Dịch vụ công tác xã hội đối với người lao động nhập cư từ thực tiễn thành phố hồ chí minh - Pdf 39

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRƢƠNG NGUYỄN BẢO TRÂN

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI NGƢỜI LAO ĐỘNG NHẬP CƢ
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60. 90. 01. 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS. TS BÙI THỊ XUÂN MAI

HÀ NỘI - 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ
Công tác xã hội về “Dịch vụ công tác xã hội đối với người lao động nhập cư từ
thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với
các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

AAV

: Action Aid Vietnam

ASXH

: An sinh xã hội

CTXH

: Công tác xã hội

TLN

: Thảo luận nhóm

LĐTB&XH : Lao động Thương binh và Xã hội
NLĐ

: Người lao động

NVXH

: Nhân viên xã hội

PTCĐ

: Phát triển cộng đồng

yếu của tiến trình phát triển kinh tế xã hội của mọi quốc gia. Trong những năm gần
đây, các báo cáo thống kê của chính phủ và của các tổ chức xã hội đã chỉ ra xu
hướng nổi bật là luồng di cư từ nông thôn ra thành thi đang gia tăng cả về số lượng
lẫn tỷ lệ người di cư trong các thập kỷ qua. Có rất nhiều lý do có thể dẫn tới sự gia
tăng này, trong đó phải kể đến việc chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung bao cấp sang
kinh tế thị trường, việc dỡ bỏ các quy định hạn chế sự phát triển của khu vực tư
nhân, sự phát triển của giao thông vận tải Đặng Nguyên Anh và các tác giả khác,
1997 , sự gia tăng khác biệt giữa các vùng PWg, 1999 , và sự nới lỏng các quy
định hạn chế di cư Doãn và Trịnh, 1998 .
Đây là một xu thế tất yếu vì nó đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, mang
lại giá trị gia tăng cao hơn cho nền kinh tế mà còn góp phần làm biến đổi mạnh mẽ
cơ cấu nhân lực theo ngành và theo địa phương. Sự di chuyển lao động giữa các địa
phương, vùng miền cũng diễn ra khá mạnh mẽ không chỉ giúp phát triển việc làm
mà còn giải quyết đáng kể những vấn đề liên quan tới việc điều tiết lao động từ các
khu vực, địa phương thừa lao động sang các khu vực, địa phương thiếu lao động.
Các báo cáo cũng cho thấy những đóng góp của di cư vào khu vực thành thị, đặc
biệt là tại các thành phố lớn nhưng lại hạn chế trong việc tiếp cận tới các dịch
ASXH và các chính sách công tại nơi đến. Thực tế này làm ảnh hưởng tiêu cực tới
chất lượng cuộc sống và quyền của lao động di cư, đặc biệt là phụ nữ vì có hơn 80%
người lao động di cư có đem theo con tới nơi đến, và không có chính sách riêng biệt
về y tế và giáo dục dành cho các nhóm con của người di cư (AAV, 2014) [4,5]. Như
vậy, NLĐ nhập cư được xem là người đã góp phần đáng kể vào quá trình phát triển
kinh tế nhưng họ không được tiếp cận tới các dịch vụ an sinh xã hội và các chính
sách công tại nơi đến.
Thành phố Hồ Chí Minh TP.HCM là một trong những tỉnh thành có số
lượng người nhập cư lớn nhất cả nước. Hiện nay, người nhập cư chiếm 1,2 triệu,
16.8% tổng số dân cư TP.HCM (7,123 triệu theo báo cáo Phát triển con người của

1


trọng, phản ảnh những chuyển biến cơ bản về nhận thức của các cơ quan làm luật và

2


thực thi luật, cũng như những đóng góp to lớn của nhiều bên liên quan. Tuy nhiên,
tùy theo đặc điểm của từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội khác nhau mà cách
tiếp cận vấn đề lao động nhập cư cũng như những vấn đề của NLĐ nhập cư có sự
khác nhau. Những nghiên cứu đã thực hiện chủ yếu là các điều tra xã hội học nhằm
đưa ra một bức tranh toàn cảnh về việc di cư nông thôn - thành thị cũng như phác
họa rất rõ nét chân dung và mạng lưới xã hội của NLĐ nhập cư; nhưng các nghiên
cứu chuyên biệt về công tác xã hội hoặc dịch vụ công tác xã hội cho nhóm NLĐ
nhập cư thì chưa nhiều. Vì thế, phần tổng quan tài liệu này tập trung điểm lại các
nghiên cứu trước đây về NLĐ nhập cư tại TP.HCM và một số thành phố lớn khác:
Những nghiên cứu mang tính phổ quát
Những nghiên cứu này khái quát tình trạng về cuộc sống, lao động và việc làm
của NLĐ nhập cư tại những thành phố lớn từ đó đưa ra những xu hướng của dòng
di cư nông thôn ra thành thị. Cụ thể:
Nghiên cứu “Lao động di cư từ nông thôn ra thành thị: thực trạng và khuyến
nghị” (Nguyễn Đình Long và Nguyễn Thị Minh Phượng, 2013) [17] chỉ ra những
nguyên nhân của việc di cư từ nông thôn ra thành thị vì sự gia tăng dân số và sức ép
của việc làm ở khu vực nông thôn cũng như đất đai sản xuất nông nghiệp ngày càng
thu hẹp ở khu vực nông thôn dẫn đến dư thừa lao động ở khu vực này. Đặc biệt kết
quả nghiên cứu này cũng cho thấy xu hướng di cư ngày càng trẻ hóa và di cư cùng
với gia đình. Khuyến nghị của các tác giả đưa ra tập trung vào việc hoàn thiện chính
sách, bảo vệ quyền lợi của lao động di cư và cung cấp thông tin thị trường lao động
và các thông tin liên quan.
Báo cáo “Di cư trong nước - cơ hội và thách thức đối với sự phát triển kinh tế
- xã hội của Việt Nam” do Tổ chức Liên hợp quốc tại Việt Nam (2010) thực hiện
[16]. Đây có thể coi là một trong những báo cáo tổng quát nhất về tình hình di cư ở

khăn mà NLĐ nhập cư gặp phải là nhà ở, tìm kiếm việc làm, ổn định cuộc sống và
những rào cản của họ là tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục, khả năng hòa nhập cộng
đồng… Báo cáo này được xem là cơ sở cho việc rà soát và ban hành chính sách
trong tương lai.
Những nghiên cứu tiếp cận từ góc độ giới
Những nghiên cứu trên được tiếp cận từ quan điểm giới nên đã khái quát được
cuộc sống của các nữ LĐ di cư tại các thành phố lớn. So với nam giới, nữ giới chịu

4


ảnh hưởng của các yếu tố giới nhiều hơn trong thu nhập, chi tiêu, tiết kiệm... nhất là
trong bối cảnh di cư mang xu hướng nữ hóa ngày càng cao. Cụ thể:
Báo cáo “Thực trạng tuyển dụng và việc làm của lao động nữ di cư tới các
khu công nghiệp, khu chế xuất tại Việt Nam” (ILO và Viện Khoa học lao động xã
hội thuộc Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, 2009) [27] đã chỉ ra các tồn tại căn
bản nhất trong quá trình tuyển dụng và sử dụng lao động di cư nữ tại các khu công
nghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam. Những khó khăn, vướng mắc thậm chí là những
rủi ro liên quan đến hoạt động tuyển dụng và việc làm của lao động nữ di cư. Qua
kết quả nghiên cứu, báo cáo cũng đưa ra một số phát hiện, trong đó khẳng định di
cư tìm việc làm là xu thế tất yếu trong thị trường lao động, song khả năng tiếp cận
và sử dụng của lao động nữ các kênh giới thiệu việc làm chính thức vẫn còn hạn
chế, điều đó khiến cho quá trình tuyển dụng và việc làm của lao động nữ gặp nhiều
rủi ro. Từ đó, cũng là cơ sở đề xuất các giải pháp để hoàn thiện hệ thống chính sách
về tuyển dụng và quản lý lao động di cư hiệu quả, an toàn.
Báo cáo“Giới và tiền chuyển về của lao động di cư” (Tổng cục Thống kê và
Tổ chức Di cư quốc tế, 2012) [26] thực hiện. Theo đó, về công việc, nữ giới thường
làm việc trong ngành nghề có thu nhập thấp, ít có sự thay đổi ở khu vực phi chính
thức, ngược lại với nam giới. Điều này được lý giải bởi thiên chức mà người phụ nữ
phải đảm nhận, vừa phải chăm sóc cho gia đình, vừa phải kiếm thêm thu nhập chính

vụ xã hội cơ bản trong y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch còn hạn chế do các quy định,
thủ tục còn gắn liền với quy định hộ khẩu.
Báo cáo tóm tắt “Tiếp cận an sinh xã hội của người lao động nhập cư” (AAV,
4/2014) [5]. Dựa trên kết quả phân tích chủ yếu từ các nguồn tài liệu thứ cấp và
khảo sát tại thành phố Hải Phòng và Hồ Chí minh, báo cáo đã đề cập đến các chủ đề
chính về dịch vụ ASXH cho NLĐ nhập cư, gồm: sự chuyển dịch của các dịch
ASXH từ nông thông ra đô thị, mức độ bao phủ BHYT của NLĐ nhập cư ở nhóm
chính thức và phi chính thức, những thách thức đảm bảo tiếp cận giáo dục của con
em NLĐ nhập cư. Bản báo cáo đánh giá về ASXH chỉ ra những thiếu hụt, tồn tại
liên quan đến NLĐ nhập cư. Mặc dù nhiều hợp phần của các chương trình ASXH
ưu tiên nhóm đối tượng nghèo, những bằng chứng thu thập được lại không cho thấy
các chương trình này có tác động có lợi lớn đến đời sống của người lao động nhập
cư và con em họ. Bên cạnh đó, NLĐ nhập cư không chính thức là một bộ phận lớn
của lực lượng lao động Việt Nam và đóng đóng góp đáng kể vào sự phát triển đất

6


nước.Tuy nhiên, các quyền cơ bản về chăm sóc y tế, đạo tạo nghề, giáo dục dành
cho người lao động nhập cư và con cái họ vẫn chưa được chú ý đúng mức.
Báo cáo “Khảo sát nhu cầu của NLĐ nhập cư tại quận 7, 9 và 12 tại
TP.HCM” (SDRC, 2015) [25] đã chỉ ra NLĐ đối mặt với nhiều thách thức ở nơi
tạm trú liên quan đến việc làm, thu nhập, đăng ký tạm trú, sử dụng điện nước cao
hơn giá quy định nên ảnh hưởng đến việc tiếp cận chính sách an sinh xã hội. Báo
cáo cũng chỉ ra mức độ tham gia của NLĐ nhập cư vào các hoạt động cồng đồng rất
thấp. Các hỗ trợ của chính quyền địa phương mang tính từ thiện hơn là phát triển.
Các nghiên cứu này cho thấy các rào cản về mặt chính sách là một trong
những yếu tố khiến cho việc tiếp cận ASXH của NLĐ nhập cư còn nhiều hạn chế,
dẫn đến những quyền lợi hợp pháp của NLĐ nhập cư chưa được bảo vệ tối đa.
Nghiên cứu về dịch vụ xã hội

trong và ngoài nhà nước tham gia cung ứng dịch vụ xã hội; phân tích kinh nghiệm
phát triển dịch vụ một số nơi trên thế giới và Việt Nam, đề xuất phương hướng, giải
pháp chủ yếu nhằm phát triển dịch vụ xã hội và đổi mới quản lý phát triển dịch vụ
xã hội ở nước ta đến năm 2020.
Tham luận“Chuyên nghiệp hóa các dịch vụ công tác xã hội ở Việt Nam: thực
trạng và nhu cầu” của tác giả Nguyễn Thị Thái Lan, Đỗ Ngọc Bích, Chu Thị
Huyền Yến 2016) [16] đã đưa ra các yếu tố chuyên nghiệp của nghề CTXH cũng
như dịch vụ xã hội, gồm: quá trình cung cấp dịch vụ dựa trên nền tảng khoa học, do
những người được đào tạo về CTXH cung cấp thông qua hệ thống cung cấp dịch vụ
có tổ chức, được giám sát chất lượng và tuân thủ các tiêu chuẩn đạo đức nghề. Bên
cạnh đó, bài tham luân cũng phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức
cũng như nhu cầu chuyên nghiệp hóa dịch vụ CTXH ở Việt Nam. Từ đó, các tác giả
đưa ra những đề xuất xây dựng và phát triển dịch vụ CTXH nhằm đáp ứng nhu cầu
thực tiễn và đảm bảo chất lượng.
Tham luận “Sự chuyên nghiệp trong dịch vụ công tác xã hội đối với nhóm đối
tượng yếu thế” TS Hà Thị Thư, 2016) [34]. Bài viết chỉ ra nhu cầu về dịch vụ
CTXH cho các nhóm yếu thế là quan trọng và cần thiết, tuy nhiên các dịch vụ
CTXH này còn thiếu tính chuyên nghiệp, gồm “con người chuyên nghiệp” và “môi
trường chuyên nghiệp”. Nội dung bài tham luận cũng đề cập tới những lý luận cơ
bản như khái niệm, vai trò, đặc điểm của dịch vụ CTXH để làm cơ sở cho các
nghiên cứu về tính chuyên nghiệp của dịch vụ CTXH cho người yếu thế trong
tương lai.

8


Tóm lại, các nghiên cứu về NLĐ nhập cư và các dịch vụ CTXH được tổng
quan cho thấy vấn đề của NLĐ nhập cư được phân tích theo đa chiều, đa góc cạnh
để thấy các vấn đề liên quan tới cuộc sống và nhất là các rào cản tiếp cận an sinh xã
hội. Tuy nhiên, các nghiên cứu về dịch vụ CTXH cho NLĐ nhập cư còn là khoảng

100 NLĐ nhập cư đang sinh sống tại TP.HCM; 10 nhân viên công tác xã hội đang
làm việc với NLĐ nhập cư và 05 đại diện ban quản lý các trung tâm/chương trình/tổ
chức.
Phạm vi thời gian nghiên cứu: Thời gian thực hiện đề tài này từ tháng 03 06/2016.
Phạm vi nội dung nghiên cứu:Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi sẽ tập trung
nghiên cứu trên những khía cạnh nội dung như sau:
- Nghiên cứu về thực trạng và nhu cầu của NLĐ nhập cư tại TP.HCM
- Nghiên cứu việc thực hiện hoạt động cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho
NLĐ nhập cư, cụ thể: dịch vụ giáo dục cho con cái NLĐ nhập cư; dịch vụ huấn
luyện/nâng cao năng lực, truyền thông; dịch vụ hỗ trợ tư vấn pháp lý; dịch vụ đào
tạo nghề, tư vấn và giới thiệu việc làm; dịch vụ tham vấn, tư vấn tâm lý; dịch vụ hỗ
trợ cải thiện sinh kế tín dụng vi mô ; dịch vụ sức khỏe và dịch vụ giới thiệu, kết nối
nguồn lực.
- Nghiên cứu về chất lượng của các dịch vụ CTXH đang cung cấp cho NLĐ
nhập cư theo các tiêu chí sau: mức độ tin cậy, mức độ đáp ứng, khả năng tiếp cận,
mức độ an toàn/bảo mật, phong cách cung cấp dịch vụ, tính liên tục, tính kịp thời,
tính đa dạng và tính tiết kiệm; Qua đó phân tích các điểm mạnh và các tồn tại của
các dịch vụ CTXH đang cung cấp.
- Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của các dịch vụ CTXH cho
NLĐ nhập cư như mạng lưới dịch vụ, các yếu tố từ bản thân NLĐ nhập cư và trình
độ, năng lực của nhân viên cung cấp dịch vụ.
5 . Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Với nội dung nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sử dụng một số phương pháp
nghiên cứu như sau mô tả, phân tích đặc điểm và thực trạng hoạt động cung cấp
dịch vụ công tác xã hội cho NLĐ nhập cư từ thực tiễn TP.HCM.
5.1 Phương pháp luận
Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: từ những đánh giá thực trạng về
đời sống và nhu cầu của NLĐ nhập cư, thực trạng của việc cung cấp các dịch vụ

10

100 NLĐ nhập cư tham gia phỏng vấn bản hỏi. Trong trường hợp NLĐ nhập cư có

11


những câu chuyện có những đặc điểm phù hợp với nhiệm vụ và nội dung nghiên
cứu sẽ tiếp tục được lựa chọn để tiến hành phỏng vấn sâu.
Ngoài ra, đề tài cũng phỏng vấn sâu 10 nhân viên cung cấp dịch vụ cho NLĐ
nhập cư và 5 quản lý cấp trung hoặc cấp cao tại 5 tổ chức cung cấp thông tin.
Phương pháp thảo luận nhóm tập trung (FGD): Nghiên cứu cũng sẽ thu thập
thông tin từ 1 nhóm NLĐ nhập cư (6-8 người/nhóm có những đặc điểm giống nhau
nhất định phù hợp với nghiên cứu nhằm đánh giá nhu cầu, thu thập thông tin về
thực trạng cung cấp dịch vụ.
Phương pháp chuyên gia: Trong quá trình thực hiện đề tài, phương pháp
chuyên gia được sử dụng nhằm có cái nhìn đa chiều về vấn đề nghiên cứu. Cụ thể,
Các chuyên gia được bao gồm trong nghiên cứu này là các nhân viên xã hội lâu
năm, các giảng viên, nhà quản lý có kinh nghiệm về mặt lý luận và thực tiễn về dịch
vụ CTXH.
5.3 Nghiên cứu tài liệu có sẵn
Song song với việc sử dụng phương pháp thu thập thông tin bằng các câu
chuyện, khi nghiên cứu đề tài chúng tôi cũng tiến hành thu thập thông tin bằng cách
nghiên cứu tài liệu có sẵn là các báo cáo tổng kết của tổ chức/chương trình nhằm
làm sáng tỏ thêm thực trạng cung cấp dịch vụ CTXH của các tổ chức được nghiên
cứu. Bên cạnh đó, trong phạm vi nghiên cứu, đề tài sử dụng phân tích các thông tin
có sẵn từ các cuộc nghiên cứu trước đó có nội dung gần với vấn đề mà đề tài nghiên
cứu nhằm làm sáng tỏ đặc điểm nhân khẩu học và xã hội của NLĐ nhập cư, thực
trạng cuộc sống của NLĐ nhập cư tại địa bàn nghiên cứu.
6 . Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu sẽ đóng góp vào cơ sở lý luận của chuyên ngành Công tác

Chương 2: Thực trạng dịch vụ CTXH đối với NLĐ nhập cư từ thực tiễn
TP.HCM
Chương 3: Định hướng và giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ CTXH đối
với NLĐ nhập cư từ thực tiễn TP.HCM

13


Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI
VỚI NGƢỜI LAO ĐỘNG NHẬP CƢ
1.1. Một số lý luận về nhập cƣ và ngƣời lao động nhập cƣ
1.1.1 Khái niệm
Khái niệm nhập cư
Theo từ điển tiếng Việt, nhập cư là di chuyển chỗ ở đến hay vào một vùng,
một quốc gia mới. Người nhập cư là người dân di chuyển từ một vùng này đến vùng
khác để định cư hoặc tạm trú (Từ điển Tiếng Việt, 2004, NXB Đà Nẵng [38,
tr.380].
Theo tác giả Cao Ngọc Thành Viện Kinh tế TP.HCM, 2009) [32] nhập cư là
hoạt đông di chuyển từ đơn vị hành chánh này sang đơn vị hành chánh khác và có
sự gia nhập chỗ ở theo các thủ tục đăng ký tạm trú hiện thời tại đơn vị hành chính
mới. Việc gia nhập chỗ ở khác quận/huyện, xã/phường trong cùng một thành phố
không được xem là nhập cư. Nhập cư ngược với xuất cư và cả hai đều là di cư.
Từ các định nghĩa trên có thể hiểu nhập cư là sự gia nhập chỗ ở theo thủ tục
tạm trú tại nơi ở mới sau khi di chuyển từ một đơn vị hành chánh khác. Người nhập
cư là người dân chuyển đến một đơn vị hành chính mới và có sự gia nhập chỗ ở
theo thủ tục đăng ký tạm trú hiện thời. Những người di chuyển trong nội bộ một đơn
vị hành chính (tỉnh, thành phố) thì không được xem là người nhập cư.
Khái niệm người lao động nhập cư
Theo Bộ Luật Lao động 2012 : NLĐ là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả

các dịch vụ hỗ trợ. Nghiên cứu của SDRC 2015 [26] đã chỉ ra NLĐ nhập cư chỉ
tìm kiếm thông tin khi có việc quan trọng liên quan đến cuộc sống của họ như con
cái vào học lớp 1, bệnh hiểm nghèo cần có BHYT hay mã số hộ nghèo… và nguồn
thông tin chính mà họ thường tiếp cận đó chính là chủ nhà trọ.
NLĐ nhập cư quan tâm tới việc làm, thu nhập, bảo hiểm, thai sản, hợp đồng
lao động hơn là tìm hiểu nội dung, thủ tục và quy trình các chính sách và chương
trình về ASXH. Điều này được giải thích do họ dành phần lớn thời gian để làm việc
và giải quyết những vấn đề khó khăn trong cuộc sống cho dù những chính sách này
rất quan trọng đối với họ. Kiến thức của NLĐ nhập cư về các chương trình ASXH
còn rất hạn chế do không có thời gian để tìm hiểu, nâng cao kiến thức về các
chương trình ASXH (AAV, 2014) [5].

15


Phần lớn NLĐ nhập cư thường không định cư lâu dài tại nơi cư trú mới và trên
hết vẫn giữ mối quan hệ gắn kết với quê hương. Đó là lý do tại sao họ không quan
tâm nhiều về hộ khẩu/sổ tạm trú. Đây chính là nguyên nhân khiến cho họ phó thác
việc đăng ký tạm trú cho chủ nhà trọ như một thủ tục hành chánh hơn là để tiếp cận
dịch vụ xã hội. Việc phó thác đăng ký này dẫn đến việc họ không phân biệt được
tình trạng đăng ký của mình là tạm trú KT3 hay lưu trú KT4 và không tiếp cận
được các chính sách về ASXH tại địa phương (AAV 2014, SDRC 2015) [5, 26].
1.2. Một số vấn đề lý luận về công tác xã hội, công tác xã hội với ngƣời lao
động nhập cƣ
1.2.1 Khái niệm
* Khái niệm công tác xã hội
CTXH ở Việt Nam cũng được các tác giả xem xét từ những khía cạnh khác
nhau, điển hình có tác giả Nguyễn Thị Oanh (1997) cho rằng: CTXH là hoạt động
thực tiễn, mang tính tổng hợp được thực hiện và chi phối bởi các nguyên tắc,
phương pháp hỗ trợ cá nhân, nhóm và cộng đồng giải quyết vấn đề. CTXH theo

sẵn và định nghĩa, có thể phát biểu các mục đích chính của CTXH với NLĐ nhập cư
như sau:
Thúc đẩy việc tạo điều kiện thuận lợi hòa nhập cộng đồng cho NLĐ nhập cư
đang gặp các vấn đề khó khăn, tổn thương do thay đổi địa bàn sống mang lại;
Cung cấp các dịch vụ CTXH như tham vấn, hỗ trợ pháp lý, can thiệp khủng
hoảng… nhằm giúp nâng cao năng lực tự giải quyết vấn đề của NLĐ nhập cư.
Biện hộ giúp cho NLĐ nhập cư có thể tiếp cận các chính sách ASXH về bảo
hiểm, sử dụng điện nước đúng giá quy định, tiếp cận giáo dục của con em họ, tiếp
cận với các chương trình dạy nghề/tạo việc làm, giảm nghèo… tại nơi tạm trú;
Thúc đẩy chính quyền địa phương tham gia vào việc thực hiện và giám sát
việc thực hiện các chính sách xã hội liên quan tới NLĐ nhập cư ;
Thúc đẩy các bên liên quan tham gia vào việc hỗ trợ và giải quyết các vấn đề
của NLĐ nhập cư vì vấn đề họ đang gặp phải mang tính đa ngành.
*Phương pháp của công tác xã hội với người lao động nhập cư
Phương pháp CTXH hay còn gọi là cách tiếp cận khoa học để giải quyết một
vấn đề xã hội Nguyễn Thị Oanh, 1997) [22]. Liên quan đến những vấn đề và nhu
cầu của NLĐ nhập cư đang gặp phải như thu nhập thấp dẫn đến chất lượng cuộc
sống bị ảnh hưởng, cuộc sống nhiều rủi ro, gặp rào cản trong việc tiếp cận thông tin,

17


giáo dục và các chính sách xã hội... Do đó, phương pháp CTXH phù hợp với NLĐ
nhập cư gồm CTXH cá nhân, nhóm và gia đình, phát triển cộng đồng.
Công tác xã hội cá nhân: Sử dụng mối tương giao giữa nhân viên CTXH và
cá nhân NLĐ nhập cư để giúp họ tự bộc lộ tâm tư, cảm xúc bằng các hoạt động như
tham vấn, vãng gia, quản lý ca, xử lý và can thiệp khủng hoảng… Từ đó cá nhân
NLĐ nhập cư hiểu vấn đề của mình hơn và với sự hỗ trợ về tâm lý và tài nguyên
vận dụng được sẽ giúp cho NLĐ nhập cư tự lực giải quyết vấn đề của mình.
Công tác xã hội nhóm: Mối tương tác giữa các thành viên có vai trò quan

Các nguyên tắc của CTXH được xây dựng trên cơ sở nền tảng triết lý và giá trị
của CTXH, các nguyên tắc này được xem là kim chỉ nam cho hành động tương tác
của nhân viên CTXH với đối tượng trong quá trình trợ giúp. Cụ thể:
Chấp nhận NLĐ nhập cư: nguyên tắc này đòi hỏi nhân viên CTXH cần chấp
nhận thân chủ, không tính toán, không thành kiến và không đưa ra phán quyết nào
về hành vi thân chủ.
Tạo điều kiện để NLĐ nhập cư tham gia giải quyết vấn đề của chính họ:
nguyên tắc này xuất phát từ quan điểm cho rằng vấn đề là của NLĐ nhập cư nên họ
hiểu hoàn cảnh và khả năng của mình hơn ai hết nếu được sự trợ giúp. Do đó, NLĐ
nhập cư cần là người tham gia chủ yếu từ khâu đánh giá vấn đề tới ra quyết định,
lựa chọn giải pháp, thực hiện giải pháp cũng như lượng giá kết quả của giải pháp đó
và vai trò của NVXH là xúc tác, định hướng trong quá trình trợ giúp.
Tôn trọng quyền tự quyết của NLĐ nhập cư: NLĐ nhập cư có quyền quyết
định về các vấn đề thuộc về cuộc đời của họ. Trong các tình huống làm việc với
NLĐ nhập cư, NVXH chỉ giúp họ tìm ra các phương án, giải pháp, tăng tính độc lập
tự chủ và định hướng của NLĐ nhập cư theo hướng tốt nhất.
Đảm bảo tính cá nhân hóa: từng NLĐ nhập cư có những nhu cầu cơ bản
giống nhau, nhưng mỗi người do hoàn cảnh khác nhau. Mỗi người lại có những tính
cách khác nhau và những mong muốn nguyện vọng không giống nhau. Việc cá biệt
hóa trường hợp của đối tượng cá nhân, gia đình hay cộng đồng giúp NVXH đưa ra
phương pháp giúp đỡ thích hợp với từng trường hợp cụ thể NLĐ nhập cư.
Đảm bảo tính riêng tư, kín đáo các thông tin về trường hợp của đối tượng:
trong quá trình trợ giúp NLĐ nhập cư, NVXH cần kín đáo hay giữ bí mật thông tin
của thân chủ. NVXH chỉ chia sẻ thông tin khi được NLĐ nhập cư đồng ý.
Tự ý thức về bản thân: Trong khi thực thi nhiệm vụ, NVXH cần ý thức rằng
vai trò của mình là hỗ trợ NLĐ nhập cư giải quyết vấn đề nên tránh lạm dụng quyền

19



20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status