Công tác điều tra cơ bản của lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm tại Thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 38

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Thành phố Hồ Chí Minh được xác định là một trong những trung tâm
chính trị, kinh tế, văn hóa, thương mại, dịch vụ của cả nước và trong khu
vực. Trong những năm qua, Thành phố đã phát triển nhanh về mọi mặt. Theo
đó, là sự gia tăng dân số cơ học, hình thành nhiều loại hình kinh tế đa dạng,
sự hòa nhập với quốc tế, nảy sinh nhiều thuận lợi và khó khăn của chính nền
kinh tế thị trường … Cũng vì thế, tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật
ngày càng diễn biến phức tạp; sự trà trộn và ẩn náu của tội phạm, tiềm ẩn
nhiều nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh tội phạm, xuất hiện nhiều yếu
tố khách quan và chủ quan làm ảnh hưởng tới công tác phòng ngừa, đấu
tranh chống tội phạm. Toàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện có 24 quận, huyện
(19 quận và 05 huyện), với 259 phường, 58 xã và 05 thị trấn.
Theo thống kê của Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã
hội, đến hết tháng 6 năm 2007, trên địa bàn TP.HCM có 1.244.176 hộ thực
tế cư trú, với 6.443.638 nhân khẩu, trong đó, riêng số nhân khẩu tạm trú diện
KT4 (vãng lai, thời vụ, không cố định …) là 862.322 người; người nước
ngoài ở khu vực có 1326 hộ, với 4636 người.
-Về quản lý đối tượng thuộc hệ quản lý hành chính đang thực tế cư
trú: Có 149.005 đối tượng, trong đó 94.752 đối tượng chính trị, 36.314 đối
tượng hình sự, 1830 đối tượng kinh tế, 7782 đối tượng ma tuý, 4913 đối
tượng tệ nạn xã hội, 2534 thanh thiếu niên hư, phạm pháp …
-Có 5304 đối tượng sưu tra (3393 về hình sự, 469 về kinh tế, 1473 về
ma tuý).

1


-Có 31.315 đối tượng tù tha về (26.974 hình sự, 860 kinh tế, 3481 ma
tuý) …

tác một cách đồng bộ và hiệu quả. Nếu thực hiện tốt công tác này, vừa tạo
điều kiện thực hiện tốt các công tác khác trong thực hiện chức năng quản lý
nhà nước như phát triển kinh tế, văn hóa-xã hội, vừa tạo điều kiện, hỗ trợ đắc
lực cho công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm.
Trong những năm vừa qua, trên tinh thần các văn bản của Bộ Công an,
dựa vào các điều kiện thực tiễn, công tác nghiệp vụ cơ bản nói chung và
công tác điều tra cơ bản nói riêng đã được Công an Thành phố Hồ Chí Minh
rất quan tâm và có những văn bản tổ chức thực hiện thực hiện cụ thể. Theo
đánh giá chung của Công an Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả điều tra cơ
bản của lực lượng Cảnh sát nói chung và của lực lượng Cảnh sát quản lý
hành chính về trật tự xã hội thực hiện theo Hướng dẫn số 32/HDCATP(PC13) về công tác nghiệp vụ cơ bản đã phục vụ tốt cho công tác quản
lý nhà nước nói chung và công tác an ninh trật tự nói riêng, góp phần cho sự
phát triển kinh tế - văn hóa – xã hội của Thành phố, tạo sự ổn định cơ bản để
phát triển mọi mặt.
Tuy nhiên, vì những lý do khách quan và chủ quan, công tác điều tra
cơ bản của lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội tại Thành
phố Hồ Chí Minh đôi khi chưa cập nhật sát thực tiễn, độ chính xác của số
liệu còn vướng mắc, yếu tố khoa học kỹ thuật chưa được ứng dụng nhiều
… . Do vậy, cũng đã xảy ra những tình huống, vụ việc nghiêm trọng, bất ngờ
vì ta chưa kịp nắm đuợc những nguyên nhân, điều kiện, biểu hiện ngay từ
ban đầu. Cụ thể, qua tìm hiểu đánh giá về công tác nghiệp vụ cơ bản 06
tháng đầu năm 2007 của Công an Thành phố, cho thấy công tác điều tra cơ
bản còn mang tính hành chính và hầu hết mới thực hiện được bước thu thập
tài liệu và đăng ký hồ sơ; chưa triển khai việc hệ thống hóa, đánh giá, phân
tích tài liệu, do đó việc đề xuất các biện pháp phòng chống tội phạm còn hạn
chế. Một số Cán bộ chiến sỹ nhận thức về công tác điều tra cơ bản chưa đầy
đủ, sâu sắc, chưa phân biệt rõ được giữa nội dung điều tra cơ bản với nội

3




- Vai trò của lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội
Công an Thành phố Hà Nội trong điều tra các vụ án hình sự (Luận văn thạc
sỹ luật học của Chữ Đức Trường, bảo vệ tại Học viện Cảnh sát nhân dân
năm 2005).
- Bài viết về chuyên đề “Nội dung và kết quả thực hiện chương trình
quốc gia phòng, chống tội phạm” (Năm 2005, người biên soạn: PGS.TS Trần
Phương Đạt, Học viện Cảnh sát nhân dân).
Ngoài ra, còn có một số bài viết có liên quan đến đề tài được đăng trên
các báo, tạp chí của lực lượng Công an nhân dân và trong kỷ yếu một số
cuộc hội thảo, hội nghị cấp Bộ.
Tuy nhiên, các công trình đã công bố mới chỉ nghiên cứu những vấn
đề khác của công tác quản lý hành chính về trật tự xã hội, chưa có đề tài nào
nghiên cứu chuyên sâu về công tác điều tra cơ bản của lực lượng Cảnh sát
quản lý hành chính về trật tự xã hội phục vụ hoạt động phòng ngừa, đấu
tranh chống tội phạm trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy, đề tài
này không trùng lặp với các công trình khoa học đã được công bố từ trước
đến nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của của đề tài luận văn
Mục đích nghiên cứu của đề tài luận văn là làm rõ hơn trong nhận
thức chung về công tác điều tra cơ bản; đánh giá được thực trạng công tác
điều tra cơ bản của lực lượng Cảnh sát nói chung và lực lượng Cảnh sát quản
lý hành chính về trật tự xã hội nói riêng tại Thành phố Hồ Chí Minh trong
thời gian qua; rút ra được những ưu điểm, kinh nghiệm, tồn tại, vướng mắc
và nguyên nhân. Trên cơ sở đó, đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hơn
nữa hiệu công tác điều tra cơ bản của lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính
về trật tự xã hội phục vụ hoạt động phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm
trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.


6


Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của của Chủ
nghĩa Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và các chủ trương, đường lối,
chính sách của Đảng, Pháp luật của nhà nước; qui định của Bộ Công an về
công tác điều tra, công tác nghiệp vụ cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân
dân trong đấu tranh, phòng chống tội phạm và lý luận chung về tội phạm học
và điều tra tội phạm.
- Phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở phương pháp luận, trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác
giả đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu. Cụ thể là: Tiến hành thu thập,
nghiên cứu các văn bản pháp luật và các đề tài có liên quan đến công tác
điều tra cơ bản. Nghiên cứu các báo cáo, các tổng kết, tài liệu tập huấn … về
công tác điều tra cơ bản trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
+ Phương pháp thống kê. Cụ thể là: Thu thập, hệ thống, phân tích,
đánh giá tổng hợp số liệu, tình hình về công tác an ninh trật tự nói chung và
công tác điều tra cơ bản nói riêng của Công an Thành phố Hồ Chí Minh,
trong đó có hoạt động của lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự
xã hội.
+ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm. Cụ thể là: Thông qua các tài
liệu, khảo sát hoạt động thực tiễn trong điều tra cơ bản phục vụ công tác
phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Qua đó rút ra các vấn đề về thực trạng, để làm cơ sở dự báo tình hình và đề
ra các giải pháp.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài luận văn

7


lượng Cảnh sát nhân dân tiến hành nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn
và kịp thời phát hiện, điều tra, khám phá tội phạm.
Trên cơ sở xác định rõ vai trò, cũng như tổng kết thực tiễn, ngày
06/06/2003 Bộ trưởng Bộ Công an có Chỉ thị số 05/CT-BCA(C11) về chấn
chỉnh, tăng cường công tác nghiệp vụ cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân
dân trong tình hình mới. Trong Chỉ thị này có nêu rõ: “Trong quá trình triển
khai thực hiện các quyết định 31/QĐ-BNV(C11) ngày 28/02/1995, Quyết
định 225/QĐ-BNV(C11) ngày 17/08/1994 và Quyết định 658, 659/QĐ-

9


BCA(C11) ngày 10/10/1998 của Bộ, công tác sưu tra, xác minh hiềm nghi,
xây dựng và sử dụng mạng lưới bí mật của lực lượng Cảnh sát nhân dân đã
được chấn chỉnh, từng bước nâng cao chất lượng, phục vụ có hiệu quả hơn
công tác phòng, chống tội phạm, nhất là từ khi triển khai thực hiện Chỉ thị
13/1998/CT-BCA(C11) của Bộ trưởng về tăng cường công tác sưu tra, xác
minh hiềm nghi, xây dựng và sử dụng mạng lưới bí mật trong tình hình mới,
nhận thức của cán bộ, chiến sỹ về công tác nghiệp vụ cơ bản được nâng cao,
quá trình thực hiện có nhiều chuyển biến phù hợp hơn với tình hình và các
yêu cầu thực tiễn, đã chủ động kết hợp giữa công tác nghiệp vụ cơ bản với
việc thực hiện Nghị quyết số 09/NQ-CP, chương trình Quốc gia phòng
chống tội phạm, phát động được đông đảo tầng lớp nhân dân tham gia phòng
ngừa, đấu tranh chống tội phạm, góp phần đảm bảo an ninh quốc gia, trật tự
an toàn xã hội …”. [ 7 ]
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, chúng ta cần có những nhận thức đúng
hơn về vai trò của công tác nghiệp vụ cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân
dân, đó là :
- Thực hiện công tác nghiệp vụ cơ bản là sự cụ thể hoá quan điểm,
đường lối chỉ đạo của Đảng về nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác Công

thiếu tính chủ động dẫn đến tình trạng chạy theo vụ việc, chạy theo tình hình,
làm giảm hiệu lực quản lý nhà nước về an ninh trật tự của lực lượng Công an
nhân dân nói chung và lực lượng Cảnh sát nhân dân nói riêng.
1.1.2. Nội dung công tác nghiệp vụ cơ bản của lực lượng Cảnh sát
nhân dân
Qua nghiên cứu, công tác nghiệp vụ cơ bản của lực lượng Cảnh sát
nhân dân gồm những mặt công tác chính như sau:
Một là, công tác điều tra cơ bản: Công tác điều tra cơ bản của lực
lượng Cảnh sát nhân dân là một bộ phận của công tác điều tra nghiên cứu, có
nhiệm vụ thu thập rộng rãi có hệ thống các thông tin, tài liệu về tình hình có

11


liên quan ở một địa bàn, tuyến, lĩnh vực, hệ loại đối tượng … phục vụ công
tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, giữ gìn trật tự an toàn xã hội.
Hai là, công tác sưu tra và công tác xác minh hiềm nghi:
- Công tác sưu tra của lực lượng Cảnh sát nhân dân là công tác điều tra
nghiên cứu về những người có điều kiện, khả năng phạm tội hoặc đang có
những biểu hiện nghi vấn hoạt động phạm tội về hình sự, kinh tế, ma tuý
nhằm mục đích nắm tình hình diễn biến hoạt động của các loại đối tượng,
phát hiện tội phạm; đồng thời tìm ra những sơ hở, thiếu sót trong quản lý
kinh tế – xã hội … để đề xuất những biện pháp tích cực, góp phần nâng cao
hiệu quả các mặt công tác quản lý nhà nước về an ninh trật tự.
- Xác minh hiềm nghi trong đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn
trật tự an toàn xã hội là những người, việc, hiện tượng nghi vấn hoạt động
phạm tội mà lực lượng Cảnh sát nhân dân phải tiến hành khẩn trương xác
minh làm rõ để kịp thời phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh chống tội phạm.
Hiềm nghi được xác lập khi có các căn cứ theo qui định. Công tác xác minh
hiềm nghi của lực lượng Cảnh sát nhân dân là xác lập và tập trung xác minh

tội phạm, bảo vệ trật tự an toàn xã hội.
- Xây dựng, sử dụng hộp thư bí mật của lực lượng Cảnh sát nhân dân.
Hộp thư bí mật của lực lượng Cảnh sát nhân dân bao gồm nhà ở của công
dân; những căn phòng, căn nhà do lực lượng Cảnh sát nhân dân thuê, mượn
hoặc được nhà nước giao quản lý, để sử dụng làm nơi tổ chức kết nạp, liên
lạc, sinh hoạt bí mật với đặc tình.
Trong triển khai thực hiện, phải thấy hết được mối quan hệ khăng khít
giữa các mặt công tác điều tra cơ bản – sưu tra, xác minh hiềm nghi – đấu
tranh chuyên án – xây dựng, sử dụng mạng lưới bí mật.
Mỗi mặt công tác nghiệp vụ cơ bản, từ điều tra cơ bản, sưu tra, xác
minh hiềm nghi, đấu tranh chuyên án đến xây dựng, sử dụng mạng lưới bí

13


mật là một khâu trong quá trình điều tra về tội phạm của lực lượng Cảnh sát
nhân dân. Nội dung cần thiết trong cơ cấu công tác nghiệp vụ cơ bản của lực
lượng Cảnh sát nhân dân phải tương ứng và phù hợp với yêu cầu khách quan
của công tác phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và điều tra, khám phá tội
phạm, theo một chu trình từ khâu mở đầu đến khâu kết thúc. Theo lý luận
trong tội phạm học, hành vi phạm tội nói chung thường diễn biến theo quy
luật: Nguyên nhân, điều kiện phát sinh – tác động vào đối tượng – xuất hiện
ý định phạm tội – chuẩn bị thực hiện hành vi – thực hiện hành vi phạm tội.
Vì vậy, để phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn tội phạm phải thực hiện theo
các khâu tương ứng, từ việc tiến hành công tác điều tra cơ bản để nghiên
cứu, thu thập tình hình, xác định các địa bàn, tuyến, lĩnh vực, các đối tượng
có thể bị xâm hại … ; qua công tác sưu tra nhằm quản lý các đối tượng có
nhiều yếu tố dễ bị tác động, hoặc đã bị tác động bởi các nguyên nhân, điều
kiện phát sinh tội phạm làm xuất hiện ý định phạm tội; tiếp đến, bằng công
tác xác minh hiềm nghi để xác định sự thật về các dấu hiệu, biểu hiện về ý

ngược lại, làm tốt công tác sưu tra sẽ có cơ sở cho việc phát triển hiềm nghi,
chuyên án và phát hiện, lựa chọn con người phù hợp để xây dựng và bố trí
vào mạng lưới bí mật.
Công tác nghiệp vụ cơ bản còn có mối quan hệ xuyên suốt trong toàn
bộ các hoạt động nghiệp vụ khác của lực lượng Cảnh sát nhân dân, nhất là có
mối quan hệ khăng khít với công tác điều tra hình sự; quản lý, giáo dục, cải
tạo phạm nhân; công tác quản lý hành chính về trật tự xã hội; các biện pháp
kỹ thuật nghiệp vụ, khoa học hình sự; tuần tra, kiểm soát vũ trang; công tác
xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh tổ quốc ở địa bàn cơ sở … Các
mặt công tác này phải thường xuyên có sự hỗ trợ, cung cấp thông tin, tài liệu
cho nhau, đồng thời có thể hỗ trợ tác chiến trong những trường hợp cần thiết.
Thấy hết được những mối quan hệ này, để chúng ta thực hiện các mặt
công tác nghiệp vụ một cách đồng bộ, khi làm việc này thì phải chú ý nghiên
cứu phát triển cho việc khác, muốn làm tốt việc này thì phải làm có hiệu quả

15


việc kia, tạo cho công tác nghiệp vụ có hệ thống, kế thừa liên tục các thành
quả đã đạt được, khắc phục tình trạng rời rạc, cục bộ, kém hiệu quả.
Trong bối cảnh tăng cường hội nhập quốc tế và sự phát triển của khoa
học công nghệ, công tác nghiệp vụ cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân
cần phải vươn lên về mọi mặt để đáp ứng yêu cầu phòng ngừa, đấu tranh với
các loại tội phạm có tính quốc tế và việc mở rộng hợp tác quốc tế về phòng,
chống tội phạm. Đây là yêu cầu có tính khách quan, vì tình hình tội phạm
quốc tế hoạt động rất phức tạp và có xu hướng gia tăng nguy hiểm trong điều
kiện toàn cầu hoá hiện nay. Tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới và phát
triển và phát triển kinh tế đất nước, với xu thế hội nhập, đa phương hoá, đa
dạng hoá. Việt Nam đã trực tiếp tham gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
(AFTA), tham gia Diễn đàn hợp tác Á-Âu (ASEM), Diễn đàn hợp tác kinh tế

nước trong phòng, chống tội phạm.
1.2. Nhận thức chung về công tác điều tra cơ bản của lực lượng
Cảnh sát nhân dân
1.2.1. Khái niệm, vai trò của công tác điều tra cơ bản của lực lượng
Cảnh sát nhân dân
Công tác nghiệp vụ cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân luôn được
chú trọng thực hiện, thông qua các văn bản của Bộ, ngành như Quyết định số
31/QĐ-BNV(C11) ngày 28/02/1995, Quyết định số 225/QĐ-BNV(C11)
ngày 17/08/1994, các Quyết định số 658, 659/QĐ-BCA(C11) về công tác
sưu tra, xác minh hiềm nghi, xây dựng và sử dụng mạng lưới bí mật. Tuy
nhiên, qua thực tế áp dụng, công tác, chiến đấu, các quy định về công tác
nghiệp vụ cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân trước đây có những nội dung
còn thiếu hoặc không còn phù hợp, chậm được bổ sung, đổi mới; trong đó
chưa có văn bản quy định riêng chính thức về công tác điều tra cơ bản của
lực lượng Cảnh sát nhân dân.
Trên tinh thần nhằm nâng cao hiệu quả các mặt công tác nghiệp vụ cơ
bản của lực lượng cảnh sát nhân đáp ứng yêu cầu phòng ngừa, đấu tranh

17


chống tội phạm trong tình hình mới, Bộ Công an có ra Chỉ thị số 05/CTBCA(C11) ngày 06/06/2003 về việc chấn chỉnh, tăng cường công tác nghiệp
vụ cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong tình hình mới; kèm theo đó
có Quyết định số 360/2003/QĐ-BCA(C11) ngày 06/06/2003 của Bộ trưởng
Bộ Công an, về việc ban hành Qui định công tác điều tra cơ bản của lực
lượng Cảnh sát nhân dân. Điều 1 của Quyết định 360 nói trên đã nêu rõ:
“Công tác điều tra cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân là một bộ
phận của công tác điều tra nghiên cứu, có nhiệm vụ thu thập rộng rãi có hệ
thống các thông tin, tài liệu về tình hình có liên quan ở một địa bàn, tuyến,
lĩnh vực, hệ loại đối tượng … phục vụ công tác phòng ngừa, đấu tranh chống

ngừa các hoạt động phạm tội và vi phạm pháp luật, mặt khác chủ động phát
hiện các dấu hiệu nghi vấn phạm tội, kịp thời xác lập và xác minh hiềm nghi
hoặc xác lập chuyên án để tập trung lực lượng đấu tranh, ngăn chặn, khám
phá, xử lý …
- Công tác điều tra cơ bản thực chất là bước đi đầu tiên cho các bước
tiếp theo, quan hệ đan xen và ràng buộc chặt chẽ cùng một mục tiêu là nhận
rõ sự việc, hiện tượng, con người liên quan hoạt động phạm tội; địa bàn phức
tạp liên quan đến trật tự an toàn xã hội … Phát hiện các sơ hở, yếu kém trong
quản lý; nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm hoặc bị tội phạm lợi
dụng … Từ đó đề ra chủ trương, kế hoạch, biện pháp phòng, chống tội phạm
có hiệu quả.
- Kết quả công tác điều tra cơ bản không những phục vụ tốt cho các
hoạt động nghiệp vụ của ngành, mà qua điều tra cơ bản giúp nắm chắc tình
hình, phát huy được vai trò tham mưu của lực lượng Cảnh sát nhân dân đối
với cấp uỷ Đảng và chính quyền các cấp trong quản lý nhà nước về an ninh
trật tự. Do đó, phải biết cách sử dụng kết hợp nhiều biện pháp, nhiều thành

19


phần, lực lượng, nhưng đảm bảo yêu tố nghiệp vụ để thực hiện một số nội
dung của điều tra cơ bản.
1.2.2. Đối tượng, nội dung của công tác điều tra cơ bản của lực
lượng Cảnh sát nhân dân
Theo nội dung trong Hướng dẫn số 2400/HD-C11(C12) ngày
30/09/2003 của Tổng cục Cảnh sát Bộ Công an), về thực hiện các Quyết
định số 360, 361, 362, 363 của Bộ trưởng Bộ Công an ban hành các Quy
định về công tác nghiệp vụ cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân, đối
tượng của công tác điều tra cơ bản bao gồm: Địa bàn, tuyến, mục tiêu, lĩnh
vực, hệ loại đối tượng. Trong đó:

các mục tiêu.
- Đối với các địa bàn cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; các tuyến, lĩnh
vực, hệ loại đối tượng, phải dựa trên cơ sở khai thác kết quả điều tra cơ bản
các địa bàn hành chính và đánh giá hoạt động của các loại tội phạm, tệ nạn
xã hội để xác định các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; các tuyến, lĩnh vực,
hệ loại đối tượng cần tiến hành điều tra cơ bản.
- Việc xác định phạm vi điều tra cơ bản của mỗi tuyến, lĩnh vực, mục
tiêu, hệ loại đối tượng cụ thể do lãnh đạo đơn vị chủ trì công tác điều tra cơ
bản những đối tượng đó quyết định theo phân công, phân cấp công tác điều
tra cơ bản.
Bên cạnh đó, khi nghiên cứu về đối tượng của công tác điều tra cơ
bản, có thể chú ý một số vấn đề sau:
- Công tác điều tra cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân phải thực
hiện bắt đầu từ đối tượng cơ bản nhất là xã, phường, thị trấn. Lực lượng
Cảnh sát nhân dân các cấp và các hệ nghiệp vụ khai thác kết quả điều tra cơ
bản của địa bàn xã, phường, thị trấn để xác định các tuyến, địa bàn, lĩnh vực,

21


hệ loại cần điều tra cơ bản theo chức năng, nhiệm vụ và theo phấn công,
phân cấp. Đối với địa bàn hành chính từ cấp huyện trở lên, chỉ cần tiến hành
tập hợp, hệ thống lại các thông tin, tài liệu từ hồ sơ điều tra cơ bản của địa
bàn xã, phường, thị trấn. Như vậy, kết quả của công tác điều tra cơ bản địa
bàn xã, phường, thị trấn là rất quan trọng, có ý nghĩa cho địa phương đó và ở
cấp độ cao hơn khi được khai thác, sử dụng.
- Giữa đối tượng của công tác điều tra cơ bản và đối tượng của công
tác sưu tra có mối liện hệ với nhau, nhưng không phải là đồng nhất. Cần
phân biệt ở chỗ:
Một là hệ, loại đối tượng trong công tác điều tra cơ bản là những bộ

2. Thu thập các thông tin, số liệu, tài liệu cơ bản về tình hình chính trị,
văn hoá, kinh tế – xã hội, dân cư, các hoạt động về kinh tế – xã hội có liên
quan đến công tác đảm bảo trật tự an toàn xã hội;
3. Thu thập các thông tin, số liệu về tình hình tội phạm, vi phạm pháp
luật, các sự việc, hiện tượng, đối tượng có liên quan đến trật tự an toàn xã
hội; tình hình thực hiện công tác giữ gìn trật tự an toàn xã hội;
4. Hệ thống hoá thông tin, tài liệu đã thu thập được theo phạm vi các
đối tượng điều tra cơ bản và phân tích, đánh giá tình hình, xác định hệ loại,
các tuyến, địa bàn, mục tiêu, lĩnh vực trọng điểm, các vấn đề nổi lên phức
tạp về trật tự an toàn xã hội …; Phát hiện các vấn đề sơ hở, thiếu sót trong
quản lý Nhà nước về an ninh trật tự; đánh giá mức độ và khả năng diễn biến
của các yếu tố liên quan đến trật tự an toàn xã hội.
Như vậy, trong 04 nội dung trên, có thể thấy 03 nội dung đầu là những
bước “khởi điểm”, còn nội dung thứ 04 chính là “nội dung” và cũng thể hiện
vai trò quan trong của công tác điều tra cơ bản. Qua kết quả của 03 nội dung
đầu, trong nội dung thứ 04 là việc đánh giá một cách tổng thể tình hình trên
từng địa bàn, tuyến, lĩnh vực đã được thu thập thông tin, tài liệu, từ đó làm
cơ sở cho việc triển khai các hoạt động nghiệp vụ khác của lực lượng Cảnh

23


sát nhân dân, đồng thời tham mưu cho cấp uỷ, chính quyền các cấp chỉ đạo
các mặt công tác quản lý kinh tế – xã hội một cách đồng bộ và hiệu quả hơn.
Trên cơ sở đó, Hướng dẫn số 2400/HD-C11(C12) ngày 30/9/2003 của
Tổng cục Cảnh sát, có nêu hướng dẫn cụ thể hơn nội dung công tác điều tra
cơ bản của lực lượng Cảnh sát nhân dân (trong phần II của Hướng dẫn). Có
một số vấn đề chính như sau:
* Xác định đối tượng và thu thập thông tin, tài liệu về đối tượng điều
tra cơ bản.

cơ bản; lập sơ đồ mục tiêu, đánh dấu những khâu thiết yếu, quan trọng cần
bảo vệ và các vị trí có thể áp dụng các biện pháp khẩn cấp trong trường hợp
cần thiết. Thu thập thông tin, tài liệu, số liệu có liên quan đến công tác
phòng, chống tội phạm, đảm bảo trật tự an toàn xã hội.
- Xác định phạm vi và thu thập thông tin, tài liệu ở một lĩnh vực: Phải
xác định được tên lĩnh vực; phạm vi quản lý và cơ cấu ngành nghề trong lĩnh
vực; lập sơ đồ xác định vị trí, hệ thống tổ chức, những địa điểm diễn ra hoạt
động của lĩnh vực cần điều tra cơ bản; cơ sở pháp lý tổ chức và hoạt động
của lĩnh vực. Thu thập thông tin, tài liệu, số liệu có liên quan đến công tác
phòng, chống tội phạm, đảm bảo trật tự an toàn xã hội.
- Xác định phạm vi và thu thập thông tin, tài liệu ở một hệ loại: Phải
xác định được những thành phần, đặc điểm, tính chất của hệ loại đối tượng
cần điều tra cơ bản; phạm vi địa bàn, tuyến hoặc lĩnh vực cần điều tra cơ bản
về hệ loại; đặt tên gọi cho hệ loại đối tượng. Thu thập thông tin, tài liệu, số
liệu có liên quan đến công tác phòng, chống tội phạm, đảm bảo trật tự an
toàn xã hội.
* Hệ thống hoá thông tin, tài liệu; phân tích, đánh giá tình hình và đề
xuất kế hoạch, giải pháp đảm bảo trật tự an toàn xã hội. Gồm các nội dung:
-Trên cơ sở những thông tin, tài liệu đã thu thập được, đơn vị chủ trì
điều tra cơ bản phải tiến hành tổng hợp, phân tích, đánh giá cụ thể theo từng

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status