VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN ĐỨC DÂN
DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
NGƯỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TỪ THỰC TIỄN
TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. HÀ THỊ THƯ
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
Thạc sĩ Công tác xã hội về “Dịch vụ công tác xã hội đối với người khuyết tật
vận động từ thực tiễn Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Thái Nguyên” là hoàn
toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn
Nguyễn Đức Dân
TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI TỈNH THÁI NGUYÊN
38
2.1. Khái quát về địa bàn và khách thể nghiên cứu
38
2.2. Thực trạng thực hiện dịch vụ công tác xã hội đối với người khuyết tật
43
2.3. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội đối với
49
người khuyết tật vận động.
Chương 3: CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CUNG CẤP
DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT VẬN
ĐỘNG TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM CÔNG TÁC XÃ HỘI TỈNH
56
THÁI NGUYÊN
3.1. Truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng dân cư.
56
3.2. Bồi dưỡng nâng cao năng lực công tác xã hội
Dịch vụ công tác xã hội
DVYT
Dịch vụ y tế
Nxb
Nhà xuất bản
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam đang bước vào giai đoạn hội nhập mạnh mẽ với thế giới trên
nhiều phương diện và lĩnh vực như công cuộc phát triển kinh tế, xóa đói giảm
nghèo, đấu tranh chống lại bất bình đẳng xã hội, nâng cao chất lượng cuộc
sống cho mọi tầng lớp nhân dân và đặc biệt là sự chung tay của cộng đồng
trong lộ trình thúc đẩy hỗ trợ các dịch vụ đối với người khuyết tật, góp phần
tạo ra môi trường sống tốt hơn và an toàn hơn trong bối cảnh người khuyết tật
luôn phải đối mặt với nhiều sự thay đổi, các mối quan hệ xã hội, sự tác động
của môi trường sống và thiên nhiên. Điều đó đòi hỏi phải có những dịch vụ
tốt và hiệu quả để đáp ứng được những nhu cầu của thực tiễn hiện nay.
Dịch vụ công tác xã hội là hoạt động chuyên nghiệp cung cấp các hoạt
động hỗ trợ về tinh thần và vật chất cho những người gặp hoàn cảnh khó khăn
như người khuyết tật, người nghèo, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người già,
người là nạn nhân của bạo lực..., hoặc những người có nhu cầu hỗ trợ về mặt
tâm lý xã hội, trợ giúp pháp lý nhằm giảm thiểu những rào cản, những bất
công và bất bình đẳng trong xã hội.
hội góp phần an sinh xã hội. Cùng với lý do đó, những bài viết, bài giảng,
những công trình nghiên cứu khoa học về người khuyết tật ngày càng nhiều
điển hình một số tiêu biểu sau:
Công trình nghiên cứu của Hà Thị Thư đã trình bày một cách tổng quát
nhất về công tác xã hội với người khuyết tật, các mô hình hỗ trợ, các phương
pháp tiếp cận, các chương trình chính sách của nhà nước đối với người khuyết
tật, vai trò của nhân viên công tác xã hội đối với người khuyết tật, các kỹ
năng làm việc với người khuyết tật. Đây là giáo trình đào tạo Công tác xã hội
ở hệ trung cấp nghề. [26]
2
Trần Thị Thúy Lâm đã có bài viết phân tích và đánh giá thực trạng
pháp luật Việt Nam hiện hành về dạy nghề cho người khuyết tật trên các
phương diện: Chính sách đối với cơ sở dạy nghề, người khuyết tật học nghề
và giáo viên dạy nghề cho người khuyết tật; đồng thời đưa ra một số khuyến
nghị nhằm nâng cao hiệu quả việc học nghề đối với người khuyết tật cả ở
phương diện hoàn thiện pháp luật và biện pháp tổ chức thực hiện. [16, tr. 18]
Trần Thái Dương (Trường Đại học Luật Hà Nội) đã nghiên cứu về
những điểm khác biệt giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế, đặc biệt
là những quy định của Công ước về quyền của người khuyết tật trong việc
bảo đảm quyền tiếp cận công lý, quyền được trợ giúp pháp lý của người
khuyết tật, từ đó đề xuất một số ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật, thực hiện
trọn vẹn nghĩa vụ quốc gia khi Việt Nam phê chuẩn và trở thành thành viên
chính thức của Công ước. [12, tr. 12]
Tác giả Nguyễn Thị Oanh "Tìm hiểu một số vấn đề xã hội" bà đề cập
trong nội dung sách đó chính là tập trung làm rõ những mô hình chăm sóc sử
khỏe cho người khuyết tật kết hợp với những mô hình chăm sóc trên thế giới
như Uranda. Bà còn nhắc đến vai trò của nhân viên Công tác xã hội trong lĩnh
tật tại Việt Nam” do Khoa Công tác xã hội của Học viện khoa học xã hội Việt
Nam tổ chức vào ngày 22/10/2015. Đây là hội thảo khoa học mang nhiều ý
nghĩa khi nội dung nghiên cứu, thảo luận hướng đến vấn đề “Quản lý trường
hợp với người khuyết tật” - đây là hướng đi mới hỗ trợ người khuyết tật đang
được triển khai ở nhiều địa phương theo Thông tư 01/TT-BLĐTB&XH về
công tác Quản lý trường hợp với người khuyết tật nhưng còn nhiều khó khăn
như khó khăn về kinh phí, nguồn nhân lực, nhận thức của chính quyền địa
phương các cấp về công tác này. Đồng thời, thông qua các bài báo cáo của
các chuyên gia và phần hỏi - đáp, thảo luận đã gợi mở những định hướng
nghiên cứu cho học viên cao học, nghiên cứu sinh lựa chọn để làm chủ đề,
phát triển nghiên cứu của đề tài luận văn cao học.
Trên cơ sở tìm hiểu và phân tích các công trình nghiên cứu, các cơ sở lý
luận phục vụ cho việc thực hiện luận văn tìm hiểu thực trạng dịch vụ công tác
xã hội vận động tại Trung tâm Công tác xã hội tỉnh Thái Nguyên. Từ đó tìm
4
hiểu tâm tư, nguyên vọng, nhu cầu của người khuyết tật để có phương án đề
xuất các giải pháp hỗ trợ người khuyết tật có cơ hội phát triển.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luân văn nghiên cứu trên cơ sở lý luận và thực tiễn về dịch vụ công tác
xã hội đối với người khuyết tật vận động từ thực tiễn Trung tâm Công tác xã
hội tỉnh Thái Nguyên; từ đó, đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả
công tác xã hội đối với người khuyết tật vận động.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được những mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, luận văn tập
trung giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về người khuyết tật, dịch vụ công
tác xã hội đối với người khuyết tật vận động.
khuyết tật vận động rút ra được những vấn đề lý luận và đưa ra được những
đề xuất về các biện pháp nhằm phát triển các loại hình dịch vụ công tác xã hội
đối với người khuyết tật vận động tại Trung tâm công tác xã hội tỉnh Thái
Nguyên.
Nghiên cứu trên cơ sở duy vật lịch sử: đối tượng được nghiên cứu đánh
giá theo một trục thời gian nhất định và mang tính lịch sử. Như vậy những
vấn đề liên quan trong đề tài nghiên cứu có sự so sánh đối chiếu theo lịch sử,
đảm bảo tính sát thực và toàn vẹn trong trình bày kết quả nghiên cứu.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Để luận văn có đủ lượng thông tin cần thiết, tác giả đã thu thập thông
tin từ nhiều nguồn khác nhau như báo cáo liên quan đến người khuyết tật, trợ
giúp người khuyết tật, báo, sách, bài viết trên tạp chí… Phương pháp phân
tích tài liệu là phương pháp sử dụng các kỹ thuật chuyên môn nhằm thu thập
thông tin, số liệu, tài liệu liên quan đến người khuyết tật cũng như chủ trương
chính sách của Đảng, Nhà nước các nguồn tài liệu những thông tin cần thiết
phục vụ cho quá trình nghiên cứu.
6
Trong quá trình nghiên cứu, tôi sử dụng các phương pháp phân tích tài
liệu để phân tích những đề án, dự án hỗ trợ dịch vụ công tác xã hội đối với
người khuyết tật đánh giá nhận xét tài liệu có liên quan đến các chính sách hỗ
trợ đối với người khuyết tật và các biện pháp can thiệp, hỗ trợ giúp đỡ họ tiếp
cận được các dịch vụ công tác xã hội.
5.1.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Mục đích sử dụng phiếu điều tra nhu cầu của người khuyết tật để thu
thập thông tin mà người được hỏi sẵn sàng chia sẻ những thông tin cá nhân.
Điều tra nhu cầu của người khuyết tật và lấy thông tin người được hỏi
khuyết tật trong gia đình và cộng đồng;
Quan sát thái độ, hành vi của cán bộ trực tiếp làm việc đối với người
khuyết tật.
Với phương pháp này tác giả tiến hành xuống trực tiếp cơ sở nhiều lần
vào nhiều khoảng thời gian khác nhau, cùng tham gia vào các hoạt động của
gia đình cộng đồng.
5.2.5. Phương pháp thống kê toán học
Phương pháp xử lý số liệu thống kê, khai thác có hiệu quả các số liệu;
rút ra được những nhận xét, kết luận khoa học khách quan đối với vấn đề
nghiên cứu.
Đề tài sử dụng phần mềm SPSS 16.0 xử lý số liệu, đưa ra những số liệu
chính xác nhất cho nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn nghiên cứu và rõ một số lý luận về dịch vụ công tác xã hội
đối với người khuyết tật vận động từ thực tiễn Trung tâm Công tác xã hội tỉnh
Thái Nguyên, qua đó bổ sung các chương trình, hoạt động hỗ trợ các dịch vụ
công tác xã hội tại cộng đồng dân cư.
Đố với cá nhân nghiên cứu luận văn về dịch vụ công tác xã hội đối với
người khuyết tật vận động là mối quan tâm của người làm nghề công tác xã
hội và giúp cho bản thân có thêm và hiểu biết các kiến thức kỹ năng làm việc
8
với người khuyết tật vận động. Công trình nghiên cứu cũng là cơ sở để nhân
viên công tác xã hội thực hiện và đánh gia năng lực bản thân trong quá trình
thực hiện luận văn.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ giúp chúng ta một cách nhìn tổng
thể về các dịch vụ công tác xã hội đối với người khuyết tật góp phần bổ sung
không thể chữa được, của một cơ quan trong cơ thể do bẩm sinh mà có, hoặc
do tai nạn hay bệnh gây ra” trong từ điển Tiếng việt. Như vậy, có thể hiểu
khuyết tật là khiếm khuyết thực thể ở một bộ phận nào đó hoặc khiếm khuyết
chức năng ở một hoặc nhiều cơ quan, tổ chức của cơ thể và khiếm khuyết đó
có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống.
Như vậy, định nghĩa khuyết tật theo cách tiếp cận khái niệm mới có thể
hiểu là: “Tình trạng thiếu hụt chức năng hay rối loạn chức năng so với chuẩn
sinh lý bình thường làm cho cá nhân bị trở ngại trong học tập, làm việc, giao
tiếp, vui chơi giải trí và sinh hoạt”.[28, Tr 8]
Trong hệ thống “Phân loại Quốc tế về Chức năng, Khuyết tật và Sức
khỏe” (ICF) (năm 2001) của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra định
nghĩa khuyết tật như sau: “Khuyết tật là thuật ngữ chung chỉ tình trạng khiếm
khuyết, hạn chế vận động và tham gia, thể hiện những mặt tiêu cực trong
quan hệ tương tác giữa cá nhân một người (về mặt tình trạng sức khỏe) với
các yếu tố hoàn cảnh của người đó (bao gồm yếu tố môi trường và các yếu tố
cá nhân khác)” [24, tr.26]. Như vậy, với khái niệm này có thể hiểu “khuyết
10
tật” chỉ đơn giản là bị khiếm khuyết một phần cơ thể mà không phải xác định
nguyên nhân của một dạng khuyết tật.
* Khái niệm Người khuyết tật
Theo quan niệm quốc tế, trong đó có Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO:
Khuyết tật được khái niệm theo hai mô hình y học và xã hội. Theo mô hình y
học người khuyết tật được nhìn nhận là người có vấn đề về thể chất và cần
phải chữa trị. Theo mô hình xã hội người khuyết tật được đề cập đến là do kết
quả của việc tổ chức xã hội dẫn đến người khuyết tật phải đối mặt với những
phân biệt đối xử từ thái độ kỳ thị, thiếu tôn trọng, môi trường không hòa hợp
với người khuyết tật ngăn cản họ tiếp cận đến các dịch vụ xã hội như chính
ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi trường bình
thường.
Khuyết tật thần kinh, tâm thần: là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm
xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động
bất thường.
Khuyết tật trí tuệ: là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư
duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật,
hiện tượng, giải quyết sự việc.
Khuyết tật khác: là tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ thể
khiến cho hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà không
thuộc các trường hợp được quy định tại các dạng trên.
Tiêu chí thứ hai, về các mức độ khuyết tật
Tại Điều 3 của Nghị định số: 28/2012/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng
dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật chia thành 3 mức độ khuyết
tật như sau:
Người khuyết tật đặc biệt nặng: là những người do khuyết tật dẫn đến
mất hoàn toàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được
các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục
vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp,
chăm sóc hoàn toàn.
12
Người khuyết tật nặng: là những người do khuyết tật dẫn đến mất một
phần hoặc suy giảm chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện
được một số hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc
khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi,
trợ giúp, chăm sóc.
Người khuyết tật nhẹ: là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy
định tại hai mức độ trên có thể di chuyển đi lại và tự phục vụ nhu cầu của bản
làm vừa đem lại cho người khuyết tật niềm vui trong lao động, vừa giúp họ có
thu nhập, điều này giúp họ giảm bớt tâm lý phụ thuộc kinh tế, tâm lý bị bỏ đi.
Do thiếu hụt dẫn đến sự cản trở trong sinh hoạt, lao động nên người
khuyết tật thường bị ức chế dẫn đến bi quan, chán nản, tự ti, hay cáu gắt,…
người khuyết tật cần được chấp nhận, tôn trọng. Cộng đồng và xã hội cần giáo
dục mọi người tránh những cử chỉ, hành vi miệt thị, xa lánh cần bỏ những tên
gọi làm ảnh hưởng đến tâm lý người khuyết tật như thằng què…
Cần động viên khuyến khích, phát huy những mặt tích cực của người
khuyết tật bên cạnh những khó khăn trên mà người khuyết tật phải trải qua,
nhưng họ lại là người rất giàu về nghị lực để vượt qua khó khăn của tật
nguyền. Với sự hỗ trợ của gia đình và xã hội một số người khuyết tật đã vượt
qua các rào cản đạt được nhiều thành tích cao trong lao động và học tập.
Mặt khác người khuyết tật là người sống nội tâm, nhạy cảm và tế nhị,
họ rất thông cảm với khó khăn của người khác hơn so với người bình thường.
Chính vì lẽ đó người khuyết tật là những người hoạt động rất có hiệu quả
nhóm, câu lạc bộ… tại đây người khuyết tật giúp nhau vượt qua khó khăn
bệnh tật, chia sẻ những kinh nghiệm trong cuộc sống.
1.2. Lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với người khuyết tật
1.2.1. Một số khái niệm
* Khái niệm dịch vụ xã hội
Nếu như “dịch vụ” là một khái niệm đơn lẻ thì “dịch vụ xã hội” lại là
một khái niệm kép. Thuật ngữ “xã hội” trong khái niệm này có thể được hiểu
theo hai nghĩa. [28]
14
Thứ nhất là tính mục tiêu, nghĩa là dịch vụ hướng tới phát triển xã hội
(theo nghĩa này thì bất kỳ dịch vụ nào đóng góp vào mục tiêu phát triển xã hội
đều được coi là dịch vụ xã hội).
nhằm bảo đám các giá trị và chuẩn mực xã hội. [29, tr.195]
Tương tự, tác giả Nguyễn Thị Thái Lan cùng cộng sự trong bài viết
“Chuyên nghiệp hóa các dịch vụ công tác xã hội ở Việt Nam: Thực trạng và
nhu cầu” [15, tr.186] đã đưa ra 3 thách thức ảnh hưởng đến việc phát triển
các dịch vụ công tác xã hội chuyên nghiệp ở Việt Nam: (1) thể chế hóa các
dịch vụ công tác xã hội trong các cơ sở cung cấp các dịch vụ chăm sóc xã hội;
(2) tự phát triển các dịch vụ chuyên nghiệp phù hợp với bối cảnh văn hóa,
kinh tế, chính trị và môi trường của Việt Nam dựa trên bài học của các nước
khác; (3) hoàn thiện khung pháp lý và quy điều đạo đức nghề nghiệp. Đây là
khung chiến lược giúp cho các dịch vụ công tác xã hội phát triển theo hướng
chuyên nghiệp và phù hợp với xu hướng của thế giới. [15,tr.190].
* Khái niện công tác xã hội
Công tác xã hội là một nghề tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới
mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao
quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng số của con người.
Công tác xã hội sử dụng các học thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã
hội vào can thiệp sự tương tác của con người với môi trường sống (IASSW và
IFSW: 7/2011)
Định nghĩa của IFSW - Liên đoàn chuyên nghiệp xã hội quốc tế (tại đại
hội Montrean tháng 7/2000): Công tác xã hội chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay
đổi xã hội việc giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ con người, sự
tăng quyền lực và giải phóng người dân giúp cuộc sống của họ ngày càng
thoải mái dễ chịu. Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và hệ thống
xã hội, công tác xã hội can thiệp ở các điểm tương tác giữa con người và môi
trường của họ. Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của
nghề. [19, tr. 10]
Theo Zastrow (1996) Công tác xã hội là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ
cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của
16
17
những rào cản, đảm bảo sự tham gia đầy đủ vào các hoạt động xã hội trên
nền tảng sự công bằng như những người khác trong xã hội. [19, tr. 38].
Từ cách hiểu về dịch vụ công tác xã hội với người khuyết tật cũng như
xem xét mục đích của dịch vụ công tác xã hội nhận thấy mục đích và vai trò
của công tác xã hội với người khuyết tật là nhằm: Hỗ trợ cá nhân và gia đình
người khuyết tật; Quản lý ca với người khuyết tật; Hỗ trợ xây dựng tổ chức của
người khuyết tật; Tham gia vào việc xây dựng, phản biện chính sách, luật pháp
đối với người khuyết tật; Biện hộ cho quyền và lợi ích của người khuyết tật.
Dịch vụ công tác xã hội được cung cấp bởi Trung tâm Công tác xã hội
tại cộng đồng, đó là: i) cung cấp dịch vụ khẩn cấp như tiếp nhận, đánh giá,
bảo đảm an toàn, đáp ứng nhu cầu khẩn cấp…cho các đối tượng trẻ em bị bỏ
rơi, nạn nhân của bạo lực, bị xâm hại tình dục, buôn bán ...; ii)Tham vấn, trị
liệu rối nhiễu tâm lý, khủng hoảng tâm lý và phục hồi thể chất cho đối tượng:
iii) Tư vấn cho đối tượng được hưởng chính sách xã hội, iv) xây dựng kế
hoạch can thiệp trợ giúp đối tượng, v) Thực hiện biện pháp phòng ngừa đối
tượng rơi vào hoàn cảnh khó khăn, ngược đãi, bạo lực; vi) Hỗ trợ đối tượng
hòa nhập cộng đồng; vii) Quản lý đối tượng; viii) Cung cấp dịch vụ về giáo
dục và nâng cao năng lực; ix) Phát triển cộng đồng; x) Tổ chức hoạt động
truyền thông, nâng cao nhận thức; xi) Huy động và tiếp nhận sự hỗ trợ tài
chính; xii) Tổ chức nghiên cứu, khảo sát đến phúc lợi và an sinh xã hội…[19]
1.2.2. Nguyên tắc làm việc với người khuyết tật
Mỗi ngành nghề trong xã hội đều có những nguyên tắc hoạt động nhất
định. Nguyên tắc này chính là kim chỉ nam định hướng cho người thực hành
nghề nghiệp. Hoạt động chăm sóc người khuyết tật cũng có những nguyên tắc
chung buộc nhân viên công tác xã hội làm việc với người khuyết tật phải tuân
theo. [26, tr. 59]
Nguyên tắc thứ nhất, lắng nghe người khuyết tật
tật sẽ tạo cho nhân viên công tác xã hội chấp nhận người khuyết tật và nhìn
nhận sự khác biệt theo cách suy nghĩ tích cực và coi sự khuyết tật là sự đa
dạng của cuộc sống con người. [26, 60]
Nguyên tắc thứ tư, trung thực với người khuyết tật
19
Người khuyết tật thường gặp nhiều khó khăn trong việc thỏa mãn các
nhu cầu cũng như sự tự chủ so với người không khuyết tật, đặc biệt là người
khuyết tật về trí tuệ, khuyết tật vận động. Chính vì thế mà nhân viên công tác
xã hội cần phải thực hiện nguyên tắc trung thực, chân thành với người khuyết
tật. Việc người khuyết tật được nhận những thông tin đầy đủ, trung thực giúp
họ có thể lường trước được những khó khăn cũng như điều bất trắc có thể xảy
ra với họ, để họ tăng cường giải pháp đề phòng.
Đây là năm nguyên tắc cơ bản mà nhân viên công tác xã hội cần nắm
vững trong quá trình làm việc với người khuyết tật. [26, 62]
Nguyên tắc thứ năm, nâng cao khả năng tự giải quyết của người khuyết tật
Đây là nguyên tắc mà nhân viên công tác xã hội luôn luôn phải nhận
thức và chú trọng trong quá trình làm việc. Bởi thông thường người khuyết tật
luôn mong muốn nhân viên công tác xã hội giúp mình tìm ra cách giải quyết
vấn đề, thậm chí là để nhân viên công tác xã hội giải quyết vấn đề của mình.
Tuy nhiên, hơn ai hết người khuyết tật chính là người hiểu rõ nhất hoàn cảnh,
suy nghĩ, cảm xúc, những ưu và khuyết điểm của mình, vì vậy họ chính là
người tự giải quyết vấn đề của mình, với sự hỗ trợ, định hướng của nhân viên
công tác xã hội. Nhân viên công tác xã hội làm việc với người khuyết tật luôn
luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp người khuyết tật ý thức được về mình và
cần phải tin tưởng vào khả năng tự giúp của họ, khuyến khích họ nỗ lực khắc
phục, vượt qua những trở ngại họ đang gặp phải. Nhân viên công tác xã hội
trong việc tăng tính tự quyết cho người khuyết tật cần gắn liền tính tự chủ, tức
là con người có khả năng hoạt động độc lập nhằm bảo đảm là người khuyết
trong các văn bản quy phạm pháp luật, được tiếp cận các dịch vụ như y tế, pháp
luật, việc làm…, ngoài ra còn được quyền tiếp cận các nguồn lực khác mà bản
thân người khuyết tật không thể tự mình tìm kiếm mà cần đến sự hỗ trợ từ nhân
viên công tác xã hội như nguồn lực thông tin, nguồn lực vật chất.
Thứ hai, Nhân viên công tác xã hội là cầu nối trung gian cho việc liên
kết các nguồn lực khác nhau lại để có những thỏa thuận hợp tác rõ ràng như
phân phối nguồn lực ra sao? Đối tượng cần hỗ trợ như thế nào? … đảm bảo
hiệu quả của công việc hỗ trợ. Ví dụ: giúp người khuyết tật học nghề làm
21