Dịch vụ công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực từ thực tiễn của thành phố hà nội (tt) - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ BÍCH LOAN

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

1 2017
HÀ NỘI,


Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội.

Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Thái Lan

Phản biện 1: TS. Nguyễn Đức Sơn, Đại học Sư phạm Hà Nội
Phản biện 2: TS. Nguyễn Khắc Bình, Học viện Khoa học xã hội
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn

thạc sĩ họp tại: Học viện Khoa học xã hội
15 giờ30 phút ngày 14 tháng 5 năm 2017

Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoc học xã


1


hỗ trợ cả ở trên thế giới và Việt Nam, tiêu biểu như: Báo cáo nghiên
cứu về chất lượng dịch vụ tư pháp hình sự hiện nay dành cho nạn
nhân bạo lực gia đình ở Việt Nam của UNODC Việt Nam (2011)
[45]; Báo cáo nghiên cứu rà soát bạo lực trên cơ sở giới ở Việt Nam
của Bộ LĐTBXH và UNFPA tại Việt Nam (2013); Báo cáo Các yếu
tố xã hội quyết định bất bình đẳng giới ở Việt Nam của Viện nghiên
cứu phát triển xã hội [47]...
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng dịch vụ CTXH
cho phụ nữ bị bạo lực trên địa bàn thành phố Hà Nội cũng như các
yếu tố ảnh hưởng tới việc cung cấp dịch vụ CTXH cho nhóm đối
tượng này.
Dựa trên những kết quả nghiên cứu, đưa ra những phát hiện có
tính thực tiễn sát với nhu cầu tiếp cận và sử dụng dịch vụ CTXH của
nhóm đối tượng này, làm căn cứ để đề xuất những giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ CTXH cho phụ nữ bị bạo lực.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Rà soát khung chính sách, pháp luật liên quan tới việc cung cấp
dịch vụ trợ giúp nạn nhân bị bạo lực.
- Tìm hiểu những đánh giá, nhận định của nạn nhân và nhân
viên CTXH về thực trạng cung cấp dịch vụ CTXH cho nhóm phụ nữ
bị bạo lực.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy hiệu quả dịch vụ
CTXH đối với nhóm phụ nữ bị bạo lực trên địa bàn nghiên cứu.
4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

3


- Tìm hiểu và phân tích nhận định của NV CTXH về nhu cầu
của phụ nữ bị bạo lực và khả năng/năng lực đáp ứng dịch vụ của NV
CTXH.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
- Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng và lịch sử
- Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tài liệu
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: tiến hành khảo sát 100
phụ nữ bị bạo lực đã tiếp cận dịch vụ hỗ trợ của TT CTXH Hà Nội
(20 phiếu), NNBY (50 phiếu) và Hagar (30 phiếu); 20 người là lãnh
đạo và NV CTXH của 03 đơn vị khách thể nghiên cứu.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: tiến hành phỏng vấn 15 phụ nữ
bị bạo lực, 07 nhân viên xã hội, 02 cán bộ quản lý nhà nước về
CTXH.
- Phương pháp quan sát
- Phương xử lý dữ liệu nghiên cứu
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đề tài góp phần đưa ra một số khuyến nghị nâng cao hiệu quả
cung cấp dịch vụ nói chung và dịch vụ CTXH nói riêng dành cho phụ
nữ bị bạo lực tại địa phương.
- Góp phần làm rõ hơn vai trò cụ thể của NV CTXH trong quá
trình trợ giúp một cách hiệu quả nhất cho phụ nữ bị bạo lực.


trong đời sống riêng tư và/hoặc nơi công cộng” [36].
1.1.2. Các hình thức của bạo lực đối với phụ nữ
Bạo lực đối với phụ nữ thường được chia thành 4 dạng sau: Bạo
lực thể chất, bạo lực tinh thần, bạo lực tình dục, bạo lực kinh tế:
1.1.3. Đặc điểm tâm lý và nhu cầu của phụ nữ bị bạo lực
Một số đặc điểm tâm lý thường gặp ở phụ nữ bị bạo lực: xấu hổ,
bế tắc, tuyệt vọng, hoang mang, sợ hãi, căng thẳng, hoảng loạn, trầm
cảm, có ý định tự tử, rối nhiễu về tâm thần [61].
Nhu cầu của phụ nữ bị bạo lực: được đảm bảo an toàn về tính
mạng; được chăm sóc y tế; được hỗ trợ tư vấn/tham vấn tâm lý; được
hỗ trợ tư vấn pháp lý; được học nghề, tạo việc làm; tái hòa nhập cộng
đồng, không bị kỳ thị, phân biệt đối xử [61, 62, 65].
1.1.4. Các lý thuyết tiếp cận đối với phụ nữ bị bạo lực
- Thuyết Nhu cầu của Abraham Maslow
- Lý thuyết hệ thống
- Lý thuyết thân chủ trọng tâm

6


1.2. Lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo
lực
1.2.1. Một số khái niệm
Khái niệm dịch vụ công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, dịch vụ CTXH đối với phụ nữ
bị bạo lực được hiểu là một số hoạt động mang tính chuyên nghiệp
nhằm phòng ngừa, hạn chế, khắc phục rủi ro, đảm bảo đáp ứng nhu
cầu cơ bản cho phụ nữ bị bạo lực như dịch vụ tạm lánh, chăm sóc
sức khỏe, tư vấn/tham vấn tâm lý, pháp lý, hỗ trợ học nghề, giới thiệu
việc làm ....

nhóm đối tượng này.
Tại chương này, tác giả đã đề cập tới các dịch vụ CTXH đối với
phụ nữ bị bạo lực, các yếu tố ảnh hưởng tới việc cung cấp dịch vụ
CTXH cho phụ nữ bị bạo lực và đưa ra các cơ sở pháp lý về cung cấp
dịch vụ CTXH cho phụ nữ bị bạo lực.
Như vậy, qua hệ thống cơ sở lý luận ở Chương 1 sẽ định hướng
cho việc nghiên cứu đề tài “Dịch vụ công tác xã hội đối với phụ nữ bị
bạo lực từ thực tiễn thành phố Hà Nội”.

8


Chương 2
THỰC TRẠNG CUNG CẤP DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC TRÊN ĐỊA BÀN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
2.1. Giới thiệu về địa bàn và khách thể nghiên cứu
2.1.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Thủ đô Hà Nội có tổng diện tích 3.324,92 km² với dân số ước
tính đến 31/12/2015 là 7.558.965 người. Hà Nội có 30 đơn vị hành
chính cấp huyện, gồm 12 quận, 01 thị xã và 17 huyện và 584 đơn vị
hành chính cấp xã (gồm 386 xã, 177 phường và 21 thị trấn) [66].
Với những thế mạnh nổi bật về phát triển kinh tế, giáo dục, y tế,
Hà Nội trở thành điểm đến của nhiều luồng di cư lớn từ trong nước và
quốc tế. Đây cũng là yếu tố làm gia tăng các vấn đề xã hội như tình
trạng bạo lực, buôn bán người, ma túy, mại dâm...
Để góp phần phòng ngừa và ứng phó bạo lực với bạo lực đối với
phụ nữ và trẻ em gái, ở góc độ cung cấp dịch vụ hỗ trợ, hiện có khá
nhiều cơ sở cung cấp dịch vụ cho nhóm đối tượng này. Trong phạm
vi nghiên cứu, đề tài đã lựa chọn Trung tâm CTXH Hà Nội, Ngôi nhà

đối với phụ nữ bị bạo lực tại Hà Nội
Việc tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ không phải là một khó khăn với
nhóm phụ nữ bị bạo lực trong nhiên cứu này. Việc tiếp cận ở mức
“bình thường” chiếm tỷ lệ cao nhất là 45%, tiếp đến là dễ tiếp cận
chiếm 25%, khó tiếp cận là 20% và rất dễ tiếp cận là 10%.
2.2.1. Dịch vụ tạm lánh (hỗ trợ nơi ăn, ở an toàn)

10


Có tới 98% phụ nữ bị bạo lực có nhu cầu được hỗ trợ dịch vụ
tạm lánh song do những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau mà chỉ có 25%
phụ nữ bị bạo lực cho biết đã sử dụng dịch vụ này ở những mức độ
khác nhau. Có trên 80% phụ nữ bị bạo lực nhận xét chất lượng dịch
vụ mà họ sử dụng ở mức rất tốt và tốt ở các nội dung về đảm bảo độ
an toàn, cơ sở vật chất và đáp ứng sinh hoạt cá nhân. Tuy nhiên, có
11,6% ý kiến cho rằng việc đảm bảo độ an toàn còn chưa tốt.
Kết quả khảo sát phản ánh mức độ hài lòng cao của những phụ
nữ tham gia khảo sát với dịch vụ hỗ trợ nơi ăn, ở an toàn khi tạm lánh,
50% rất hài lòng và 33,3% hài lòng.
2.2.2. Dịch vụ hỗ trợ y tế, chăm sóc sức khỏe
Có tới 68% số phụ nữ tham gia khảo sát cho biết đã sử dụng
dịch vụ này ở 03 đơn vị nghiên cứu. Kết quả khảo sát cho thấy mức
độ đánh giá chất lượng dịch vụ có những phản ánh cần lưu ý. Mặc dù
có nhiều ý kiến đánh giá chất lượng dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt ở
cả 3 yếu tố trang thiết bị y tế, khám và điều trị, sơ cứu ban đầu (tương
ứng: 43%, 47,2% và 47,2%), song cũng còn không ít ý kiến nhận xét
dịch vụ chưa tốt về trang thiết bị (16,6%), khám và điều trị vết
thương (9,7%) và sơ cứu ban đầu (5,5%).
Ý kiến mức độ đánh giá hài lòng đạt 41,6%, rất hài là 23,6%, hài

15,3% ý kiến chưa hài lòng với dịch vụ này.
2.2.6. Dịch vụ tái hòa nhập cộng đồng (hậu tạm lánh)
Hồi gia và tái hòa nhập cộng đồng được xác định là hoạt động
quan trọng hỗ trợ nạn nhân bị bạo lực chuyển giao sang cuộc sống tự
lập một cách bền vững bằng chính năng lực của họ. Có 50% phụ nữ
bị bạo lực trong nghiên cứu cho biết đã sử dụng dịch vụ này. Tuy

12


nhiên, việc đáp ứng chất lượng dịch vụ của mỗi đơn vị nghiên cứu
còn ở những mức độ khác nhau.
2.2.6.1. Đánh giá chất lượng dịch vụ
Kết quả khảo sát cho thấy phản hồi khá tích cực từ phía người
tham gia khảo sát về chất lượng của dịch vụ này. Nhiều ý kiến đánh
giá tốt cả về cách thức hỗ trợ, việc trang bị kỹ năng sống và duy trì
theo sau dõi hồi gia. Với 72% ý kiến đánh giá rất tốt và tốt ở mục
cách thức hỗ trợ (tương ứng là 20% và 525), trong khi đó tỷ lệ ở các
mức đánh giá này với tiêu chí trang bị kỹ năng sống cao hơn là 84%
(18% và 66%) và 70% ý kiến về nội dung duy trì theo dõi sau hồi gia.
Tỷ lệ người tham gia khảo sát hài lòng với dịch vụ là 46%, rất hài
lòng là 32%, bình thường là 16% và không hài lòng là 6%.
Đánh giá chung
Về cơ bản, dịch vụ CTXH hỗ trợ phụ nữ bị bạo lực đã đảm bảo
tính sẵn có và tính đáp ứng nhu cầu của nhóm đối tượng.
Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu phản ánh sự chênh lệch đáng kể
về phạm vi dịch vụ được cung cấp giữa 3 đơn vị tham gia nghiên cứu.
Sự chênh lệch này đi liền với khoảng cách về năng lực chuyên môn,
trình độ, kỹ năng của đội ngũ cán bộ, nhân viên CTXH; tầm nhìn
chiến lược cũng như định hướng cung cấp dịch vụ hỗ trợ đối tượng;

và chuyển gửi, can thiệp, quản lý ca tại cơ sở bảo trợ xã hội cho 5 đối
tượng hỗ trợ khẩn cấp.
Tiểu kết chương 2
Chương 2 mô tả việc lựa chọn 03 cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH
cho phụ nữ bị bạo lực tại Hà Nội là TT CTXH Hà Nội, NNBY và
Hagar để tiến hành khảo sát trên 2 nhóm khách thể. Nhóm khách thể

14


thứ nhất là phụ nữ bị bạo lực đã tiếp cận và sử dụng dịch vụ hỗ trợ tại
03 cơ sở nêu trên với những đặc điểm về độ tuổi, trình độ học vấn,
nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, thu nhập, các dạng bạo lực đã từng
trải nghiệm và những biểu hiện tâm lý khi bị bạo lực.
Trong chương này kết quả khảo sát cho thấy, bạo lực với phụ nữ
xảy ra ở mọi lứa tuổi, mọi thành phần, trình độ, nghề nghiệp, tình
trạng hôn nhân và dẫn tới nhiều biểu hiện tâm lý tiêu cực. Để giảm
bớt những khó khăn trong cuộc sống, họ có nhu cầu được hỗ trợ về
tạm lánh, tư vấn tâm lý, hỗ trợ y tế, chăm sóc sức khỏe, đào tạo nghề,
giới thiệu việc làm và tái hòa nhập cộng đồng.
Đội ngũ cán bộ, NVCTXH hầu hết đều có trình độ đại học trở
lên, được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng CTXH đã có nhiều
nỗ lực để hỗ trợ cho nhóm phụ nữ bị bạo lực thông qua các dịch vụ ở
đơn vị mình.
Việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ hỗ trợ của nhóm đối tượng
này đã được đáp ứng một cách cơ bản. Ở một số dịch vụ như tư vấn
tâm lý, hỗ trợ pháp lý có tỷ lệ nạn nhân tiếp cận rất cao. Song việc
cung cấp dịch vụ cho nhóm đối tượng này còn nhiều khó khăn, rào
cản xuất phát từ cả nguyên nhân chủ quan và khách quan.
Tuy nhiên, phạm vi dịch vụ và chất lượng đáp ứng có sự khác

yếu thế, đặc biệt là nhóm phụ nữ bị bạo lực trên cơ sở giới.
- Xây dựng và ban hành cơ chế phối hợp liên ngành cùng với
quy trình tiếp nhận, chuyển gửi giữa các cơ sở cung cấp dịch vụ hỗ

16


trợ nạn nhân bị bạo lực để tạo điều kiện cho các nạn nhân bị BLG,
BLGĐ được tiếp cận dịch vụ này một cách thuận lợi và hiệu quả.
- Hoàn thiện cơ chế chính sách xã hội hóa dịch vụ CTXH nhằm
thu hút sự tham gia cũng như tăng cường nguồn lực, cách làm hay từ
các tổ chức, cá nhân trong xã hội để nâng cao chất lượng dịch vụ
CTXH.
3.2. Nhóm các giải pháp tuyên truyền, nâng cao nhận thức
về phòng, chống bạo lực với phụ nữ và dịch vụ CTXH hỗ trợ phụ
nữ bị bạo lực
- Tăng cường truyền thông thúc đẩy thực hiện bình đẳng giới,
phòng ngừa và ứng phó với BLG cho toàn dân với nhiều hình thức đa
dạng, phong phú và phù hợp với từng nhóm đối tượng, lứa tuổi, điều
kiện phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng miền, trong đó chú
trọng tới nhóm cán bộ xây dựng chính sách, pháp luật, giới trẻ và
nam giới để tiến tới thay đổi hành vi, thay đổi thái độ về thực hiện
bình đẳng giới và xóa bỏ BLG, đặc biệt là bạo lực với phụ nữ và trẻ
em gái.
- Đẩy mạnh tuyên truyền, giới thiệu các mô hình điểm về cung
cấp dịch vụ CTXH cho phụ nữ bị bạo lực đã làm tốt; các tấm gương
về phòng chống, ứng phó bạo lực điển hình trong cộng đồng.
- Quan tâm tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về nghề
CTXH, dịch vụ CTXH trong cộng đồng, xã hội để người dân hiểu rõ
hơn lĩnh vực công việc cũng như các dịch vụ CTXH liên quan. Tăng

Trung tâm CTXH, các cơ sở cung cấp dịch vụ hỗ trợ nạn nhân bị bạo
lực ở cấp cộng đồng nhằm đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất về quy

18


chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật (điều kiện tiêu chuẩn kỹ thuật, trang thiết
bị của nhà tạm lánh) và quy trình cung cấp dịch vụ CTXH cho phụ
nữ bị bạo lực.
- Nghiên cứu hoàn thiện và mở rộng các dịch vụ CTXH hỗ trợ
phụ nữ bị bạo lực ở các góc độ đa ngành, đa chiều
- Xây dựng và phát triển mạng lưới cung cấp dịch vụ CTXH hỗ
trợ phụ nữ bị bạo lực theo cả chiều ngang và chiều dọc, từ cấp trung
ương đến cấp cơ sở, cộng đồng để đảm bảo việc tiếp cận và thụ
hưởng dịch vụ của đối tượng một cách thuận lợi nhất, đồng thời cũng
đảm bảo cho cơ chế chuyển gửi được thực hiện một cách hiệu quả.
- Nghiên cứu nhân rộng mô hình cung cấp gói dịch vụ toàn diện
hỗ trợ phụ nữ bị bạo lực như Hagar Internation đang triển khai với
một chu trình tổng thể, toàn diện từ khi tiếp nhận cho tới khi thân chủ
tái hòa nhập cộng đồng thành công trong phạm vi toàn quốc. Việc
cung cấp gói dịch vụ hỗ trợ toàn diện được triển khai trên phương
diện lấy lợi ích của con người làm trung tâm và dựa trên nhu cầu thực
tế của con người để cung cấp dịch vụ.
Tiểu kết chương 3
Việc đánh giá tổng quan những điểm mạnh, hạn chế trong việc
cung cấp dịch vụ CTXH cho phụ nữ bị bạo lực tại 03 cơ sở được lựa
chọn là cơ sở để tác giả đề xuất các nhóm giải pháp cụ thể nhằm nâng
cao chất lượng cung cấp dịch vụ CTXH cho phụ nữ bị bạo lực, đó là
Thứ nhất, nhóm giải pháp thể chế, chính sách, pháp luật cần
được tiếp tục hoàn thiện hơn nữa nhằm đảm bảo hành lang pháp lý


KẾT LUẬN
Tình trạng bạo lực với phụ nữ diễn ra khá phổ biến ở mọi
quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Các số liệu, bằng chứng
cho thấy, bạo lực với phụ nữ xảy ra ở mọi vùng miền, mọi lứa tuổi,
dân tộc, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân và tác động xấu tới sự
phát triển của mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội. Việc chấm
dứt bạo lực với phụ nữ không phải là trách nhiệm của một đơn vị,
ngành nào và cũng không thể thực hiện được trong thời gian ngắn,
mà đòi hỏi cần có sự chung tay, vào cuộc của các cấp, các ngành và
mọi tầng lớp nhân dân.
Để khắc phục tình trạng này, các cơ quan chức năng ở trung
ương và địa phương đã triển khai nhiều giải pháp như hoàn thiện hệ
thống chính sách, pháp luật, chương trình về bình đẳng giới và phòng,
chống BLG, BLGĐ; tăng cường truyền thông nâng cao nhận thức,
thay đổi hành vi của người dân nhằm xóa bỏ bất bình đẳng giới và
BLG, BLGĐ; xây dựng và triển khai các mô hình phòng ngừa và ứng
phó với bạo lực trên cơ sở giới, bạo lực gia đình ở cấp cộng đồng.
Trong hơn một thập kỷ vừa qua, lĩnh vực CTXH nói chung,
dịch vụ CTXH hỗ trợ các nhóm đối tượng yếu thế nói riêng đã từng
bước phát triển, đóng góp tích cực trong việc thực hiện các chính
sách an sinh xã hội của đất nước. Mạng lưới cơ sở cung cấp dịch vụ
CTXH hỗ trợ nạn nhân bị bạo lực đã dần được hình thành, phát triển
và bước đầu đã có những tác động tích cực, đóng góp vào quá trình
thực thi chính sách, pháp luật về phòng ngừa và ứng phó với BLG,
BLGĐ. Thành phố Hà Nội là một trong những địa phương đi tiên

21



thực hiện thành công các chính sách, pháp luật, chương trình, đề án
đề ra ở các góc độ cụ thể như: hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp
luật liên quan đến CTXH, dịch vụ CTXH và phòng, chống BLG,
BLGĐ, tạo hành lang pháp lý cho việc triển khai các dịch vụ một
cách đồng bộ, hiệu quả và đáp ứng thực tiễn cuộc sống; đẩy mạnh
truyền thông nâng cao nhận thức của người dân về phòng, chống
BLG, BLGĐ và hệ thống/mạng lưới cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH
đối với nạn nhân bị bạo lực; nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ,
nhân viên cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho phụ nữ bị bạo lực nhằm đảm
bảo tính chuyên nghiệp và chất lượng dịch vụ; xây dựng và phát triển
các mô hình dịch vụ CTXH cho phụ nữ bị bạo lực theo hướng đa
ngành, đa chiều và cần sớm nhân rộng gói hỗ trợ toàn diện cho phụ
nữ bị bạo lực.

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status