VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THANH TRÚC
CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI TRẺ EM LANG THANG TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƢƠNG
Chuyên ngành:Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. BÙI THỊ XUÂN MAI
HÀ NỘI - 2016
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp, bản thân tôi
cũng gặp một số khó khăn nhất định về thời gian, xử lý số liệu mẫu thống kê, kỹ
thuật phân tích số liệu, chọn mẫu nghiên cứu v.v... Tuy nhiên, tôi đã được sự
hướng dẫn, giúp đỡ tận tình, cũng như sự khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi
của thầy cô, bạn bè trong suốt quá trình nghiên cứu. Với tấm lòng biết ơn sâu sắc,
tôi xin bày tỏ lòng cám ơn chân thành đến thầy cô, bạn bè và gia đình đã hỗ trợ tôi
hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cám ơn PGS. TS. Bùi Thị Xuân Mai, đã hướng dẫn
nghiên cứu đề tài luận văn, giúp đỡ tôi trong quá trình viết và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cám ơn các thầy cô công tác tại Học viện Khoa học Xã
HIỆN CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM LANG THANG ....................63
3.1. Định hướng đảm bảo thực hiện công tác xã hội đối với trẻ em lang thang ...63
3.2. Giải pháp đảm bảo thực hiện công tác xã hội đối với trẻ em lang thang ......67
KẾT LUẬN ..............................................................................................................75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................77
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BVCSTE
Bảo vệ chăm sóc trẻ em
BVCS&GDTE
Bảo vệ chăm sóc và Giáo dục trẻ em
CTXH
Công tác xã hội
LĐTB&XH
Lao động Thương binh và Xã hội
PVS
Phỏng vấn sâu
trong xã hội trong đó có trẻ em. Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm
của mọi gia đình và toàn xã hội. Cùng với sự phát triển của đất nước, nền kinh tế thị
trường phát triển. Quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đã đưa con người đến
với những tiến bộ về khoa học xã hội, giải quyết được những khó khăn trong cuộc
sống, bộ mặt người dân được cải thiện. Tuy nhiên, bên cạnh đó nó cũng có những
mặt trái đi đôi với sự phát triển như tình trạng dân di cư từ nông thôn ra thành thị, tệ
nạn xã hội, bất bình đẳng xã hội, và đặc biệt là khoảng cách giàu nghèo ngày càng
chênh lệch… mà trẻ em là đối tượng phải gánh chịu sự ảnh hưởng nặng nề nhất.
Việt Nam là quốc gia đầu tiên trong khu vực và quốc gia thứ hai trên thế giới tham
gia ký kết và phê chuẩn Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em, thể hiện sự cam kết
mạnh mẽ của nước ta với cộng đồng quốc tế về công tác chăm sóc, giáo dục và bảo
vệ trẻ em. Rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này đã được ban
hành như: Bộ Luật Lao động, Luật Người khuyết tật, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo
dục trẻ em, Luật Nuôi con nuôi, Luật phòng chống mua bán người, Chương trình
hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2001-2010 và giai đoạn 2011-2020, Quyết
định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề
án Phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020… Các văn bản quy phạm
pháp luật này tạo thành hệ thống khuôn khổ pháp lý chăm sóc và bảo vệ trẻ em.
Hiện nay trẻ em lang thang là hiện tượng xã hội diễn ra khá phổ biến ở
những nước nghèo và chậm phát triển, trong đó có Việt Nam. Những năm gần đây
hiện tượng trẻ em đi lang thang ở nước ta đã trở thành một vấn đề xã hội khá bức
xúc và đáng quan tâm. TELT xuất hiện nhiều chủ yếu ở các tỉnh, thành phố lớn và
ngày càng phức tạp cả về số lượng, tính chất cũng như hình thức lang thang của trẻ.
Theo thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội về TELT thì: năm 1996
cả nước có 14.596 em; năm 1997 có 16.263 em; năm 1998 có 19.024 em; năm 1999
1
có 23.000 em; năm 2000 lên đến khoảng 25.000 em. Vào thời điểm thống kê tháng
không có những Chương trình cũng như những đề tài nghiên cứu những vấn đề về
TELT nhằm đưa ra những giải pháp cụ thể hỗ trợ TELT.
Công tác xã hội là một ngành khoa học, một hoạt động chuyên môn bao gồm
hệ thống kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ và những quy định chuẩn mực đạo đức nghề
nghiệp khi thực hành loại ngành nghề này. Đối tượng tác động của CTXH là cá
nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng, đặc biệt là nhóm người yếu thế trong xã hội
như trẻ em, phụ nữ, gia đình nghèo, người già, người khuyết tật, những người có
hoàn cảnh khó khăn nên khó hòa nhập xã hội và chức năng xã hội bị suy giảm.
Hướng trọng tâm của CTXH là tác động đến con người như một tổng thể, tác động
đến con người trong môi trường của họ. Với mục đích là hướng đến giúp đỡ cá
nhân, gia đình và cộng đồng phục hồi hay nâng cao năng lực để tăng cường chức
năng xã hội, tạo ra những thay đổi về vai trò, vị trí của cá nhân, gia đình, cộng đồng
từ đó giúp họ hòa nhập xã hội; mặt khác công tác xã hội thúc đẩy các điều kiện xã
hội để cá nhân, gia đình tiếp cận được với chính sách, nguồn lực xã hội nhằm đáp
ứng nhu cầu cơ bản nghề CTXH đang được Đảng và Nhà nước chú trọng phát
triển.Tuy nhiên, vì là lĩnh vực hoạt động khá mới mẽ ở Việt Nam cả về lý thuyết và
thực hành, mặc dù trên thực tế đã có giảng dạy về CTXH với trẻ em trong các
trường cao đẳng, đại học và các mô hình chăm sóc trẻ trong cộng đồng nhưng hoạt
hỗ trợ của CTXH cho các đối tượng yếu thế vẫn chưa thực sự chuyên nghiệp, trong
đó có việc hỗ trợ cho TELT.
Với mong muốn tìm hiểu vai trò của CTXH trong việc hỗ trợ cho trẻ em lang
thang, hiệu quả hoạt động CTXH hỗ trợ cho các em như thế nào và cần làm gì để
hoạt động này hiệu quả hơn nữa, tác giả quyết định chọn đề tài “Công tác xã hội
đối với trẻ em lang thang từ thực tiễn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình
Dƣơng” làm đề tài nghiên cứu.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Dương Kim Hồng và Kenichi Ohno (2005) trong nghiên cứu về “Trẻ đường
phố Việt Nam, những nguyên nhân truyền thống và những nguyên nhân mới, mối
quan hệ giữa các nguyên nhân này trong nền Kinh tế đang phát triển” diễn đàn
Trong bài viết“Việc làm và trẻ lang thang tại thành phố Hồ Chí Minh”, Tác
giả Lê Thị Mỹ Hiền (năm 2009) đã khái quát chung tình hình trẻ lang thang tại
thành phố Hồ Chí Minh, liệt kê một số công việc và và đặc điểm các công việc mà
4
TELT thường làm để kiếm sống. Bài viết cũng đã mô tả sơ lược các hoạt động của
mộ số cơ sở hỗ trợ dạy nghề và việc làm cho trẻ trong đó tập trung vào mô hình đơn
vị việc làm – xã hội của dự án Tương Lai (Hội Bảo trợ trẻ em Thành phố Hồ Chí
Minh). Qua đó nêu ra những thuận lợi và khó khăn trong việc đào tạo và giải quyết
việc làm cho trẻ ở những cơ sở xã hội nói chung, đưa ra một số giải pháp để khắc
phục những khó khăn đó như: chú trọng mở rộng các mô hình hỗ trợ dạy nghề, việc
làm cho trẻ lang thang; sử dụng các phương pháp của CTXH vào việc hỗ trợ cho
các em,…
Tác giả Phạm Xuân Thắng trong đề tài “Đánh giá mô hình can thiệp với trẻ
em lang thang nhìn từ góc độ Quản lý ca” (năm 2014), (Nghiên cứu tại Tổ chức trẻ
em Rồng Xanh) đã nhấn mạnh ý nghĩa của hoạt động Công tác xã hội chuyên
nghiệp, cho thấy được vai trò quan trọng các chương trình, dịch vụ xã hội chuyên
nghiệp trong việc góp phần giúp đỡ, hỗ trợ người yếu thế, cụ thể là nhóm đối tượng
TELT. Từ việc áp dụng mô hình quản lý ca với nhóm thân chủ TELT; Đề tài đã tập
trung phân tích hiệu quả của quy trình quản lý ca với nhóm thân chủ TELT tại Quỹ
trẻ em Rồng Xanh, từ đó nhìn nhận thực trạng CTXH đối với TELT. Tuy nhiên tác
giả chưa tìm ra được giải pháp nào để nâng cao hoạt động CTXH đối với TELT tại
cơ sở.
Ngoài các nghiên cứu trên còn có một số đề tài và chương trình hành động
khác như: Tác giả Đỗ Ngọc Phương (1995)“Trẻ em lang thang – một số vấn đề xã
hội cần được quan tâm”; Chương trình hành động Quốc gia vì trẻ em giai đoạn
2001- 2010; Bộ Lao động -Thương binh xã hội – Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó
khăn định hướng và giải pháp; Chỉ thị 06-98-CT/TTG ngày 23/01/1998 của Thủ
Để thực hiện những mục đích nghiên cứu đề ra, luận văn tập trung giải quyết
những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu một số cơ sở lý luận về trẻ em, trẻ em lang thang, công tác xã
hội và công tác xã hội đối với trẻ em lang thang.
- Tìm hiểu thực trạng CTXH đối với TELT từ thực tiễn tại Tp Thủ Dầu Một,
tỉnh Bình Dương.
- Tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến thực trạng CTXH với TELT tại Tp Thủ Dầu
Một, tỉnh Bình Dương.
- Đề xuất giải pháp góp phần đảm bảo hoạt động CTXH đối với TELT tại Tp
Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội với trẻ em lang thang tại thành phố Thủ Dầu Một, Tỉnh
Bình Dương
6
4.2 . Phạm vi nghiên cứu
*Nội dung:
- Thực trạng CTXH đối với TELT từ thực tiễn các trung tâm bảo trợ xã hội
trên địa bàn tỉnh Bình Dương.
- Nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng trẻ em lang thang .
- Giải pháp đảm bảo hoạt động CTXH đối với TELT tại cộng đồng và các
trung tâm bảo trợ xã hội trên địa bàn Tp Thủ Dầu Một, Tỉnh Bình Dương.
*Không gian và thời gian:
- Không gian nghiên cứu: Chủ yếu ở phường Chánh Nghĩa, Phú Cường và
Phú Lợi thuộc thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương trong giai đoạn 20112016.
- Thời gian khảo sát: từ tháng 2/2016 – 6/2016.
chuyện cũng như suy nghĩ của mình.
Đối với đơn vị mẫu là cán bộ quản lý, nhân viên xã hội và cộng tác viên
ở cộng đồng làm công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em: trong thời gian thu thập dữ
liệu tác giả đã tham gia một số khóa tập huấn và các hội thảo có sự tham gia chia sẻ
của các chuyên gia và nhân viên xã hội đang công tác trong các cơ sở xã hội có trẻ
lang thang.
Nội dung phỏng vấn được ghi chép lại và sử dụng để đối chiếu với kết quả đã
thu được từ phương pháp nghiên cứu định lượng.
5.2.3 Phương pháp phân tích tư liệu sẵn có
Đề tài thu thập những thông tin sẵn có từ các công trình nghiên cứu khoa học đã
được xuất bản hoặc đăng tải trên các tạp chí khoa học, báo chí, mạng internet, các báo
cáo tổng hợp liên quan tới TELT, công tác xã hội với TELT. Từ đó phân tích và ứng
dụng những thông tin phù hợp vào trong nghiên cứu đề tài. Dựa trên những tài liệu liên
quan mà Tác giả đã thu thập được từ các phương tiện thông tin đại chúng: báo in, báo
mạng, các diễn đàn, mạng xã hội, báo cáo chuyên đề, sách tham khảo, kỷ yếu... để có
cái nhìn rõ nét về vấn đề nghiên cứu cũng như để làm cơ sở lý luận cho đề tài. Các tư
liệu thu thập được đều được sắp xếp, phân tích và hệ thống hóa trong đề tài.
5.2.4 Phương pháp xử lý dữ liệu
Các thông tin dữ liệu thu thập được sẽ được xếp thành các chủ đề xoay quanh
đề tài, làm cơ sở lý luận cho đề tài. Các thông tin định lượng sẽ được xử lý bằng
8
phần mềm SPSS. Các thông tin định tính sẽ được tiến hành gỡ băng, mã hóa và
được trình bày thành văn bản chi tiết, thông tin thu thập được sẽ được lọc ra, sử
dụng theo chủ đề dưới dạng các trích dẫn, được phân tích vào các nội dung nghiên
cứu của đề tài, sử dụng cùng với các thông tin định lượng để làm rõ hoặc chứng
minh thêm các luận điểm được trình bày trong bài viết.
6. Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của Luận văn
nhuyễn hơn các lý thuyết về CTXH, cũng cố thêm các lý luận khoa học và các học
thuyết về an sinh xã hội trong nghiên cứu của mình. Góp phần cung cấp tư liệu
tham khảo trong đào tạo, tập huấn hay các nghiên cứu tiếp theo ở các địa bàn, địa
phương khác.
Từ đề tài này, mọi người thấy được thực trạng khó khăn trong lao động của
TELT kiếm sống, những rủi ro mà các em có thể gặp phải trong cuộc sống thường
nhật, nhìn nhận được tính cấp thiết về lao động trẻ em và qua đó có cái nhìn tích
cực khi xem xét thực trạng này.
Nghiên cứu góp phần cung cấp thông tin với địa phương và các tổ chức xã
hội, đề xuất các phương án cũng như khuyến nghị để giảm thiểu thực trạng trên;
đồng thời đưa ra các giải phải tích cực hơn, để có các chính sách hỗ trợ giúp các em
có cuộc sống tốt hơn và hòa nhập cộng đồng.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Các phụ lục, Luận
văn có các chương sau đây:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác xã hội đối với trẻ em lang
thang.
Chương 2: Công tác xã hội đối với trẻ em lang thang từ thực tiễn thành phố
Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
Chương 3: Định hướng và giải pháp cho việc đảm bảo thực hiện công tác xã
hội đối với trẻ em lang thang.
10
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM
LANG THANG
1.1. Cách tiếp cận và các lý thuyết áp dụng trong nghiên cứu
1.1.1. Cách tiếp cận hệ thống và Lý thuyết hệ thống sinh thái
bao gồm các tiểu hệ thống: Nhân sự (cán bộ lãnh đạo, nhân viên CTXH, người giáo
dục, người chăm sóc, trẻ em lang thang, cộng tác viên chăm sóc sức khỏe của khu
phố/phường/ấp), chính sách, đối tác, cơ sở vật chất, tài chính… Mặt khác, Trung
tâm bảo trợ xã hội cũng là một tiểu hệ thống nằm trong hệ thống lớn nhằm hỗ trợ
cho TELT của tỉnh. Ngoài ra, các trung tâm này còn nằm trong hệ thống kinh tế - xã
hội của tỉnh Bình Dương.
Trong quá trình làm việc của nhân viên CTXH với TELT, lý thuyết hệ thống
sinh thái giúp họ nhìn nhận một cách tổng thể các tác động ảnh hưởng đến trẻ. Vì
bản thân trẻ cũng là một hệ thống do đó khi có vấn đề nảy sinh với trẻ cần phân tích
thấu đáo sự tương tác qua lại giữa TELT với hệ thống sinh thái - môi trường xã hội,
đặt vấn đề của trẻ trong mối tương tác này để tìm hiểu được nguyên nhân góc rễ, từ
đó có hướng giải quyết phù hợp.
Các hệ thống thường có sự tương hỗ lẫn nhau. Khi vấn đề của trẻ chưa được
giải quyết tốt có thể là do sự xung đột giữa các hệ thống hay rào cản nào đó khiến
việc tiếp cận các hệ thống hỗ trợ trẻ chưa được đảm bảo. Việc áp dụng thuyết hệ
thống sinh thái sẽ giúp nhân viên CTXH:
- Sử dụng và phát huy tối đa khả năng của trẻ trong sự tương tác với các hệ
thống khác để giải quyết vấn đề.
- Xây dựng mối quan hệ mới giữa trẻ, gia đình trẻ với các hệ thống trợ giúp
trong xã hội.
- Giúp tăng cường khả năng tương tác giữa trẻ, gia đình trẻ và các hệ thống.
- Cải tạo mối quan hệ tương tác giữa các thành viên trong cùng hệ thống. Cụ
thể là phá bỏ những hệ thống đóng trong cùng một gia đình.
- Giúp phát triển và thay đổi hệ thống chính sách xã hội một cách phù hợp.
- Cung cấp trợ giúp thực tế khác khi cần thiết.
Để hiểu một yếu tố nào đó trong môi trường, ta phải nghiên cứu cả hệ thống
môi trường xung quanh họ. Vì vậy, bất cứ việc can thiệp hoặc giúp đỡ một cá nhân
12
13
+ Nhân viên xã hội là cầu nối giúp các em tiếp cận được với những nguồn
lực xung quanh như gia đình, nhà trường, các tổ chức xã hội…
Theo đó, nguy cơ trẻ em lao động sớm, bỏ nhà đi lang thang phải đối diện
sớm với các tệ nạn xã hội là điều khó tránh khỏi. Nhiều em khi được hỏi đều trả lời
không hiểu biết gì về ma túy, HIV. Nhiều em thường xuyên bị lạm dụng tình dục,
đặc biệt số này hầu hết tập trung vào các em lao động trên đường phố hoặc làm ở cơ
sở tư nhân; hay giúp việc gia đình. Đối với trẻ làm việc tại các cơ sở tư nhân, rất ít
trẻ được chủ đối xử tốt. Vậy nên trẻ mới cần được yêu thương, được chăm sóc,
được sống trong gia đình có bố và có mẹ. Yêu thương là một hành động tác động
lớn đến quá trình phát triển tâm sinh lý của trẻ. Và khi được yêu thương thì trẻ sẽ
không có những biểu hiện tiêu cực như: muốn bỏ nhà đi, chán nản. Nhu cầu về học
tập, vui chơi, giải trí đối với các em cũng chưa được đáp ứng. Các em bỏ nhà đi
lang thang chủ yếu là đi kiếm sống do gia đình khó khăn về mặt kinh tế, gia đình có
vấn đề, bố mẹ li hôn hoặc các em gặp những khó khăn khi tham gia các hoạt động
ngoài xã hội; một bộ phận là chán học, ham chơi, nghiện game,... Một trong những
mong muốn của các em trẻ lang thang là mong muốn được hỗ trợ học nghề. Các em
mong muốn được đi học nghề để có thể tìm được việc làm với thu nhập ổn định, để
có thể nuôi sống được bản thân và phụ giúp gia đình; điều này phản ảnh được một
thực tế là các em vẫn muốn có một nghề ổn định để có cơ hội phát triển: TELT
mong muốn nhận được sự tôn trọng từ người lớn, bạn bè cùng trang lứa. Tuy nhiên
trên thực tế trẻ vẫn bị đối xử hà khắc, khinh miệt từ mọi người xung quanh, làm cho
trẻ mất tự tin và trở nên hung hăng hơn. Đó là những nhu cầu cơ bản và thiết thực
của các em, nhu cầu mà đáng ra đứa trẻ nào cũng phải được hưởng mà các em lại
không hề được đáp ứng, đó chính là nhiệm vụ mà người làm công tác xã hội cần
phải làm. Để làm được điều đó, nhân viên công tác xã hội phải nhận biết được
những nguyên nhân gây nên vấn đề của trẻ để tìm cách giải quyết phù hợp. Như vậy
1.1.2. Lý thuyết nhu cầu
Nhu cầu là cái gì đó được cho là cần thiết, đặc biệt khi nó được cho là thiết
yếu cho sự sinh tồn của một con người, một tổ chức hay bất kỳ thứ gì khác.
Nhà tâm lý học người Mỹ Abraham Maslow [10, tr.103] được xem là cha đẻ
của lý thuyết nhu cầu. Theo ông, hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu của họ.
Nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành các thang bậc khác nhau theo thứ tự
15
từ thấp đến cao về tầm quan trọng. Thang nhu cầu của ông chia làm hai cấp: cấp thấp
và cấp cao.
Hình: Tháp nhu cầu của Maslow
Nhu cầu cấp thấp bao gồm: nhu cầu về vật chất và nhu cầu về an toàn. Nhu
cầu về vật chất là nhu cầu tối thiểu nhưng cần thiết nhất đảm bảo cho con người tồn
tại bao gồm các hành vi: ăn, uống, mặc, ở, ngủ nghỉ, đi lại… Nhu cầu về an toàn là
không bị đe dọa về sức khỏe, tính mạng, công việc, gia đình. Nhu cầu này thể hiện
trong cả thể chất và tinh thần. Thuyết nhu cầu của Maslow nhằm giải thích những
nhu cầu nhất định của con người cần được đáp ứng như thế nào để một cá nhân
hướng đến cuộc sống lành mạnh và có ích cả về thể chất lẫn tinh thần, đồng thời giúp
cho sự hiểu biết của chúng ta về những nhu cầu của con người bằng cách nhận diện
một hệ thống thứ bậc các nhu cầu.
Nhu cầu cấp cao bao gồm: Nhu cầu về xã hội, nhu cầu về tôn trọng và nhu cầu
về phát triển. Nhu cầu về xã hội là các nhu cầu về tình yêu thương, được chấp nhận
và được tham gia vào tổ chức, đoàn thể nào đó trong xã hội. Khi thỏa mãn được nhu
cầu được chấp nhận là thành viên trong xã hội thì con người có xu hướng được tôn
trọng và ghi nhận những giá trị cá nhân như quyền lực, địa vị, uy tín… Cao nhất
trong thang nhu cầu của con người là nhu cầu được phát triển toàn diện.
Theo ông, khi con người thỏa mãn các nhu cầu bậc thấp đến một mức độ nhất
mình có năng lực, mình có thể làm được mọi việc.
TELT gặp rất nhiều vấn đề, để giải quyết các vấn đề đó triệt để cần phải tập
trung đánh giá những nhu cầu cụ thể của trẻ em. Trong mỗi trẻ khác nhau, với từng
hoàn cảnh khác nhau thì nhu cầu cũng khác biệt, chính vì vậy việc tiếp cận theo nhu
17
cầu khi làm việc trực tiếp với trẻ sẽ giúp nhân viên CTXH hỗ trợ trẻ tốt hơn. Giải
quyết vấn đề theo từng tầng bậc trong từng trường hợp.
Tiếp cận theo nhu cầu của TELT: Là cách tiếp cận dựa trên việc đáp ứng tốt
nhất của các dịch vụ CTXH đối với các nhu cầu của trẻ. Trước tiên là nhu cầu đảm
bảo cho sự phát triển thể chất của trẻ như được ăn uống, được mặc đủ ấm và vệ
sinh... Tiếp theo là nhu cầu cần được bảo vệ an toàn, ngăn ngừa những nguy cơ gây
tổn thương cho trẻ cả về thể chất, tinh thần và tình cảm. Nhu cầu thứ ba là nhu cầu
được vui chơi, giải trí và học tập. Thông qua những hoạt động này, trẻ sẽ được phát
triển, được hòa mình vào xã hội được gắn bó và dần tự khẳng định mình. Nhu cầu
thứ tư là nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu cuối cùng là nhu cầu được phát triển và
khẳng định bản thân. Đây là nhu cầu có một số người hiểu sai cho là không quan
trọng khi làm việc với trẻ. Nhân viên CTXH cần phải xác định rõ nhu cầu nào của
trẻ là ưu tiên và cấp bách nhất.
Tiếp cận theo nhu cầu sẽ giúp nhân viên CTXH tránh được việc “đánh đồng”
và “chủ quan” khi cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho TELT. Thay vào đó nhân viên
CTXH cần tìm kiếm những nhu cầu thực mà trẻ đang mong muốn được đáp ứng.
Trẻ và nhu cầu của trẻ cần được đặt vào vị trí trung tâm, chứ không phải ý muốn
chủ quan của cơ quan hỗ trợ hay của nhân viên CTXH. Cung cấp đúng các dịch vụ
mà trẻ mong muốn cũng như các hỗ trợ cần thiết để giải quyết đúng và hiệu quả vấn
đề của trẻ. Tiếp cận theo nhu cầu là cách tiếp cận mang tính nhân văn. Tính nhân
văn thể hiện ở việc coi trọng con người và những nhu cầu của chính bản thân họ.
Tiếp cận theo nhu cầu đặt con người và những đặc điểm riêng có của họ vào vị trí
hiện theo quy định của Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em, nhưng số
lượng trẻ em này không có nhiều và cũng rất hiếm khi thuộc nhóm trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt.
1.2.2. Khái niệm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
* Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em năm 2004 thì: Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh không bình
thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và
hòa nhập với gia đình, cộng đồng [3, tr.6].
Từ định nghĩa trên ta có thể thấy trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt có những đặc
điểm sau:
19
Thể chất và tinh thần không bình thường đó là các trẻ em có khuyết tật về thể
chất, tinh thần;
Không đủ điều kiện thực hiện quyền cơ bản và hòa nhập với gia đình và
cộng đồng.
Từ những đặc điểm trên chúng ta có thể phân biệt trẻ em có hoàn cảnh đặc
biệt với trẻ em bình thường.
Theo quy định của Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; trẻ em có hoàn
cảnh đặc biệt (gồm 10 nhóm đối tượng):
- Trẻ em mồ côi không nơi nương tựa;
- Trẻ em khuyết tật, tàn tật;
- Trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học;
- Trẻ em nhiễm HIV/AIDS;
- Trẻ em phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại;
- Trẻ em phải làm việc xa gia đình;
- Trẻ em lang thang;
- Trẻ em bị xâm hại tình dục;