VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN VIẾT HẢI
DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM
KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM PHỤC
HỒI CHỨC NĂNG VÀ TRỢ GIÚP TRẺ TÀN TẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. HÀ THỊ THƯ
Hà nội, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ
Công tác xã hội về “Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật từ thực tiễn
Trung tâm Phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật Thành phố Hồ Chí Minh” là
hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TKT
TEKT
TTPHCNTGTTT
DVCTXH
TDH
CTXH
NVCTXH
CUQT
QBTTEVN
LBVCS và GDTE
NASW
KTV
VLTL
PHCN
Trẻ khuyết tật
Trẻ em khuyết tật
Trung tâm Phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ
tàn tật
Dịch vụ công tác xã hội
Terre des hommes
Hiệp hội từ thiện đất lành
Công tác xã hội
Nhân viên công tác xã hội
Công ước Quốc tế
Quỹ Bảo trợ Trẻ em Việt Nam
Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
Bảng 2.16: Đánh giá Cơ chế và hành lang pháp lý cho việc phát triển dịch vụ
CTXH60
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Tên biểu đồ
Trang
Biểu đồ 2.1: Về sự hiểu biết về dịch vụ tư vấn, tham vấn trị liệu.............................32
Biểu đồ 2.2: Bảng đánh giá năng lực của nhân viên chăm sóc, nuôi dưỡng.............37
Biểu đồ 2.3: Đánh giá vai trò của NVXH trong dịch vụ chăm sóc nuôi dưỡng trẻ
khuyết tật.....................................................................................................................39
Biểu đồ 2.4: Đánh giá về năng lực của nhân viên y tế thực hiện dịch vụ hỗ trợ y tế,
phục hồi chức năng tại trung tâm...............................................................................41
Biểu đồ 2.5: Kết quả phục hồi chức năng vận động..................................................42
Biểu đồ 2.6: Đánh giá về hoàn cảnh gia đình và phụ huynh của trẻ ảnh hưởng đến
dịch vụ công tác xã hội ..............................................................................................54
Biểu đồ 2.7: Đánh giá nhận thức của cộng đồng và ban ngành các cấp ảnh hưởng
đến dịch vụ CTXH......................................................................................................58
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, người khuyết tật luôn là mối quan tâm của cộng đồng quốc tế của
Đảng và Nhà nước ta. Việt Nam đã ký Công ước về Quyền của người khuyết tật
(CRPD) vào tháng 10 năm 2007. CRPD là một bước tiến quốc tế quan trọng trong
việc tuyên bố và bảo vệ quyền của mọi người khuyết tật. Bằng việc ký kết CRPD,
Chính phủ Việt Nam đã thể hiện quan điểm của mình về khuyết tật, rằng khuyết tật
không chỉ là một vấn đề y học mà còn bao gồm những rào cản xã hội và sự tách biệt
khỏi cuộc sống thường ngày bằng sự phân biệt đối xử và những chuẩn mực cũ. Với
sự trợ giúp của nhiều bên liên quan, các tổ chức phi chính phủ và được khuyến
nhiều cơ hội tham gia các hoạt động xã hội và tăng cường chức năng xã hội để trẻ
được phát triển và hòa nhập cộng đồng một cách bền vững.
Thực tế cho thấy, việc trợ giúp cho trẻ khuyết tật tại Trung tâm cũng còn có
những khó khăn nhất định như: trẻ chưa được chăm sóc toàn diện, đầy đủ, khả năng
phục hồi chức năng cho trẻ mất nhiều thời gian và kéo dài…. Trung tâm phải thực
hiện nhiều nhiệm vụ khác nhau, chăm sóc nhiều đối tượng với các dạng tật khác
nhau, đội ngũ viên chức y tế, nhân viên xã hội, người lao động đời sống còn khó
khăn về sinh hoạt, kinh tế, căng thẳng về tinh thần. Cán bộ phải kiêm nhiệm nhiều
việc, nhân viên chưa được đào tạo chuyên nghiệp, đặc biệt là các lĩnh vực tham vấn
tâm lý, công tác xã hội, kỹ năng nghề nghiệp còn hạn chế.
Các công trình nghiên cứu về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em nói
chung đã có, tuy nhiên dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật còn khá
mới mẻ nhất là tại một trung tâm cụ thể.
Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài “Dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em
khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm Phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật
Thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề người khuyết tật, trẻ em khuyết tật là một vấn đề mang tính xã hội và
được tất cả các quốc gia trên thế giới quan tâm, điều này cũng thể hiện rõ trong
quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong định hướng cho các hoạt động trợ giúp
người khuyết tật rằng: “Người khuyết tật không phải gánh nặng của xã hội, họ cũng
có niềm tin, giá trị mong muốn đóng góp cho xã hội nhưng họ bị hạn chế về cơ hội
tham gia do đó Nhà nước, cộng đồng, xã hội cần quan tâm, tạo cơ hội cho họ phát
triển và hòa nhập”
Trong nhiều năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về công
tác xã hội với trẻ em khuyết tật, những đề tài, bài viết và nhiều chương trình, dự án
có liên quan đến an sinh xã hội cho trẻ em khuyết tật như:
Tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe của trẻ khuyết tật
sống tại cộng đồng nghiên cứu trường hợp tại xã Tân An Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên
2
làm sao cho trẻ khuyết tật được tiếp cận với môi trường giáo dục hoà nhập, việc đào
tạo cho đội ngũ giáo viên, cán bộ về giáo dục hoà nhập và sự phối hợp, cộng tác
giữa các Bộ, ngành quan tâm đến giáo dục đặc biệt, nhất là giáo dục hoà nhập cho
trẻ em khuyết tật [16].
Những công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến vấn đề CTXH đối
với trẻ khuyết tật như: đề tài ‘‘Công tác xã hội với trẻ em khuyết tật tại xã Hồng
3
Quản, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế’’ của tác giả Trần Ngọc Hải. Mục tiêu
quan trọng mà đề tài này hướng đến đó là sự giúp đỡ của các ban ngành chức năng
nhằm giúp trẻ khuyết tật vươn lên hòa nhập cộng đồng để từ đó họ có cuộc sống tốt
hơn. Qua đó nhằm nâng cao khả năng và cơ hội tiếp cận các nguồn lực cho trẻ
khuyết tật [32].
Công trình nghiên cứu của tác giả Hà Thị Thư đã trình bày một cách tổng
quát nhất về công tác xã hội với người khuyết tật, các mô hình hỗ trợ, các phương
pháp tiếp cận, các chương trình chính sách của nhà nước đối với người khuyết tật,
vai trò của nhân viên công tác xã hội đối với người khuyết tật, các kỹ năng làm việc
với người khuyết tật. Đây là giáo trình đào tạo Công tác xã hội ở hệ trung cấp nghề
[24].
Tác giả Tạ Hải Giang, Trung tâm phát triển Sức khỏe bền vững – Viethealt
với nghiên cứu “Dịch vụ xã hội cho Người khuyết tật, thách thức và triển vọng”.
Trong nghiên cứu của mình tác giả đã chỉ ra thực trạng tiếp cận dịch vụ xã hội của
người khuyết tật Việt Nam là khó khăn đặc biệt trong lĩnh vực y tế và giáo dục. Từ
đó tác giả đưa ra đề xuất về sự cần thiết tham gia của nhân viên công tác xã hội
trong công tác hỗ trợ người khuyết tật thông qua kết nối các nguồn lực liên ngành
và đa chiều để hỗ trợ người khuyết tật một cách có hiệu quả. Nghiên cứu đã chỉ ra
vai trò cụ thể của nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp người khuyết tật trong
lĩnh vực y tế và giáo dục là phòng ngừa khuyết tật bẩm sinh, can thiệp sớm – phát
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết
tật từ thực tiễn Trung tâm Phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về đối tượng: nghiên cứu các dịch vụ công tác xã hội đang được
cung cấp và thực hiện tại trung tâm như dịch vụ tư vấn, tham vấn trị liệu; dịch vụ
chăm sóc, nuôi dưỡng; dịch vụ hỗ trợ y tế, phục hồi chức năng; dịch vụ giáo dục
chuyên biệt, giáo dục hoà nhập; dịch vụ giải trí, văn hóa, thể thao.
- Phạm vi về khách thể: nghiên cứu trên 50 trẻ khuyết tật hoặc phụ huynh gia
đình trẻ; 50 viên chức, người lao động gồm lãnh đạo đơn vị, khoa, phòng và các
nhân viên trực tiếp chăm sóc, điều trị và phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật. Các
đối tác nhà tài trợ, viện trợ; đại diện cơ quan ban ngành, địa phương và người dân
trên địa bàn nghiên cứu.
- Phạm vi về địa bàn: tại Trung tâm Phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật,
38 Tú Xương phường 7 quận 3 thành phố Hồ Chí Minh.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
5
Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: Dựa trên những báo cáo đánh giá
kết quả của các dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật tại trung tâm từ đó rút
ra những lý luận và đưa ra được những đề xuất về biện pháp để nâng cao hiệu quả
dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật tại trung tâm.
Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: nghiên cứu hệ thống những lý
thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống các yếu tố có liên quan đến dịch vụ
hỗ trợ của công tác xã hội, chính sách hỗ trợ đối với trẻ khuyết tật trong và ngoài
nước.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
luận về chính sách xã hội nói chung.
Là nguồn tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu sau này về lĩnh vực dịch vụ
công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật tại các Trung tâm, cơ sở bảo trợ xã hội tập
trung chuyên chăm sóc, điều trị và phục hồi chức năng cho trẻ khuyết tật.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Luận văn đề cập, đánh giá và phân tích những ưu, nhược điểm những mặt
mạnh và hạn chế của công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật đang chăm sóc nuôi
dưỡng tại các cơ sở bảo trợ xã hội, gợi mở một số giải pháp nhằm nâng cao chất
lượng các dịch vụ công tác xã hội đang được cung cấp cho trẻ khuyết tật tại trung
tâm ngày càng chất lượng và hiệu quả hơn.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục và danh
mục các biểu bảng, phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em
khuyết tật
Chương 2: Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ khuyết tật tại Trung
tâm Phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật Thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Ứng dụng công tác xã hội vào trợ giúp trẻ em khuyết tật và đề xuất
biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết
tật từ thực tiễn Trung tâm Phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật Thành phố Hồ
Chí Minh.
7
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI TRẺ EM KHUYẾT TẬT
1.1. Trẻ khuyết tật: Khái niệm và đặc điểm
sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt
động quan trọng trong cuộc sống [31].
Như vậy, trẻ em khuyết tật là những trẻ em dưới 16 tuổi có một hoặc nhiều
khiếm khuyết về thể chất và tinh thần gây ra sự suy giảm các chức năng làm ảnh
hưởng đến các hoạt động sinh hoạt, học tập, lao động trong cuộc sống thường ngày
của trẻ.
1.1.2. Đặc điểm tâm lý, nhu cầu của trẻ khuyết tật
* Đặc điểm tâm lý của trẻ khuyết tật
Bên cạnh các đặc điểm tâm lý tích cực và tiêu cực như trẻ em khác thì phần
nhiều tâm lý của trẻ em khuyết tật có điểm nổi lên là:
Tâm lý mặc cảm, tự ti do ý thức và nhận thấy về sự khác biệt của bản thân
với những trẻ bình thường khác do đó trẻ thường sống khép kín và ngại giao tiếp
với mọi người.
Trẻ rất nhạy cảm và dễ bị kích động dẫn đến khó kiểm soát phản ứng khi bị
phân biệt đối xử và thiếu tôn trọng.
Trẻ gặp nhiều khó khăn trong giao tiếp với môi trường xung quanh. Vốn từ
và khả năng ngôn ngữ chậm hơn so với các trẻ bình thường khác, trẻ thường sử
dụng cử chỉ hay ánh mắt để giao tiếp.
Một số trẻ có ý chí, nghị lực cao đặc biệt là những trẻ có khuyết tật về vận
động nhưng trí tuệ phát triển bình thường hoặc thậm chí rất tốt, những trẻ này
thường cố gắng, tự giác và có ý thức cao trong học tập, lao động biết tự chăm sóc
bản thân mình để không phụ thuộc vào người khác.
Trong mối quan hệ tương tác với người khác trong gia đình, cộng đồng trẻ
thường có cảm xúc buồn, thất vọng, dễ tự ái. Trẻ có thể bị hạn chế phát triển năng
lực nếu gia đình có kỳ vọng thấp ở trẻ hay được gia đình, người thân bảo bọc, che
chở quá nhiều hoặc khi sống trong gia đình khó khăn, ít quan tâm trẻ khuyết tật có
cảm giác mình bị bỏ rơi.
Nhìn chung trẻ khuyết tật đang ở các độ tuổi mà tâm lý chưa ổn định, chưa
có sự hoàn thiện về nhân cách, dễ bị tổn thương do vậy các em rất cần sự động viên
Nhu cầu được tôn trọng, đây là nhu cầu mà trẻ khuyết tật luôn đòi hỏi việc
thực hiện nhu cầu này ở người lớn, ở bạn bè cùng trang lứa và trước hết là ở những
người cha người mẹ. Sự tôn trọng, sự thừa nhận của mọi người sẽ làm tăng sự tự
tin, tăng nghị lực của trẻ.
Nhu cầu cao nhất của trẻ là nhu cầu phát triển và hoàn thiện nhân cách đó là
việc tự khẳng định mình, chứng minh rằng mình có năng lực và mình có thể làm
được mọi việc.
Thực tế cho thấy, hiện nay một số nhu cầu bậc cao đối với trẻ khuyết tật rất ít
có cơ hội thực hiện hoá do đó rất cần sự trợ giúp phù hợp từ phía gia đình, cộng
đồng, xã hội để trẻ có thêm cơ hội đáp ứng các nhu cầu, để trẻ có cuộc sống bình
thường, để được phát triển và hòa nhập.
1.2. Lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật
1.2.1. Một số khái niệm
* Khái niệm về dịch vụ xã hội
Dịch vụ xã hội cơ bản là hệ thống cung cấp dịch vụ nhằm đáp ứng những
nhu cầu cơ bản của con người và được xã hội thừa nhận (VNSW).
10
Liên hợp quốc định nghĩa Dịch vụ xã hội cơ bản là các hoạt động dịch vụ
cung cấp những nhu cầu cho các đối tượng nhằm đáp ứng những nhu cầu tối thiểu
của cuộc sống (UN – Africa Spending Less on Basic Social Services) [36].
Theo Soer. Mary Trần Thị Kim Loan dịch vụ xã hội là các tổ chức cá nhân
và xã hội thực hiện các hoạt động xã hội đáp ứng các nhu cầu bình thường và đặc
biệt của cá nhân và gia đình đảm bảo các quyền cơ bản của con người nhằm đem lại
sự phát triển và cải thiện cuộc sống. Hệ thống dịch vụ xã hội bao gồm nhiều lĩnh
vực như: y tế, giáo dục, an sinh, nông nghiệp, hạ tầng cơ sở... [18]
∗ Khái niệm về dịch vụ công tác xã hội
Công tác xã hội là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay
cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện
Tập trung vào điểm mạnh, tận dụng các nguồn lực sẳn có của đối tượng để
thúc đẩy việc trao quyền.
Chịu trách nhiệm đối với các hoạt động nghề nghiệp công tác xã hội, bảm
đảm đối tượng được cung cấp dịch vụ công tác xã hội phù hợp và chất lượng.
Thúc đẩy công bằng xã hội, đảm bảo cung cấp nguồn lực một cách công
bằng, minh bạch theo nhu cầu của đối tượng.
Tôn trọng sự đa dạng, không phân biệt đối xử về khả năng, tuổi tác, giới tính,
tình trạng hôn nhân, tình trạng kinh tế - xã hội, màu da, chủng tộc, quốc tịch, quan
điểm chính trị, tín ngưỡng tôn giáo và các đặc điểm sức khỏe của đối tượng.
1.2.3. Các dịch vụ công tác xã hội đối với trẻ em khuyết tật
Các hoạt động cung cấp dịch vụ về công tác xã hội tại các cơ sở bảo trợ xã
hội, trung tâm công tác xã hội bao gồm:
Tư vấn, tham vấn để giải quyết sự căng thẳng về quan hệ, tình cảm và trợ
giúp tiếp cận các dịch vụ xã hội; tổ chức các cuộc tiếp xúc, trao đổi để tìm ra khó
khăn và cách thức giải quyết khó khăn; trợ giúp về thức ăn, chỗ ở tạm thời; hỗ trợ
khám, chữa bệnh và học tập; trợ giúp học nghề, tìm việc làm, nâng cao thu nhập và
vui chơi giải trí, sinh hoạt văn hoá tinh thần;
Nâng cao năng lực cho cán bộ liên quan ở cộng đồng, thành viên các gia đình
để họ tự giải quyết các vấn đề phát sinh, vượt qua hoàn cảnh khó khăn;
Tổ chức các hoạt động trợ giúp cộng đồng, nâng cao năng lực phát hiện
vấn đề, xây dựng kế hoạch huy động nguồn lực thông qua các chương trình, dự án;
tổ chức thực hiện kế hoạch có sự tham gia của người dân, người cao tuổi, người tàn
tật và trẻ em, thúc đẩy cộng đồng phát triển.
1.2.3.1. Dịch vụ tư vấn, tham vấn trị liệu
Trung tâm thực hiện hỗ trợ về dịch vụ tư vấn, tham vấn trị liệu cho trẻ
khuyết tật thông qua hoạt động tư vấn, hỗ trợ tâm lý cho cá nhân trẻ và gia đình,
bằng các phương pháp trị liệu tâm lý giúp trẻ vượt qua khủng hoảng về tâm lý để
giải quyết sự căng thẳng về các mối quan hệ của các thành viên trong gia đình,
những vấn đề tâm lý cá nhân cũng như vấn đề xã hội của gia đình và cộng đồng dân
cư có ảnh hưởng và tác động đến trẻ khuyết tật; hỗ trợ gia đình và trẻ tiếp cận và
khăn mặt, kem đánh răng và bàn chải đánh răng riêng, được trang bị quần áo đồng
phục đi học (đối với trẻ trong độ tuổi đi học), tất và dép được cung cấp ít nhất 6
tháng/01 lần và được thay thế khi bị hư hỏng, mất và quần áo mặc đủ ấm về mùa
đông.
1.2.3.3. Dịch vụ hỗ trợ y tế, phục hồi chức năng
Trung tâm luôn có đội ngũ cán bộ y tế (Bác sĩ, Điều dưỡng, Kỹ thuật viên y,
Hộ lý), trang thiết bị, dụng cụ y tế, tủ thuốc bảo đảm chăm sóc sức khoẻ ban đầu, sơ
cấp cứu khi cần thiết; điều trị và mở sổ theo dõi; kiểm tra sức khoẻ định kỳ 6 tháng
và hàng năm cho từng trẻ. Ngoài ra trung tâm còn có đội ngũ cán bộ y tế chuyên
môn về phục hồi chức năng (Bác sĩ về chỉnh hình, phục hồi chức năng, Kỹ thuật
viên vật lý trị liệu), các máy móc, trang thiết bị, dụng cụ dùng để tập vật lý trị liệu,
phục hồi chức năng cho nhóm trẻ khuyết tật vận động…
13
Thực hiện khám, chẩn đoán, điều trị và phục hồi suy dinh dưỡng, phục hồi
chức năng giúp trẻ được can thiệp phục hồi suy dinh dưỡng, phục hồi chức năng
sớm qua tập vật lý trị liệu, phục hồi chức năng, hạn chế những biến dạng suy giảm
chức năng, giúp trẻ phát triển vận động và thể lực tốt hơn để sớm hoà nhập cộng
đồng.
Tổ chức chương trình chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, chăm sóc sức khoẻ
ban đầu và phục hồi chức năng qua tập vật lý trị liệu tại gia đình giúp trẻ được phục
hồi sức khoẻ, cải thiện chất lượng cuộc sống, phòng ngừa các bệnh nguy hiểm hay
gặp ở trẻ em, giảm gánh nặng chi phí điều trị, nhân lực và thời gian chăm sóc bệnh.
1.2.3.4. Dịch vụ hỗ trợ giáo dục chuyên biệt, giáo dục hòa nhập
Trẻ đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại trung tâm được bảo đảm việc học
văn hoá (đối với trẻ có khả năng học tập) được học nghề (đối với trẻ em từ 13 tuổi
trở lên), cụ thể:
Bảo đảm cho trẻ được phổ cập giáo dục, cung cấp giáo dục chính quy hoặc
trừ một số trường hợp có khả năng đe dọa đến sự an toàn của trẻ khuyết tật.
Trẻ được đảm bảo tham gia trong môi trường văn hóa có sự quan tâm, chia
sẻ và hỗ trợ trẻ thể hiện tình cảm, suy nghĩ, ý tưởng và sự sáng tạo;
Trẻ có cơ hội tham gia vào các hoạt động tôn giáo và xã hội; được học văn
hóa truyền thống dân tộc và tôn trọng quyền tự do về tôn giáo, tín ngưỡng trong
khuôn khổ pháp luật Việt Nam; Có quyền lựa chọn tôn giáo mà không bị phân biệt
đối xử, không bị ép buộc theo một tôn giáo để được chăm sóc trong cơ sở bảo trợ xã
hội.
Qua đó, cho thấy hoạt động cung cấp các dịch vụ công tác xã hội tại Trung
tâm như: chăm sóc, nuôi dưỡng; hỗ trợ y tế, phục hồi chức năng; hỗ trợ giáo dục và
hỗ trợ tâm lý phụ thuộc rất nhiều vào đối tượng xã hội mà dịch vụ hướng đến, cụ
thể đối tượng trẻ tiếp nhận vào trung tâm phần lớn là trẻ em khuyết tật trong độ tuổi
tử 3 đến dưới 16 tuổi có thể chất yếu do suy dinh dưỡng và có nhiều bệnh lý; trẻ đa
khuyết tật nên hầu như mọi sinh hoạt đều luôn cần đến đội ngũ nhân viên trực tiếp
chăm sóc, đội ngũ nhân viên y tế, kỹ thuật viên, giáo viên nhân viên xã hội túc trực
toàn thời gian 24/24 để theo dõi hỗ trợ và can thiệp kịp thời. Điều này đòi hỏi người
nhân viên phải có tình thương yêu thương trẻ, có trách nhiệm với công việc của
mình xem trẻ như con em của mình. Họ rất ít có thời gian cho bản thân và gia đình
khi làm việc tại trung tâm vì phải trực và chăm sóc trẻ toàn thời gian. Cuộc sống
bản thân và gia đình chỉ nhờ vào tiền lương theo ngạch bậc nhà nước, do đó thu
nhập thường xuyên hàng tháng cộng với chế độ phụ cấp ưu đãi phải làm sao cho
người nhân viên đảm bảo được cuộc sống sẽ là điều kiện quyết định sự gắn bó lâu
dài và sự tận tâm phục vụ của người nhân viên xã hội.
1.2.4. Một số lý thuyết ứng dụng đối với trẻ em khuyết tật
1.2.4.1. Thuyết hệ thống
Thuyết hệ thống là tổng thể phức hợp gồm nhiều yế tố liên quan với nhau và
mỗi biến động trong một yếu tố nào đều tác động lên những yếu tố khác và cùng tác
động lên cả một hệ thống có thể gồm nhiều hệ thống, đồng thời là một bộ phận của
một đại hệ thống. Cũng như con người là một tiểu hệ thống, gia đình là hệ thống
trung mô, xã hội là hệ thống vĩ mô. Mỗi cá nhân trong tiểu hệ thống sẽ bộc lộ vai
CTXH thông qua mối quan hệ tương tác trực tiếp 1-1. Mục đích của CTXH cá nhân
là giúp cho cá nhân giải quyết vấn đề nảy sinh từ mối quan hệ, từ những thay đổi
của môi trường xung quanh. Đối tượng trợ giúp là cá nhân nhưng có khi cần can
thiệp với cả gia đình của họ nhằm tạo sự thay đổi của cá nhân và những người liên
quan trong gia đình, là những người đang có vấn đề tâm lý, xã hội. Người trợ giúp
là NVXH, họ là nhà chuyên môn có kiến thức nền tảng như hành vi con người, xã
hội và kỹ năng chuyên môn về CTXH. Họ thực hiện việc trợ giúp các cá nhân theo
tiến trình tuần tự với các hoạt động cụ thể nhằm nâng cao chức năng của các cá
nhân để họ có khả năng tự giải quyết vấn đề của họ.
16
Các bước thực hiện phương pháp CTXH cá nhân hay còn được gọi là tiến
trình công tác xã hội cá nhân
Tiến trình là sự trao đổi tương tác giữa những cán bộ chuyên nghiệp (nhân
viên xã hội) và thân chủ theo các bước với những hoạt động cụ thể nhằm giải quyết
vấn đề. Tiến trình này có thể được phân thành các bước khác nhau, cụ thể được
phân thành 7 bước:
Bước 1 - Xác định vấn đề
Tạo mối quan hệ với thân chủ hướng đến việc hợp tác và chia sẻ thông tin;
Xác định thân chủ đang gặp phải vấn đề gì.
Bước 2 – Thu thập thông tin
Việc thu thập thông có tác dụng định hướng cho kế hoạch dịch vụ cho thân
chủ. Thông tin thu thập gồm: tiểu sử xã hội, điểm mạnh, điểm yếu; vấn đề; Những
ấn tượng và đề xuất của nhân viên xã hội.
Bước 3 – Đánh giá
Khẳng định lại vấn đề thân chủ gặp phải; Nguyên nhân dẫn đến vấn đề; Vấn
đề cần được giải quyết ở đâu; Công việc trị liệu bắt đầu như thế nào.
Bước 4 – Lên kế hoạch can thiệp, trị liệu
Mục tiêu cần đạt được; Xác định thời gian trị liệu; Xây dựng kế hoạch trị liệu
hưởng bởi chất độc da cam… với nhiều dạng tật khác nhau như: bại não, chậm phát
triển vận động, chậm phát triển trí tuệ, Down, tự kỷ, trẻ chậm phát triển tâm thần
vận động, trẻ khó khăn về ngôn ngữ và trẻ đa khuyết tật.
Đặc điểm trẻ tại trung tâm phần lớn là trẻ khuyết tật nặng và đặc biệt nặng,
nhận thức của trẻ rất thấp, trẻ thường có hành vi bất thường, vận động kém, có trẻ
không vận động được, trẻ không có ngôn ngữ hoặc ngôn ngữ kém giao tiếp khó
khăn. Cha, mẹ, gia đình, hoặc người chăm sóc không chấp nhận khiếm khuyết của
con em mình, có tâm lý mặc cảm, hy vọng trẻ sẽ được phục hồi và phát triển như trẻ
bình thường, trẻ sẽ đi học và hòa nhập với trẻ cùng lứa tuổi. Ngoài ra còn có một số
cha, mẹ, gia đình lại muốn bỏ rơi trẻ, hay bỏ mặc không chăm sóc, phó thác tất cả
cho Trung tâm. Qua đó, có thể thấy trẻ khuyết tật khi vào Trung tâm thường gặp
phải những vấn đề trong các hoạt động:
Hoạt động lao động: Gặp rất nhiều khó khăn về mặt hoạt động lao động,
trong việc đi lại do đó trẻ dễ có mặc cảm, tự ti với bản thân và hay sống cô lập, tách
biệt với mọi người xung quanh.
Sinh hoạt cá nhân: Do sự khiếm khuyết về cơ thể nên trẻ gặp nhiều cản trở
và bất tiện trong các sinh hoạt cá nhân. Mọi sinh hoạt cá nhân đều cần có sự giúp đỡ
của người khác.
Hoạt động học tập: Khả năng tiếp thu tri thức của trẻ kém hơn các bạn cùng
lứa do dó trẻ rất dễ chán nản, bỏ học và không hợp tác. Vì vậy cần một hình thức
giáo dục phù hợp như giáo dục chuyên biệt, giáo dục hòa nhập để trẻ thích nghi dần
và phát triển phù hợp theo từng đặc điểm khiếm khuyết và khả năng phát triển của
trẻ.
1.3.2. Nhân viên công tác xã hội
Yêu cầu của nhân viên công tác xã hội khi vào làm việc tại Trung tâm cần
có, đó là:
18
các cơ sở bảo trợ xã hội công lập chủ yếu là từ nguồn kinh phí ngân sách nhà nước
cấp như: kinh phí thường xuyên cho hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, trợ cấp hàng
tháng cho các đối tượng kể cả tiền lương cho đội ngũ cán bộ, viên chức, người lao
động làm việc tại các cơ sở bảo trợ xã hội; kinh phí hỗ trợ về y tế, giáo dục, đào tạo
và tạo việc làm... Ngoài ra các địa phương, cơ sở bảo trợ xã hội có thể tiếp nhận, sử
dụng và quản lý các nguồn kinh phí khác do các cá nhân, mạnh thường quân, gia
19