TẠI HUYỆN TIỀN
HẢI
1. Một số lý luận cơ bản về công tác xã hội
1.1. Khái niệm CTXH và Nhân viên CTXH
- Công tác xã hôi:
Theo Hiệp hội Quốc gia NVCTXH (NASW): Công tác xã hội là
hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng đ ể
nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện
hưởng tới chính sách xã hội, các cơ quan, tổ chức vì lợi ích của cá nhân,
gia đình, nhóm và cộng đồng thông qua hoạt động nghiên c ứu và ho ạt
động thực tiễn”. (Theo Hiệp hội Nhân viên công tác xã hội quốc tế
-IFSW).
Nhân viên công tác xã hội là những nhà chuyên nghiệp làm chủ
những nền tảng kiến thức cần thiết, có khả năng phát triển các kỹ
năng cần thiết, tuân theo những tiêu chuẩn và đạo đức của nghề công
tác xã hội (DuBois and Miley, 2005)
1.2. Vai trò nhân viên CTXH
Vai trò của nhân viên xã hội đã được xác định về thể hiện vai trò
một cách rõ nét trong đời sống xã hội, Sự hoạt động, tác nghiệp c ủa
nhân viên xã hội phổ biến và rộng khắp trên nhiều lĩnh vực, đ ịa bàn t ừ
thành thị đến nông thôn.
Nhân viên công tác xã hội đã đảm trách nhiệm nghi ệp v ụ
chuyên môn, phát huy vai trò, chức năng của mình trong việc tr ợ giúp
những đối tượng yếu thế, thiệt thòi và giải quyết các vấn đề xã h ội.
Trong hệ thống nghề nghiệp và tổ chức cấu trúc thành phần với tư
cách là những lực lượng xã hội, nhân viên xã hội có v ị trí độc l ập đồng
thời có mối liên hệ với nhiều nghề nghiệp khác.
Tính chuyên nghiệp của nghề nghiệp và tính tổ chức chặt chẽ
của hoạt động chuyên môn được thể hiện ở mã nghề, thang bảng
lương, chức danh và vị trí của nhân viên xã hội trong c ơ quan quản lý
nhà nước, giám sát điều hành hoạt động như Hiệp hội công tác xã hội,
Bộ xã hội hoặc Bộ an sinh xã hội hay Bộ giải quyết các vấn đ ề xã hội
(tùy thuộc vào quy định, cơ cấu tổ chức của từng quốc gia). Xuất phát
từ nhu cầu của xã hội và mục đích hoạt động của ngành công tác xã
hội, dựa trên đặc thù nghề nghiệp là trợ giúp đối tượng yếu thế, thiệt
thòi giải quyết các vấn đề xã hội, nhân viên xã hội có kh ả năng tác
nghiệp trong nhiều lĩnh vực khác nhau dựa trên vấn đề của đối tượng
như kinh tế, pháp luật, tâm lý, tình cảm, sức kh ỏe, văn hóa, giáo d ục,
mô. Ở mức độ vĩ mô, người hoà giải giúp những tiểu hệ th ống khác
nhau trong cộng đồng hay một cộng đồng và vài hệ thống khác, tạo sự
khác biệt. Ở mức độ vi mô và trung mô, người hoà giải giúp đ ỡ ở
những lĩnh vực ly hôn. Nhân viên công tác xã h ội duy trì s ự trung l ập
và ủng hộ đảng phái trong cuộc tranh luận. (Zastrov and
KistAshman,1997).
Vai trò trợ giúp pháp lý: Trợ giúp pháp lý được hiểu là việc cung
cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được trợ giúp pháp lý theo
quy định của Luật trợ giúp pháp lý, giúp người được tr ợ giúp pháp lý
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp
luật, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; góp phần vào việc ph ổ
biến, giáo dục pháp luật, bảo vệ công lý, bảo đảm công bằng xã h ội,
phòng ngừa, hạn chế tranh chấp và vi phạm pháp luật. Trợ giúp pháp
lý là một phần quan trọng trong chính sách của nhà nước ta nh ằm
tăng cường hệ thống tư pháp, các quy ền dân chủ và m ột hệ thống t ư
pháp phục vụ nhân dân. Thực hiện trợ giúp pháp lý miễn phí là th ực
hiện một hoạt động tiến bộ, có tính nhân đạo nhân văn cao cả vì con
12
người và nhằm bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của con ng ười
đồng thời cũng là bảo vệ lợi ích pháp chế xã hội ch ủ nghĩa. Nh ờ đ ược
trợ giúp pháp lý miễn phí mà những người nghèo, những đối tượng
chính sách có điều kiện tiếp cận, sử dụng các quy định của pháp lu ật
để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đặc bi ệt tr ợ giúp
pháp lý đã trở thành chỗ dựa của người nghèo, nhóm người yếu thế
trong xã hội, nạn nhân bị bạo lực gia đình trong các v ướng m ắc, tranh
chấp pháp lý.
Vai trò biện hộ: Đây là một trong những vai trò quan tr ọng c ủa
NVXH. NVXH trong tư cách này là người đại diện cho tiếng nói của
Theo tính chất của bạo lực thì có những hình th ức khác nhau
nhưng có những loại thường được nhắc đến nhiều hơn cả đó là bạo
lực về thân thể (bạo lực thể chất) và bạo lực tinh thần (tình cảm,tâm
lý)…bạo lực tình dục, bạo lực kinh tế.
Có thể phân chia bạo lực gia đình thành bốn loại sau:
Thứ nhất, bạo lực thể chất: Bao gồm hành vi hành hạ, ngược
đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến s ức khoẻ, tính
mạng.
Thứ hai, bạo lực tinh thần: Bao gồm các hành vi lăng m ạ hoặc
hành vi cố ý xúc phạm danh dự, nhân phẩm hay cô lập, xua đu ổi ho ặc
gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng hoặc
ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình gi ữa
ông, bà và cháu, giữa cha, mẹ và con, giữa vợ và ch ồng, gi ữa anh, ch ị,
em với nhau, hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra kh ỏi
chỗ ở, cưỡng ép tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc c ản tr ở hôn
nhân tự nguyện, tiến bộ.
Thứ ba, bạo lực kinh tế hay lao động: Bao gồm chiếm đoạt, huỷ
hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng c ủa
thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung c ủa các thành viên
gia đình hay cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá s ức, đóng góp
tài chính quá khả năng của họ hoặc là kiểm soát thu nhập của thành
viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính.
Thứ tư, bạo lực tình dục: Gồm có hành vi cưỡng ép quan hệ tình
dục. Ở Việt Nam, bạo lực gia đình đang có chiều h ướng gia tăng đáng
báo động và trái ngược với truyền thống tốt đẹp của văn hóa dân tộc.
Bạo lực gia đình không còn đơn thuần chỉ là hành vi đánh đ ập ng ược
đãi về thể xác, về tinh thần, bạo hành trong tình dục, bạo l ực kinh t ế…
mà còn là hành vi phạm tội nghiêm trọng. Bạo lực không chỉ phát sinh
ở các gia đình học vấn thấp mà còn có ở các gia đình h ọc v ấn cao,
không chỉ có ở những gia đình có điều kiện kinh tế khó khăn mà còn
nhân với mục đích chỉ tỏ rõ quyền uy của mình. Phần lớn nh ững
người gây ra bạo lực trong gia đình đối với người phụ n ữ trong huy ện
đều không muốn những người xung quanh can thiệp. Họ đóng kín c ửa
để đánh vợ, có người còn vặn radio, tivi th ật to đ ể át ti ếng khóc c ủa
nạn nhân, khi có người thân, hàng xóm đến can ngăn l ập tức h ọ ch ửi
bới thậm chí khống chế đe dọa. Một số phụ nữ trong huy ện đã r ơi
vào tình trạng nhiều tuổi mà chưa có gia đình, nhiều người có nhu c ầu
xây dựng gia đình lại không kịp tìm hiểu người bạn đ ời tr ước khi k ết
hôn. Vì khi ở độ tuổi đã muộn màng, họ kết hôn để thoát khỏi sức ép
của gia đình, hàng xóm những người xung quanh, kết hôn vì gia đình
và xã hội mong muốn họ như thế, đây chính là tiền đ ề cho nh ững xung
đột gia đình sau này mà người phụ nữ phải chịu hậu quả. Quan niệm
trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên một chồng của đàn ông trong
huyện đã trở thành khuôn mẫu khuyến khích nạn bạo lực nh ư ngoại
tình tồn tại và có xu hướng phát triển
Thứ ba, Do quá trình đô thị hoá trong thời kỳ phát triển. Sự phát
triển kinh tế xã hội là sự bùng nổ số các quán Karaoke và massage,
15
nhiều quán trong đó là những nhà chứa trá hình hay quán bia ôm mà
nữ tiếp viên là gái mại dâm. Bạo lực gia đình đối v ới ph ụ n ữ nh ư là
kết quả của quá trình đô thị hoá và sự quá độ sang nền kinh tế th ị
trường. Bạo lực gia đình đối với phụ nữ thể hiện ở việc ch ồng đi quan
hệ với gái mại dâm, về nhà lây bệnh sang cho v ợ, các văn hoá ph ẩm
đồi truỵ cũng trở nên dễ tiếp cận hơn và đàn ông v ề nhà có đòi h ỏi
tình dục nhiều hơn đối với vợ dẫn đến việc cưỡng ép làm tình trong
hôn nhân khiến cho người phụ nữ tổn thương nặng nề. Sự xuất hiện
ngày càng nhiều các tệ nạn xã hội trong huyện Tiền Hải nh ư n ạn c ờ
bạc, mại dâm, nghiện hút ma túy…. Thực tế nghiên cứu cho thấy,
Thứ hai, do khủng hoảng các mối quan hệ trong gia đình: Hiện
nay, trước sự tác động của nhiều yếu tố kinh tế xã hội, nhiều gia đình
tại huyện đang có những đấu hiệu của sự khủng hoảng, nhiều giá tr ị
truyền thống về gia đình đã bị thay đổi. Các mối quan hệ giữa các m ối
quan hệ ruột thịt trong nhiều gia đình không còn bền chặt nh ư tr ước,
cha mẹ bận rộn kiếm sống không quan tâm, chăm sóc giáo dục con
cái, bên cạnh đó một số gia đình do người đàn ông ghen tuông mù
quáng, nghi oan vợ có nhân tình và cho rằng con không phải là con c ủa
mình nên đã không chăm sóc, yêu thương con. Cùng với nh ững thay
đổi trong giá trị gia đình truyền thống, những nhân tố gắn kết các
thành viên trong gia đình như niềm yêu thương, sự tin cậy lẫn nhau
cũng không còn chặt chẽ đã làm cho các mâu thu ẫn gia đình bùng n ổ,
điều đó đã làm nảy sinh những sung đột gay gắt trong mối quan hệ v ợ
chồng, khi sự chung thuỷ của người chồng và người vợ không được
xem như một giá trị tôn trọng nữa thì những sự dò xét, nghi k ỵ, ghen
tuông cũng dễ dàng làm thổi bùng lên ngọn lửa c ủa bạo l ực gia đình
đối với người phụ nữ và đã để lại những hậu quả rất đáng tiếc.
2.2.3. Nhóm nguyên nhân từ cá nhân
Thứ nhất, do người phụ nữ bị lệ thuộc về kinh tế: Có rất nhiều
lý do khiến người phụ nữ phải chấp nhận tình trạng bạo lực trong gia
đình, trong đó phụ nữ bị lệ thuộc kinh tế khiến người phụ n ữ ph ải
chịu đựng tình trạng bạo lực trong thời gian dài. Nhiều ch ị em trong
huyện nghĩ mình chỉ ở nhà làm ruộng và nội trợ cho gia đình, không
kiếm được tiền về nên tự ty và nghĩ phải dựa vào những đồng tiền
của chồng kiếm được. Hơn thế nữa, người vợ còn thiếu tin tưởng vào
khả năng của bản thân, lo ngại không có tiền bạc hoặc không đ ủ ti ền
để chăm sóc con cái, họ còn có quan niệm rằng việc chồng bạo l ực đối
với vợ là việc riêng tư của gia đình nên đã không tìm s ự can thi ệp t ừ
bên ngoài.
Thứ hai, do nhận thức sai lầm của nạn nhân: Bản thân ng ười
bị xâm phạm nghiêm trọng các quyền về con người, bị xúc phạm về
danh dự, nhân phẩm và xâm hại về thân thể. Họ bị ảnh hưởng đến
sức khỏe, gây đau đớn, thương tích dẫn đến suy giảm khả năng lao
động và có thể dẫn tới cái chết. Phụ nữ bị bạo lực sẽ bị ảnh h ưởng về
tinh thần thường có tâm trạng bi quan, chán nản, th ất v ọng trong
cuộc sống, hay quẫn chí, dễ nóng giận, thần kinh không ổn định và có
thể dẫn đến trầm cảm, thậm chí nghĩ đến cái chết để giải tự thoát
cho bản thân.
2.3.2. Hậu quả đối với gia đình
Bạo lực gia đình đối với phụ nữ làm tan vỡ h ạnh phúc c ủa các
gia đình có bạo lực, cuộc sống của họ luôn bất hòa, mất ổn đ ịnh, ảnh
hưởng nghiêm trọng tới các thành viên khác trong gia đình, đ ặc biệt là
trẻ em. Không những thế gia đình họ còn bị thệt hại về kinh t ế nh ư
chi phí điều trị thương tích do bạo lực, thu nhập giảm do không có
người lao động, danh dự, uy tín của dòng họ hoặc của các thành viên
khác trong gia đình bị giảm sút đáng kể. Bạo lực gia đình đới v ới người
phụ nữ tại huyện Tiền hải để lại hậu quả không chỉ cho nạn nhân mà
18
cho các thành viên khác trong gia đình, nh ất là tr ẻ em. Bạo l ực gia đình
đối với người phụ nữ có tác động rất xấu tới sự phát triển cả v ề th ể
chất, tinh thần, đạo đức và trí tuệ của trẻ em, bạo lực gia đình khiến
trẻ em khủng hoảng, sợ hãi, mất ngủ, thiếu tự tin, th ất v ọng, r ối
nhiễu tâm lý, trầm cảm.
2.3.3. Hậu quả đối với cộng đồng và xã hội
Bạo lực gia đình đối với phụ nữ làm giảm sự đóng góp c ủa n ạn
nhân cho xã hội. Nó là mầm mống phát sinh tội ph ạm (hành vi hành
chính dễ dẫn tới hành vi hình sự). Bạo lực gia đình làm tăng áp l ực lên
hệ thống y tế và làm mất ổn định, trật tự trong xã hội. Đồng th ời cũng
tụng, của các cơ quan, tổ chức và công dân; hợp tác quốc tế trong tố
tụng hình sự, nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn ch ặn t ội ph ạm, phát
hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời m ọi hành
vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Bộ
luật tố tụng hình sự góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ
lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích h ợp pháp c ủa công dân, t ổ
chức, bảo vệ trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa, đồng thời giáo dục
mọi người ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống
tội phạm.
Điều 5. Bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp
luật .Tố tụng hình sự tiến hành theo nguyên tắc mọi công dân đều
bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, nam n ữ, tín
ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, địa vị xã hội. Bất cứ người nào
phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật.
Điều 7. Bảo hộ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài
sản của công dân.
Công dân có quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng, s ức
khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản. Mọi hành vi xâm phạm tính mạng,
sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm tài sản đều bị xử lý theo pháp
luật. Người bị hại, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác
cũng như người thân thích của họ mà bị đe dọa đến tính mạng, sức
khỏe, bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, tài sản thì cơ quan có th ẩm
quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng những biện pháp cần thiết để
bảo vệ theo quy định của pháp luật.
Bộ luật dân sự quy định địa vị pháp lý, chuẩn m ực pháp lý cho
cách ứng xử của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác; quyền, nghĩa vụ
của các chủ thể về nhân thân và tài sản trong các quan hệ dân sự, hôn
nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung
là quan hệ dân sự). Bộ luật dân sự có nhiệm vụ bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của cá nhân, tổ chức, lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng;
anh, chị, em với nhau;
đ) Cưỡng ép quan hệ tình dục;
e) Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản tr ở hôn
nhân tự nguyện, tiến bộ;
g) Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm
hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình ho ặc tài s ản
chung của các thành viên gia đình;
h) Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài
chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia
đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;
i) Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra kh ỏi ch ỗ
ở.
2. Hành vi bạo lực quy định tại khoản 1 Điều này cũng đ ược áp
dụng đối với thành viên gia đình của vợ, chồng đã ly hôn ho ặc nam, n ữ
không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng.
Điều 5. Quyền và nghĩa vụ của nạn nhân bạo lực gia đình
1. Nạn nhân bạo lực gia đình có các quyền sau đây:
21
a) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, người có thẩm quy ền bảo vệ s ức
khỏe, tính mạng, nhân phẩm, quyền và lợi ích hợp pháp khác của
mình;
b) Yêu cầu cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng biện pháp
ngăn chặn, bảo vệ, cấm tiếp xúc theo quy định của Luật này;
c) Được cung cấp dịch vụ y tế, tư vấn tâm lý, pháp luật;
d) Được bố trí nơi tạm lánh, được giữ bí mật về nơi tạm lánh và
thông tin khác theo quy định của Luật này;
đ) Các quyền khác theo quy định của pháp luật.
Điều 8. Những hành vi bị nghiêm cấm
nhiệm thực hiện các biện pháp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1
Điều này.
3. Thẩm quyền, điều kiện áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp
quy định tại điểm c khoản 1 Điều này được th ực hiện theo quy đ ịnh
của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hoặc pháp luật về tố tụng
hình sự.
4. Việc áp dụng biện pháp quy định tại điểm d khoản 1 Đi ều này
được thực hiện theo quy định tại Điều 20 và Điều 21 của Luật này.
Điều 26. Cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình
1. Cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình là n ơi chăm sóc, t ư
vấn, tạm lánh, hỗ trợ những điều kiện cần thiết khác cho nạn nhân
bạo lực gia
đình.
2. Cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình bao gồm:
a) Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh;
b) Cơ sở bảo trợ xã hội;
c) Cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình;
d) Cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình;
đ) Địa chỉ tin cậy ở cộng đồng.
3. Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn hoạt động trợ giúp
nạn nhân của các cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình.
Luật hôn nhân và gia đình 2010 :Gia đình là tế bào của xã hội, là
cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và
giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt.Để
đề cao vai trò của gia đình trong đời sống xã hội, giữ gìn và phát huy
truyền thống và những phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc
Việt Nam, xóa bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và
gia đình, để nâng cao trách nhiệm của công dân, Nhà nước và xã hội
trong việc xây dựng, ủng cố chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam; Kế
Điều 21. Tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng
1. Vợ, chồng tôn trọng và giữ gìn danh dự, nhân phẩm, uy tín
cho nhau.
2. Cấm vợ, chồng có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm đến danh
dự, nhân phẩm, uy tín của nhau.
- Luật bình đẳng giới nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Luật này quy định nguyên tắc bình đẳng giới trong các lĩnh v ực
của đời sống xã hội và gia đình, biện pháp bảo đảm bình đẳng gi ới,
trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân trong việc th ực
hiện bình đẳng giới.
Mục tiêu bình đẳng giới là xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo c ơ
hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát
triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, n ữ
và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi
lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.
Điều 18. Bình đẳng giới trong gia đình.
1. Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong quan hệ dân s ự và các quan
24
hệ khác liên quan đến hôn nhân và gia đình.
2. Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong sở h ữu tài
sản chung, bình đẳng trong sử dụng nguồn thu nhập chung của v ợ
chồng và quyết định các nguồn lực trong gia đình.
3. Vợ, chồng bình đẳng với nhau trong việc bàn bạc, quy ết định
lựa chọn và sử dụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình phù hợp; sử
dụng thời gian nghỉ chăm sóc con ốm theo quy định của pháp luật.
4. Con trai, con gái được gia đình chăm sóc, giáo dục và t ạo điều
kiện như nhau để học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát tri ển.
5. Các thành viên nam, nữ trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ