Dịch vụ công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực từ thực tiễn của thành phố hà nội - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ BÍCH LOAN

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN THỊ THÁI LAN

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ
Công tác xã hội về “Dịch vụ công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực từ thực tiễn
thành phố Hà Nội” là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác
trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn

Trần Thị Bích Loan


MỤC LỤC

BLG:

Bạo lực trên cơ sở giới

BLGĐ:

Bạo lực gia đình

BTXH:

Bảo trợ xã hội

Bộ LĐTBXH:

Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội

Bộ VHTTDL:

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch

CTXH:

Công tác xã hội

ĐCTC:

Địa chỉ tin cậy

Hagar:


có phá thai và trầm cảm cao gấp 2 lần, ở một vài khu vực nguy cơ nhiễm HIV cao
hơn 1,5 lần so với phụ nữ không bị bạo lực. Trên thế giới, hơn 700 triệu phụ nữ lập
gia đình dưới 18 tuổi và trong số này cứ trong 3 người thì có hơn 1 người kết hôn
dưới 15 tuổi. Khoảng 120 triệu trẻ em gái trên toàn thế giới từng bị ép buộc quan hệ
tình dục hoặc các hành vi tình dục cưỡng ép khác tại một thời điểm trong cuộc đời.
Phụ nữ trưởng thành chiếm gần một nửa số nạn nhân bị buôn bán được phát hiện
trên toàn cầu. Tuy nhiên, ở hầu hết các quốc gia, dưới 40% phụ nữ là nạn nhân của
bạo lực có nhu cầu tìm kiếm sự giúp đỡ, trong đó, dưới 10% tìm kiếm sự giúp đỡ
của cảnh sát [58].
Điều tra quốc gia về bạo lực gia đình đối với phụ nữ Việt Nam của Tổng cục
Thống kê năm 2010 cho thấy bạo lực đối với phụ nữ đang diễn ra khá phức tạp và
để lại nhiều hậu quả tiêu cực. Có 1/3 (34%) số phụ nữ đã từng kết hôn phải chịu bạo
hành về mặt thể xác hoặc tình dục gây ra bởi chồng trong cuộc đời. Tại một số vùng,
cứ mười phụ nữ thì có bốn người nhận thấy gia đình không phải là nơi an toàn đối
với họ.So với những phụ nữ chưa từng bị bạo hành thì những người đã từng bị
chồng bạo hành có nhiều khả năng bị bệnh tật và sức khỏe kém hơn gần hai lần và
khả năng nghĩ đến việc tự tử nhiều hơn gấp ba lần [33].
Tại Việt Nam, bạo lực đối với phụ nữ không chỉ diễn ra trong gia đình mà còn
ở các góc độ như: tảo hôn, cưỡng ép kết hôn; mua bán, lạm dụng, quấy rối, xâm hại
tình dục phụ nữ và trẻ em gái ở nơi làm việc, trường học, nơi công cộng; bị ép kết
hôn với người nước ngoài vì lý do kinh tế; nạo phá thai để lựa chọn giới tính thai
nhi gây nên mất cân bằng giới tính khi sinh [4].

1


Bạo lực với phụ nữ đã và đang gây ra những hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng
tới sự phát triển của cá nhân, cộng đồng và xã hội. Có gần 1/3 phụ nữ cho biết công
việc của họ bị gián đoạn bởi người chồng; 16% không thể tập trung vào công việc;
6,6% không có khả năng làm việc do ốm đau; 7% mất tự tin; phụ nữ từng bị bạo lực

Rà soát hệ thống/mạng lưới các cơ sở cung cấp dịch vụ xã hội hiện nay ở Việt
Nam đã có các cơ sở cung cấp dịch vụ công lập, ngoài công lập, tư nhân, tôn giáo
(chùa, nhà thờ) và của các tổ chức xã hội. Ở góc độ đối tượng thụ hưởng, tiếp cận
dịch vụ thì hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ xã hội hiện đang có: hệ thống/mạng
lưới cơ sở cung cấp dịch vụ cho trẻ em, đặc biệt là những trẻ em có hoàn cảnh khó
khăn; cho người cao tuổi; cho phụ nữ, đặc biệt là dịch vụ cho phụ nữ bị BLGĐ, bị
buôn bán; cho người có HIV/AIDS và cho người khuyết tật [25].
Chỉ tính riêng các cơ sở hỗ trợ nạn nhân bị BLGĐ, bị buôn bán, theo con số
thống kê chưa đầy đủ trên toàn quốc hiện có 9.157 cơ sở tư vấn, 9.483 cơ sở khám
chữa bệnh, 778 cơ sở bảo trợ xã hội, 6.625 cơ sở hỗ trợ nạn nhân và 31.072 địa chỉ
tin cậy ở cộng đồng [11].
Theo thống kê của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, hiện có 34 Trung
tâm CTXH đã được thành lập ở các tỉnh, thành phố, song mới có một vài tỉnh triển
khai hệ thống này xuống tuyến dưới, còn chủ yếu là ở cấp tỉnh [5]. Nhóm đối tượng
có thể tiếp cận dịch vụ do Trung tâm công tác xã hội (CTXH) cung cấp không chỉ là
những người thuộc diện hưởng chính sách xã hội mà đã mở rộng tới những người
dân có nhu cầu trong cuộc sống. Dịch vụ mà Trung tâm CTXH cung cấp không chỉ
theo chính sách mà bao gồm hoạt động quản lý ca, tham vấn, tư vấn, can thiệp trị
liệu nhóm, vãng gia, truyền thông cộng đồng...
Năm 2016, tại Hà Nội có 622 cơ sở tư vấn về BLGĐ; 395 cơ sở khám chữa
bệnh; 47 cơ sở BTXH (trong đó có 15 cơ sở BTXH công lập); 269 cơ sở hỗ trợ nạn
nhân BLGĐ; 1.078 địa chỉ tin cậy ở cộng đồng [11].
Nếu chỉ nhận định dựa trên số liệu định lượng về số cơ sở hỗ trợ dịch vụ cho
nạn nhân bị bạo lực, bị xâm hại và buôn bán, bước đầu có thể yên tâm rằng hệ thống
cung cấp dịch vụ cho nạn nhân bị bạo lực đã được thiết lập. Song thực tế hệ
thống/mạng lưới cung cấp dịch vụ này hoạt động như thế nào, chất lượng dịch vụ có
đáp ứng được nhu cầu tiếp cận và sử dụng dịch vụ của người dân nói chung và phụ
nữ bị bạo lực nói riêng hay không thì là một vấn đề cần được tìm hiểu, đánh giá một
cách hệ thống và toàn diện.
Bên cạnh đó, với quá trình hình thành và phát triển hơn một thế kỷ, những

dọa và tìm kiếm họ. Với nhóm phụ nữ này, các dịch vụ xã hội đem đến cho họ
nhiều sự trợ giúp hữu ích như cung cấp thức ăn, chỗ ở, chăm sóc y tế, hỗ trợ tài
chính và các hình thức bảo vệ xã hội. Điều đáng quan ngại là các dịch vụ xã hội
cũng gặp nhiều khó khăn trong việc trợ giúp các nạn nhân do sự hạn chế về nguồn
lực tài chính. Bởi vậy, sự trợ giúp của họ mới chỉ mang tính tạm thời và ngắn hạn [64].

4


McLeod, A.L và các cộng sự có bài viết về“Kinh nghiệm tiếp cận các nguồn
lực hỗ trợ của những phụ nữ là nạn nhân của bạo lực – Female Intimate partner
violence survivors experience with necessary resources” đăng trên Tạp chí Tư vấn
và Phát triển (Journal of Counselling and Development) số 88 cho thấy, gia đình và
những người thân thường giúp đỡ nạn nhân có được chỗ ở an toàn sau khi bạo lực
gia đình xảy ra. Tuy nhiên, tâm lý sợ hãi, xấu hổ của bản thân các nạn nhân hoặc
suy nghĩ không dám rời bỏ người chồng của mình bởi điều đó có thể khiến họ phải
từ bỏ ngôi nhà, con cái và các mối quan hệ thân thuộc cũng là rào cản đối với phụ
nữ trong việc tìm kiếm sự trợ giúp từ phía mạng lưới các mối quan hệ xã hội của
mình. Đối với các nhà công tác xã hội và cán bộ tư vấn, McLeod và các cộng sự cho
rằng các nhà tư vấn cần hiểu và đánh giá một cách đầy đủ về các nguồn lực cá nhân
của nạn nhân và khả năng tiếp cận các nguồn lực của họ, từ đó cung cấp cho họ sự
bảo vệ và trợ giúp một cách phù hợp nhất [52].
Năm 2014, Liên hợp quốc xuất bản cuốn tài liệu“Từ bạo lực gia đình đến bạo
lực giới tại Việt Nam: mối liên hệ giữa các hình thức bạo lực” đã đưa ra những
nhận định như sau: Bạo lực giới là một hiện tượng phổ biến và phức tạp, thể hiện
dưới nhiều hình thức, từ bạo lực gia đình đến quấy rối tình dục. Bạo lực giới duy trì
sự bất bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ và là động lực duy trì, tăng cường các vai
trò giới truyền thống. Trong mọi hình thức của bạo lực giới, phần lớn nạn nhân là
phụ nữ và trẻ em gái nhưng họ lại ít được tiếp cận và nhận được dịch vụ hỗ trợ pháp
lý. Và sự thiếu hụt quyền lực của phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội dẫn đến tình

quyền khác nhau, đặc biệt là giữa cơ sở y tế, công an, các tổ chức đoàn thể và đơn
vị cung cấp dịch vụ TGPL [45].
Năm 2013, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã phối hợp với Quỹ dân
số Liên hợp quốc (UNFPA) tại Việt Nam thực hiện Báo cáo nghiên cứu rà soát bạo
lực trên cơ sở giới ở Việt Nam, trong đó đề cập tới thực trạng các mô hình, hoạt
động can thiệp về bạo lực trên cơ sở giới được triển khai từ năm 2007 đến 2013
như: các CLB/ nhóm tự lực về phòng, chống bạo lực gia đình; Tổ hòa giải; đường
dây nóng (hotline); sàng lọc tại các cơ sở y tế; Đội can thiệp/nhóm phòng, chống
bạo lực gia đình; hỗ trợ pháp lý; nhà tạm lánh; địa chỉ tin cậy (ĐCTC) tại cộng
đồng; đào tạo nghề, hỗ trợ vốn cho nạn nhân bạo lực gia đình. Mô hình ĐCTC tại
cộng đồng đã được triển khai rộng khắp tại các địa phương và thường được đặt tại
nhà cán bộ chủ chốt của Hội Phụ nữ, Hội nông dân, Hội cựu chiến binh. Trong bối
cảnh thiếu nguồn kinh phí để vận hành các nhà tạm lánh thì địa chỉ tin cậy được
xem là một giải pháp lựa chọn tiềm năng. Tuy nhiên, mô hình này còn nhiều thách

6


thức do chưa có một tiêu chuẩn thống nhất về cơ sở vật chất cũng như dịch vụ để
đảm bảo sự an toàn cho những người phụ nữ và gia đình chủ nhà của ĐCTC [6].
Năm 2015, Viện Nghiên cứu phát triển xã hội công bố Báo cáo “Các yếu tố xã
hội quyết định bất bình đẳng giới ở Việt Nam”. Đây là công trình nghiên cứu từ
2012-2015. Trong nghiên cứu định tính, một số người cho biết, phụ nữ không được
khuyến khích tố cáo bạo lực. Trong trường hợp phụ nữ tố cáo bị chồng bạo hành thì
họ không chỉ là nạn nhân của bạo lực gia đình mà còn là nạn nhân của định kiến xã
hội. Điều này có thể giải thích vì sao sự can thiệp của cơ quan pháp luật thường rất hạn
chế, kể cả với những trường hợp bạo hành nghiêm trọng, kéo dài [47].
Tìm hiểu các nghiên cứu về việc tiếp cận dịch vụ và các mô hình can thiệp, hỗ
trợ nhóm phụ nữ bị bạo lực cũng như về hoạt động thực hành CTXH đối với nhóm
phụ nữ bị bạo lực ở Việt Nam nói chung và tại địa bàn Hà Nội nói riêng, tác giả

bạo lực trên địa bàn thành phố Hà Nội cũng như các yếu tố ảnh hưởng tới việc cung
cấp dịch vụ CTXH cho nhóm đối tượng này.
Dựa trên những kết quả nghiên cứu, đưa ra những phát hiện có tính thực tiễn
sát với nhu cầu tiếp cận và sử dụng dịch vụ CTXH của nhóm đối tượng này, làm
căn cứ để đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ CTXH
cho phụ nữ bị bạo lực.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:
3.2.1. Rà soát khung chính sách, pháp luật liên quan tới việc cung cấp dịch vụ
trợ giúp nạn nhân bị bạo lực.
3.2.2. Tìm hiểu những đánh giá, nhận định của nạn nhân và nhân viên CTXH
về thực trạng cung cấp dịch vụ CTXH cho nhóm phụ nữ bị bạo lực.
3.2.3. Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy hiệu quả dịch vụ CTXH đối với
nhóm phụ nữ bị bạo lực trên địa bàn nghiên cứu.
4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Dịch vụ công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực tại thành phố Hà Nội
4.2. Khách thể nghiên cứu
- Phụ nữ bị bạo lực có nhu cầu tiếp cận và sử dụng các dịch vụ CTXH tại địa
bàn thành phố Hà Nội.
- Cán bộ, nhân viên của Trung tâm cung cấp dịch vụ Công tác xã hội (TT
CTXH) Hà Nội, Ngôi nhà Bình Yên (NNBY) thuộc Trung tâm Phụ nữ và Phát triển
(Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam) và Hagar International Việt Nam (Hagar).
- Cán bộ quản lý nhà nước lĩnh vực CTXH.

8


4.3. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu đi vào tìm hiểu việc cung cấp dịch vụ CTXH cho phụ nữ bị



- Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng và lịch sử: từ những đánh giá về
thực trạng phụ nữ bị bạo lực, thực trạng cung cấp dịch vụ CTXH đối với phụ nữ bị
bạo lực tại Hà Nội rút ra được những lý luận và đưa ra được những đề xuất về biện
pháp để nâng cao hiệu quả CTXH đối với nhóm phụ nữ bị bạo lực tại Hà Nội.
- Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: nghiên cứu hệ thống những lý
thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống chính sách hỗ trợ đối với phụ nữ bị
bạo lực trong nước và quốc tế.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp phân tích tài liệu: sử dụng các thông tin, số liệu, tài liệu
từ các nguồn tài liệu đã được công bố để phục vụ cho quá trình nghiên cứu. Những
thông tin tác giả thu thập được xử lý một cách khoa học, mang tính chất định tính và
định lượng để đảm bảo tính khách quan cho thông tin nhưng vẫn chứa đựng được
nội hàm của Luận văn.
5.2.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: là phương pháp dựa trên hình
thức hỏi đáp gián tiếp dựa trên bảng các câu hỏi được soạn thảo trước, điều tra viên
tiến hành phát bảng hỏi, hướng dẫn thống nhất cách trả lời các câu hỏi, người được
hỏi tự đọc các câu hỏi trong bảng hỏi và ghi cách trả lời của mình vào phiếu hỏi rồi
gửi lại cho các điều tra viên.
Với phương pháp này, tác giả sẽ tiến hành khảo sát 100 phụ nữ bị bạo lực đã
tiếp cận dịch vụ hỗ trợ của TT CTXH Hà Nội (20 phiếu), NNBY (50 phiếu) và
Hagar (30 phiếu); 20 người là lãnh đạo và NVCTXH của 03 đơn vị khách thể
nghiên cứu nhằm thu thập thông tin về các nhu cầu tiếp cận dịch vụ CTXH của phụ
nữ bị bạo lực và thực trạng việc cung cấp dịch vụ cũng như mức độ đáp ứng về chất
lượng, hiệu quả dịch vụ từ phía các cơ sở cung cấp dịch vụ.
5.2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu:
Thông tin được thu thập qua phỏng vấn 15 phụ nữ bị bạo lực, 07 nhân viên xã
hội, 02 cán bộ quản lý nhà nước về CTXH. Mục đích sử dụng phương pháp này để
xem xét nghiên cứu một cách sâu sắc, có căn cứ và cũng là hiểu rõ bản chất nguồn

Đối với các chính sách hỗ trợ dịch vụ dành cho phụ nữ bị bạo lực trên địa bàn
nghiên cứu: Trên cơ sở rà soát, đánh giá hệ thống cung cấp dịch vụ CTXH dành cho
phụ nữ bị bạo lực trên địa bàn thành phố Hà Nội, đề tài hướng tới việc chỉ ra một số
khía cạnh để hiểu về thực trạng cung cấp dịch vụ hỗ trợ nạn nhân bị bạo lực. Từ
việc đánh giá thực trạng, đề tài góp phần đưa ra một số khuyến nghị nâng cao hiệu
quả cung cấp dịch vụ nói chung và dịch vụ CTXH nói riêng dành cho phụ nữ bị bạo
lực tại địa phương.

11


Đối với ngành CTXH: từ việc đánh giá thực trạng cung cấp dịch vụ CTXH
dành cho phụ nữ bị bạo lực tại TT CTXH Hà Nội, NNBY và Hagar, đề tài cũng
nhằm bổ sung thêm một số thông tin, nghiên cứu thực tiễn về lĩnh vực này. Bên
cạnh việc phát hiện, chỉ ra những tồn tại trong quá trình cung cấp dịch vụ dành cho
phụ nữ bị bạo lực, đề tài nhằm góp phần làm rõ hơn vai trò cụ thể của NVCTXH
trong quá trình trợ giúp một cách hiệu quả nhất cho phụ nữ bị bạo lực.
Đối với các nhà hoạch định chính sách: các chính sách trợ giúp luôn nằm
trong mối quan hệ biện chứng với thực tế xã hội và luôn biến đổi. Đề tài hướng đến
việc đề xuất một số khuyến nghị làm cơ sở cho quá trình hoạch định, bổ sung chính
sách của nhà nước trong vấn đề cung cấp dịch vụ CTXH đối với nạn nhân bị bạo lực.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục,
nội dung chính của luận văn được trình bày theo 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực
Chương 2: Thực trạng cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo
lực trên địa bàn thành phố Hà Nội
Chương 3: Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc cung cấp dịch vụ công
tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực từ thực tiễn thành phố Hà Nội


1.1.2. Các hình thức của bạo lực đối với phụ nữ
Bạo lực đối với phụ nữ là một khái niệm rộng, vì vậy ở nghiên cứu này phân
loại bạo lực với phụ nữ theo 4 hình thức sau [31]:

13


Bạo lực thể chất: bao gồm tất cả những hành động gây thương tích đối với cơ
thể của phụ nữ hoặc trẻ em gái. Dạng bạo lực này có thể nhận biết rõ ràng qua các
hành vi như: tát, đánh đập, đấm, đá, hành hung bằng hung khí và có thể làm nguy
hại đến tính mạng của nạn nhân. Đây là hình thức dễ nhận biết nhất của bạo lực nên
nó có thể che giấu các hình thức bạo lực khác xảy ra cùng thời điểm (như bạo lực
tình dục, kinh tế hoặc tinh thần).
Bạo lực tinh thần: bao gồm sự ngược đãi về tinh thần, lời nói như là quát
mắng, lạm dụng, coi thường, nhục mạ, cô lập. Thông thường, bạo lực tinh thần hạn
chế khả năng tự đánh giá bản thân của phụ nữ, dẫn đến sự tự hạ thấp bản thân mình,
trầm cảm, giảm cơ hội/khả năng kêu gọi sự giúp đỡ của bạn bè và gia đình. Mọi
hình thức bạo lực đều gây ra những hậu quả về tinh thần cho phụ nữ.
Bạo lực tình dục: là hành vi quấy rối tình dục hoặc cưỡng ép quan hệ tình dục
ngoài ý muốn của nạn nhân, sử dụng những lời lẽ hoặc hành động cưỡng ép nạn
nhân thực hiện những hành vi tình dục. Hành vi bạo lực tình dục gồm: các biểu hiện
cưỡng ép quan hệ tình dục trái ý muốn, tấn công/quấy rối tình dục, bắt mang thai,
nạo phá thai, ép xem các ấn phẩm đồi trụy, chứng kiến các hành vi tình dục của
người khác... Hành vi này có thể diễn ra cả trong quan hệ vợ chồng, bạn tình.
Bạo lực kinh tế: là hành vi nhằm xóa bỏ sự độc lập kinh tế của nạn nhân, bao
gồm các hành vi đập phá tài sản của nạn nhân, phá hủy/ngăn cản công ăn việc làm;
bắt đóng góp kinh tế quá khả năng; kiểm soát tiền bạc hoặc chi tiêu của nạn nhân;
ép buộc các nạn nhân lao động quá sức hoặc đóng góp vượt quá khả năng thu nhập
của họ, kiểm soát thu nhập và từ đó gây ra sự phụ thuộc về tài chính.
1.1.3. Đặc điểm tâm lý và nhu cầu của phụ nữ bị bạo lực

khủng hoảng, đồng thời trang bị thêm cho họ kiến thức, kỹ năng để họ có thể tự bảo
vệ bản thân mình tốt hơn khi bị căng thẳng, đau buồn do bị bạo lực. Việc tư vấn,
tham vấn tâm lý cho nhóm đối tượng này cần tạo được tin tưởng, thấu hiểu, đồng
cảm, chia sẻ, không đổ lỗi, lên án hay kỳ thị, phân biệt đối xử về nguyên nhân gây
bạo lực hay sự phản kháng lại hành vi bạo lực của người gây bạo lực [61, 62].
Thư tư, nhu cầu được hỗ trợ tư vấn pháp lý, đại diện ngoài tố tụng, thực hiện
kiến nghị, hòa giải, đặc biệt trong các trường hợp phụ nữ ly hôn, bị xâm hại tình dục
hay bị lừa bán làm mại dâm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người phụ nữ
cũng như xét xử công minh những kẻ vi phạm pháp luật [61, 62].
Thứ năm, nhu cầu được học nghề, tạo việc làm hoặc những giải pháp hỗ trợ
sinh kế bền vững để giúp phụ nữ bị bạo lực tự tin, độc lập, tự chủ đối với cuộc sống
của mình [62].

15


Thứ sáu, nhu cầu tái hòa nhập cộng đồng, không bị kỳ thị, phân biệt đối xử,
đặc biệt với nhóm phụ nữ bị buôn bán, phụ nữ làm mại dâm [62].
1.1.4.Các lý thuyết tiếp cận đối với phụ nữ bị bạo lực
1.1.4.1. Thuyết Nhu cầu của Abraham Maslow:
Maslow (1908-1970), là nhà tâm lý học nổi tiếng người Mỹ. Ông là người
phát triển lý thuyết về nhu cầu của con người. Maslow đã sắp xếp các nhu cầu của
con người theo 5 cấp bậc: nhu cầu cơ bản (ăn, uống, hít thở không khí...); nhu cầu
về an toàn (tình yêu thương, nhà ở, việc làm); nhu cầu xã hội (được hòa nhập); nhu
cầu được quý trọng (có vị trí trong một nhóm người, cộng đồng, xã hội); nhu cầu
được thể hiện mình (được hoàn thiện, phát triển trí tuệ, được thể hiện khả năng và
tiềm lực của mình).
Sơ đồ 1.1: Cấu trúc tháp nhu cầu của Maslow

(Nguồn )

Việc ứng dụng lý thuyết này trong quá trình thực hành CTXH có quan hệ và
cần thiết nhất trong suốt quá trình bắt đầu của tiến trình trợ giúp, khi các vấn đề của
thân chủ bắt đầu được định rõ và lượng giá. Lý thuyết này cũng hướng nhân viên
CTXH có thể nhận biết những điểm khả thi và các mức độ can thiệp với vấn đề của
thân chủ, sau đó lựa chọn một hay nhiều cách tiếp cận phù hợp và hiệu quả nhất.
Áp dụng lý thuyết này trong trường hợp hỗ trợ phụ nữ bị bạo lực, nhân viên
CTXH sẽ rà soát, đánh giá các mối quan hệ xã hội, các nguồn lực hỗ trợ bên trong
và bên ngoài cho thân chủ nhằm lý giải và đánh giá đúng mức độ tác động để tìm ra
nguyên nhân từ đó giải quyết vấn đề bằng cách kết nối các nguồn lực. Song song
với quá trình can thiệp từng vấn đề cụ thể, nhân viên CTXH có thể kết hợp, huy
động các nguồn lực sẵn có, những dịch vụ còn ẩn hoặc thân chủ chưa có điều kiện
tiếp cận để giúp cho quá trình can thiệp được hiệu quả [63].
1.1.4.3. Lý thuyết thân chủ trọng tâm

17


Thuyết thân chủ trọng tâm do nhà tâm lý học Carl Rogers (1902-1987) phát
triển. Lý thuyết nhấn mạnh vào việc lấy con người làm trung tâm, thuyết tập trung
vào làm rõ cái tôi, tìm kiếm sự thể hiện cho chính bản thân mình. Mục đích của
thuyết này là khuyến khích thân chủ tự hiện thực hóa tiềm năng của bản thân, tạo
điều kiện dễ dàng cho sự phát triển tâm lý của thân chủ [23].
Lý thuyết này được áp dụng nhiều trong quá trình tham vấn cho thân chủ là
những nạn nhân bị bạo hành bởi những định kiến giới. Trong nhiều trường hợp,
nhân viên công tác xã hội (NVCTXH) không chỉ đơn thuần là người tìm kiếm và
liên kết các nguồn lực mà còn đóng vai trò là nhà tham vấn và hỗ trợ tham vấn cho
thân chủ. Thuyết này giúp cho NVCTXH luôn có niềm tin vào thân chủ, vào sự
thay đổi của thân chủ. Do đó, trong quá trình thực hành CTXH, nhân viên xã hội
phải thể hiện sao cho thân chủ thấy yên tâm, đáng tin cậy, biết lắng nghe, thấu hiểu
và đồng cảm với hoàn cảnh của thân chủ.

coi là một loại hình dịch vụ xã hội do các nhân viên công tác xã hội cung cấp [25].
Dịch vụ công tác xã hội cho các nhóm đối tượng yếu thế được tác giả Hà Thị
Thư (2016) định nghĩa là "việc cung cấp các hoạt động mang tính chất phòng ngừa khắc phục rủi ro và hoà nhập cộng đồng cho các nhóm đối tượng yếu thế dựa trên
các nhu cầu cơ bản của họ nhằm đảm bảo các giá trị và chuẩn mực xã hội" [38,
tr.195].
Theo tác giả, dịch vụ CTXH là các hoạt động, chương trình can thiệp, hỗ trợ ở
cả 3 cấp độ vi mô, trung mô và vĩ mô nhằm giúp các cá nhân, gia đình, nhóm, cộng
đồng và xã hội giải quyết vấn đề, tồn tại. Như vậy, dịch vụ CTXH bao gồm các dịch
vụ như tham vấn, quản lý ca, triển khai các chương trình hỗ trợ, các hoạt động
nhóm, các hoạt động phát triển cộng đồng, các hoạt động xây dựng và đánh giá
chính sách, ...
Khái niệm dịch vụ công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, dịch vụ CTXH đối với phụ nữ bị bạo lực
được hiểu là một số hoạt động mang tính chuyên nghiệp nhằm phòng ngừa, hạn chế,
khắc phục rủi ro, đảm bảo đáp ứng nhu cầu cơ bản cho phụ nữ bị bạo lực như dịch
vụ tạm lánh, chăm sóc sức khỏe, tư vấn/tham vấn tâm lý, pháp lý, hỗ trợ học nghề,
giới thiệu việc làm ....

19


1.2.2. Các dịch vụ công tác xã hội đối với phụ nữ bị bạo lực
1.2.2.1. Dịch vụ tạm lánh (hỗ trợ nơi ăn, ở an toàn)
Dịch vụ tạm lánh hỗ trợ cho người bị bạo lực nơi ăn, ở an toàn tạm thời, khẩn
cấp khi bạo lực xảy ra. Đây là dịch vụ có ý nghĩa rất quan trọng, giúp người bị bạo
lực được bảo đảm an toàn, được cách ly khỏi người gây bạo lực.
Người bị bạo lực có thể tạm lánh trong vài giờ đến một vài ngày hoặc một vài
tháng. Ở nơi tạm lánh, họ sẽ được hỗ trợ y tế, chăm sóc sức khỏe, được hỗ trợ một
số vật dụng cá nhân cần thiết để duy trì sinh hoạt hàng ngày, được tư vấn tâm lý và
có thể được hỗ trợ một số dịch vụ khác tùy thuộc vào nhu cầu của người bị bạo lực

Trong cuốn tài liệu hướng dẫn về Gói dịch vụ cần thiết hỗ trợ phụ nữ bị bạo
lực, các cơ quan của Liên hợp quốc nêu rõ dịch vụ trợ giúp pháp lý có vai trò đặc
biệt quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ bị bạo lực, đặc biệt
trong trường hợp nạn nhân quyết định chọn li hôn, nạn nhân bị lừa bán hoặc bị xâm
hại tình dục [62].
Cán bộ tham vấn và nhân viên xã hội thực hiện việc tham vấn, cung cấp thông
tin về luật pháp, chính sách liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ
hoặc phối hợp với cơ quan TGPL, các luật sư để tư vấn, hỗ trợ giải quyết các vấn đề
liên quan trong quá trình tố tụng tại Tòa án, Viện Kiểm sát, cơ quan Công an hoặc
được luật sự bảo vệ, bào chữa tại Tòa án.
1.2.2.5. Dịch vụ hỗ trợ đào tạo nghề, giới thiệu việc làm
Dịch vụ hỗ trợ đào tạo nghề, giới thiệu việc làm nhằm giúp nạn nhân bị bạo
lực có cơ hội học tập, nâng cao tay nghề và việc làm, từ đó có thu nhập ổn định để
đảm bảo cuộc sống, tái hòa nhập cộng đồng bền vững.
Nhân viên xã hội sẽ đánh giá nhu cầu và khả năng thực tế của người bị bạo
lực,trên cơ sở đó giới thiệu những ngành nghề phù hợp để học hoặc giới thiệu việc
làm cho thân chủ [62].
Cơ sở cung cấp dịch vụ hỗ trợ phụ nữ bị bạo lực có thể trực tiếp tổ chức
đào tạo nghề cho phụ nữ bị bạo lực hoặc chuyển gửi tới các cơ sở đào tạo nghề,
giới thiệu việc làm để hỗ trợ những phụ nữ bị bạo lực có nhu cầu học nghề và
tìm việc làm.
1.2.2.6. Dịch vụ chuyển gửi
Dịch vụ chuyển gửi nạn nhân được thực hiện khi cơ sở cung cấp dịch vụ cho
nạn nhân bị bạo lực không đáp ứng được nhu cầu hỗ trợ dịch vụ của nạn nhân [62].
Dịch vụ chuyển gửi được thực hiện giữa cơ sở cung cấp dịch vụ hỗ trợ nạn
nhân bị bạo lực với nhau, giữa các cơ sở cung cấp dịch vụ hỗ trợ nạn nhân bị bạo

21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status