Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện các mặt công tác cơ bản của lực lượng CSKV phường Quan Hoa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội - Pdf 29

PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
QLNN về ANTT và phòng ngừa đấu tranh chống tội phạm là một
nhiệm vụ vô cùng khó khăn phức tạp, đòi hỏi phải huy động sức mạnh tổng
hợp của cả hệ thống chính trị và của toàn dân, trong đó lực lượng CAND là
nòng cốt. Trên mặt trận đấu tranh phòng, chống tội phạm, quản lý Nhà
nước về ANTT ở địa bàn cơ sở thì vai trò của lực lượng CSKV càng được
đề cao.
Nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của lực lượng CSKV,
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ đảm bảo ANTT trong tình hình hiện nay, Bộ
trưởng Bộ Công an đã kí Quyết định số 106/2007/QĐ-BCA (C11) ngày
13/2/2007 ban hành Điều lệnh CSKV thay cho Điều lệnh CSKV đã ban
hành theo Quyết định số 118/QĐ-BNV ngày 29/6/1994. Điều lệnh CSKV
mới đã có nhiều thay đổi về nội dung, chức năng, nhiệm vụ, hệ thống tổ
chức và lề lối làm việc của CSKV sao cho phù hợp với tình hình thực tiễn
hiện nay.
Nhận thức được vấn đề trên, Công an phường Quan Hoa đã quan tâm
chỉ đạo lực lượng CSKV trong việc tăng cường biện pháp thực hiện tốt
nhiệm vụ được giao nhất là các mặt công tác cơ bản và thu được nhiều kết
quả nhất định. Trong quá trình thực hiện các mặt công tác cơ bản của mình,
CSKV đã tăng cường các biện pháp QLNN về ANTT tại cơ sở, tiến hành
thường xuyên công tác vận động quần chúng, tích cực đưa ra các giải pháp
giảm tai nạn giao th«ng, phòng chống đua xe và làm tốt các mặt công tác cơ
bản... Qua một thời gian thực hiện theo Điều lệnh CSKV- 2007, lực lượng
CSKV Công an phường Quan Hoa đã đạt được nhiều thành tích được Công
an quận và Công an Thành phố ghi nhận. Tuy nhiên trong quá trình tổ chức
thực hiện vẫn chưa triệt để, còn tồn tại nhiều bất cập: CSKV chủ yếu tập
trung giải quyết công việc mang tính chất sự, vụ việc hành chính đơn thuần,
các công tác theo yêu cầu của cấp trên. Một số cán bộ chiến sỹ chưa có sự
nhận thức đúng về chức năng nhiệm vụ của mình trong việc thực hiện các
mặt công tác cơ bản. Lực lượng CSKV còn ít trong khi đó địa bàn rộng, tình

chống tội phạm, quản lý Nhà nước về ANTT.
Trong quá trình thực hiện đề tài có sử dụng một số phương pháp cụ
thể như:khảo sát thực tế, thống kê, phân tích, tổng hợp số liệu, trao đổi kinh
nghiệm, so sánh….
5. Ý nghĩa của việc nghiên cức đề tài
- Về mặt lí luận: Kết quả của việc nghiên cứu đề tài góp phần bổ sung,
nhận thức của bản thân về việc thực hiện các mặt công tác cơ bản của
CSKV. - Về mặt thực tiễn: Kết quả của việc nghiên cứu đề tài giúp cho
Công an địa phương có điều kiện nắm tình hình, đánh giá kết quả việc tổ
chức thực hiện các mặt công tác cơ bản của CSKV. Kịp thời phát hiện và
khắc phục những tồn tại thiếu sót trong quá trình tiến hành. Đánh giá và các
đề xuất, giải pháp là cơ sở nâng cao hiệu quả hoạt động của CSKV trong
việc thực hiện các mặt công tác cơ bản trong tình hình hiện nay đáp ứng yêu
cầu phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm.
6. Cấu trúc của đề tài
Đề tài được xây dựng 3 phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần
kết luận. Trong đó phần nội dung gồm có 2 chương:
- Chương 1: Tình hình thực hiện các mặt công tác cơ bản của CSKV
trên địa bàn phường Quan Hoa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
- Chương 2: Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện các mặt công
tác cơ bản của lực lượng CSKV phường Quan Hoa, quận Cầu Giấy,
thành phố Hà Nội.
CHƯƠNG I
TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC MẶT CÔNG TÁC CƠ BẢN CỦA CSKV
PHƯỜNG QUAN HOA, QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
1.1. Một số tình hình đặc điểm có liên quan
1.1.1. Đặc điểm địa bàn
Thực hiện Nghị định số 74/NĐ-CP ngày 22/11/1996 của Chính phủ
về việc thành lập quận Cầu Giấy, ngày 01/9/1997 quận Cầu Giấy chính thức
được thành lập với tất cả 8 phường. Phường Quan Hoa ra đời cùng với sự ra

chiều hướng gia tăng.
Trên địa bàn phường có Trường Cao đẳng sư phạm Trung ương với số
lượng sinh viên tạm trú lớn: 4.155 sinh viên. Trong đó số lượng sinh viên ở
trong kí túc xá của trường là 320, còn lại số sinh viên tạm trú trong các hộ
dân cư trên địa bàn là 3.835. Không chỉ có số lượng sinh viên tạm trú đông
mà trên địa bàn có nhiều người của 25 tỉnh thành trên cả nước đến cư trú,
mua nhà hoặc thuê trọ trong các nhà trọ bình dân. Hiện nay, trên địa bàn
phường có 610 hộ có nhà cho thuê trọ bình dân nhưng các điều kiện đảm
bảo ANTT rất kém trong khi đó cơ chế quản lý còn rất nhiều bất cập tạo
điều kiện cho các loại tội phạm và tệ nạn xã hội hoạt động gây phức tạp về
ANTT. Ngoài ra trên địa bàn phường còn có 36 nhà nghỉ, 10 khách sạn,
13 cơ sở karaoke và 28 hiệu cầm đồ. Đây cũng là môi trường dễ phát
sinh tội phạm và tệ nạn xã hội. Tình hình người nước ngoài tạm trú trên
địa bàn nhìn chung có nhiều biến động, chủ yếu là Mỹ, Trung Quốc, Hàn
Quốc, các nước Châu Âu làm việc trong các tổ chức, doanh nghiệp nước
ngoài hoặc đến Hà Nội tham quan du lịch.
Về tôn giáo, trên địa bàn phường vẫn còn tiềm ẩn những yếu tố phức
tạp dễ phát sinh mê tín dị đoan và truyền đạo trái phép. Trên địa bàn phường
có 04 Chùa, 04 đình, 28 người theo đạo Hồi, 08 người theo đạo tin lành. Đây
cũng là lĩnh vực dễ bị bọn phản động lợi dụng lôi kéo kích động tạo ra sự
phức tạp gây mất ổn định ANTT.
1.1.3. Tình hình an ninh trật tự
- Về ANCT: Nhìn chung tình hình ANCT trong nội bộ phường ổn
định, dư luận quần chúng không còn nhiều bức xúc, tuy nhiên vẫn còn tồn
tại tình trạng đơn thư khiếu kiện với quy mô và tính chất đơn lẻ. Các đối
tượng bất mãn, cơ hội chính trị, truyền đạo trái phép không còn có những
biểu hiện hoạt động như trước. Tình hình mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân
vẫn có chiều hướng phức tạp, chủ yếu là các mâu thuẫn gia đình có liên quan
đến tài sản. Không có hiện tượng khiếu kiện đông người vượt cấp … Tuy
vậy tình hình hoạt động khiếu kiện tại điểm tiếp dân của Trung ương Đảng ở

và người ngoại tỉnh tạm trú nên vấn đề ANTT trong các hộ cho thuê trọ rất
phức tạp. Trong các nhà cho thuê trọ thường xuyên xảy ra các vụ mất tiền,
mất laptop, xe máy, xe đạp. Trên địa bàn không phát sinh các tụ điểm mai
dâm, ma túy nhưng hiện tượng buôn bán lẻ ma túy của các đối tượng nơi
khác đến còn diễn ra, tệ nạn mại dâm công cộng vẫn còn tiềm ẩn. Tình hình
cờ bạc vẫn diễn biến phức tạp nhưng quy mô nhỏ, chỉ tập trung vào mua bán
số đề là chủ yếu. Trên địa bàn còn tiềm ẩn những yếu tố mới có thể phát sinh
tội phạm: Số lượng các cơ sở kinh doanh có điều kiện ngày càng gia tăng,
tập trung chủ yếu vào loại hình kinh doanh nhà nghỉ và karaoke. Năm 2009
trên địa bàn phường có tổng số 33 cơ sở kinh doanh khách sạn nhà nghỉ, 11
cơ sở kinh doanh karaoke. Đến năm 2010 số lượng cơ sở kinh doanh khách
sạn nhà nghỉ tăng lên 44 cơ sở và 16 cơ sở kinh doanh karaoke. Quan Hoa là
phường có số hộ cho thuê trọ khá đông, tính đến năm 2010 trên địa bàn
phường có khoảng 442 hộ cho thuê trọ. Số lượng học sinh, sinh viên và
người tỉnh ngoài tạm trú đông, đây chính là môi trường, là điều kiện làm
phát sinh tội phạm.
1.2. Thực trạng thực hiện các mặt công tác cơ bản của Cảnh sát
khu vực Công an phường Quan Hoa
1.2.1. Tình hình tổ chức lực lượng và phân công địa bàn công tác
cho Cảnh sát khu vực Công an phường Quan Hoa
- Kết quả khảo sát tình hình lực lượng CSKV Công an phường Quan
Hoa từ năm 2007 đến năm 2010 cho thấy (Phụ lục 2):
Hiện nay, số lượng cán bộ chiến sỹ Công an phường Quan Hoa là 30
đồng chí trong đó lực lượng CSKV là 09 đồng chí (chiếm 33% quân số của
phường), lực lượng CSTT là 05 đồng chí, CSHS là 06 đồng chí và trực ban
là 05 đồng chí. Lực lượng CSKV chịu sự chỉ đạo, lãnh đạo trực tiếp của Ban
chỉ huy Công an phường và sự hướng dẫn nghiệp vụ của Đội QLHC về
TTXH của Công an quận. CSKV được lựa chọn là những người có phẩm
chất đạo đức, năng lực nghiệp vụ và kinh nghiệm thực tiễn. Trong tổng số
09 đồng chí CSKV thì có 6 đồng chí có trình độ đại học, 03 đồng chí được

hướng giảm tuy nhiên địa bàn phức tạp lại tăng và năm sau thì cao hơn năm
trước. Sự gia tăng này đã tác động không nhỏ đến quá trình quản lý của lực
lượng CSKV. Hiện nay trên địa bàn phường có rất nhiều địa bàn phức tạp:
dọc tuyến đường Cầu Giấy, trụ sở tiếp dân 110 Cầu Giấy, ngõ 68 tổ 8
Quan Hoa,… đây là những địa bàn phức tạp thường xuyên xảy ra tranh
chấp đất đai, khiếu kiện, hoạt động ma túy, mại dâm gây khó khăn cho
lực lượng quản lý.
Số lượng nhân hộ khẩu trên địa bàn ngày càng gia tăng trong khi đó
số lượng CSKV lại ít chính vì thế dẫn đến tình trạng một CSKV phải quản lý
quá nhiều hộ. Hiện nay lực lượng CSKV Công an phường Quan Hoa đang
phải quản lý số hộ khẩu được phân bố theo địa bàn dân cư như sau: Đối với
những địa bàn phức tạp về ANTT từ 250- 350 hộ là 02 đồng chí, từ 351-550
hộ là 05 đồng chí, từ 551-650 hộ là 02 đồng chí. Như vậy so với các quy
định trong Điều lệnh CSKV thì lực lượng CSKV Công an phường Quan Hoa
đang phải quản lý số lượng lớn nhân hộ khẩu vượt quá lớn so với quy định.
Đây là một bất cập lớn trong quá trình công tác của CSKV.
Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên là do tốc độ đô thị hóa
nhanh, số lượng người ngoại tỉnh và sinh viên đến thuê trọ ngày càng tăng
nên đã gây khó khăn cho công tác quản lý của lực lượng CSKV. Bên cạnh
đó việc phân công địa bàn cho từng CSKV còn nhiều bất cập chưa thực sự
phù hợp với năng lực và trình độ, chưa tương xứng với địa bàn quản lý:
tình trạng CSKV giỏi quản lý địa bàn bình thường, CSKV mới còn chưa
có nhiều kinh nghiệm thì lại quản lý những địa bàn trọng điểm phức tạp
về ANTT. Mặt khác quá trình luân chuyển công tác cho CSKV cũng như
việc thay đổi địa bàn đã không tạo điều kiện thuận lợi cho CSKV trong quá
trình nắm tình hình địa bàn.
1.2.2.Thực trạng thực hiện các mặt công tác cơ bản của lực
lượng CSKV
1.2.2.1. Lực lượng CSKV thực hiện công tác nắm tình hình về ANTT
trên địa bàn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status