Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần I
Trường Đại học Thăng Long 79
THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC HIỆN TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA CÁC DOANH
NGHIỆP VIỆT NAM
Ths. Phạm Long Châu
Bộ môn Quản trị - Marketing, Khoa Kinh tế Quản lý, Đại học Thăng Long
Email: [email protected]
Tóm tắt: Ở các nền kinh tế phát triển, hoạt động trách nghiệm xã hội được các doanh
nghiệp quan tâm và coi trọng. Tuy nhiên, tại Việt Nam, hoạt động này còn khá mới, nhiều
doanh nghiệp chưa biết đến trách nhiệm xã hội là gì. Một vài doanh nghiệp khác đã biết,
nhưng nhận thức chưa sâu sắc, họ đã thực hiện nhưng hiệu quả từ hoạt động này mang lại
không cao. Bài viết tập trung mô tả thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh
nghiệp Việt Nam thời gian qua, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện trách
nhiệm xã hội phù hợp với tình hình kinh tế-chính trị hiện nay.
Từ khóa: CSR - Corporate Social Responsibility, đạo đức kinh doanh, trách nhiệm xã
hội, văn hóa doanh nghiệp.
1. Đặt vấn đề
Trước đây, các doanh nghiệp đều nỗ lực trong việc chuẩn hóa và mở rộng quy mô
nhằm giảm thiểu chi phí sản xuất, mong muốn bán được càng nhiều sản phẩm với mức giá
thấp tới càng nhiều khách hàng hơn. Trong thời điểm khủng hoảng kinh tế toàn cầu vừa qua,
người tiêu dùng bị ảnh hưởng bởi những biến động về xã hội, kinh tế và môi trường, họ ưa
thích những công ty góp công sức biến thế giới thành nơi tốt đẹp hơn. Hiện nay, các doanh
nghiệp chú ý tới việc củng cố hình ảnh, nâng cao uy tín, phát triển thương hiệu thông qua việc
xây dựng văn hóa doanh nghiệp, đạo đức kinh doanh là một giải pháp đang được áp dụng và
bước đầu mang lại hiệu quả tích cực. Các doanh nghiệp muốn khẳng định được thương hiệu
trên thị trường thì điều mà họ hướng tới là việc thực hiện tốt Trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp (CSR - Corporate Social Responsibility).
2. Cơ sở lý thuyết Mô hình yếu tố cấu thành CSR
Mô hình yếu tố cấu thành CSR
2
(Nguồn: O.C. Ferrell, John Fraedrich, Linda Ferrell (2005), “Business Ethics- Ethical
Decision making & cases”, Boston Houghton, pp.48)
Mô hình yếu tố cấu thành CSR được thể hiện là một “kim tự tháp” với các nghĩa vụ
nằm ở các tầng khác nhau và thứ tự ưu tiên thực hiện sẽ lần lượt từ dưới đáy lên đỉnh. Việc
thực hiện CSR phải bắt nguồn từ các nghĩa vụ kinh tế, bởi đây là mục tiêu, bản chất là lý do
tồn tại của doanh nghiệp và cũng là cơ sở để thực hiện các nghĩa vụ tiếp sau của CSR. Doanh
nghiệp hoạt động và chịu sự quản lý bởi hệ thống pháp luật quốc gia vì thế để tồn tại lâu dài
thì doanh nghiệp phải tuân thủ các quy định đó. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần tạo ra một
môi trường công bằng, trung thực, có tình có nghĩa trong mối quan hệ với nhân viên và điều
đó thể hiện trách nhiệm đạo đức của doanh nghiệp. Ngoài nghĩa vụ kinh tế, pháp lý, đạo đức
doanh nghiệp còn bị ràng buộc bởi nghĩa vụ nhân văn. Điều này có nghĩa các hoạt động của
doanh nghiệp phải nhằm mục đích cải thiện tình hình của mỗi người, mọi người và cộng
đồng. Và khi đưa ra quyết sách, doanh nghiệp phải cân bằng các nghĩa vụ đó để đạt được hiệu
quả cao nhất.
3. Thực trạng thực hiện Trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp Việt Nam thời
gian qua
CSR được giới thiệu vào nước ta thông qua hoạt động của các công ty đa quốc gia tại
Việt Nam. Các công ty này thường xây dựng các bộ quy tắc và các chuẩn mực đạo đức và đạo
đức kinh doanh có tính chất phổ quát để có thể áp dụng ở nhiều khu vực thị trường khác nhau.
Do đó, CSR đã được áp dụng bài bản và đạt hiệu quả cao.
chưa được đánh giá cao.
Dựa trên định nghĩa về CSR của ngân hàng thế giới, chúng ta nghiên cứu sâu hơn
vềthực trạng thực hiện Trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp Việt Nam đối với các đối
tượng:
3.1. Người lao động
Hệ thống luật pháp lao động Việt Nam đang được hoàn chỉnh theo hướng thể chế hóa
các điều khoản của luật, tăng cường đối thoại với các doanh nghiệp để hoàn thiện luật pháp
lao động phù hợp với thông lệ quốc tế trong bối cảnh hội nhập. Trong đó có hai luật căn bản:
Bộ Luật lao động Việt Nam quy định quyền và nguyên tắc cơ bản tại nơi làm việc; Luật Bảo
hiểm xã hội: quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng lao động và người lao động, tổ
chức bảo hiểm xã hội trong việc thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội cho người lao động. Các bộ
luật được đưa ra nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động trong quá trình tham gia
làm việc, nhưng tình trạng người sử dụng lao động vi phạm các quyền và lợi ích của người
lao động vẫn thường xuyên xảy ra. Xét về vấn đề phân biệt đối xử: Các lao động nữ thường bị
thiệt thòi trong quá trình tuyển dụng vì lý do gia đình, sinh đẻ và nuôi con nhỏ. Nhiều công ty
đã đưa ra các điều kiện ràng buộc các lao động nữ, đó là áp đặt khoảng thời gian làm việc tại
doanh nghiệp trước khi kết hôn hoặc sinh con nếu được tuyển vào làm tại doanh nghiệp. Theo
Tổ chức lao động quốc tế (ILO), lương của công nhân nữ luôn thấp hơn các đồng nghiệp nam
khoảng 20-30%, theo điều tra của Tổng cục Thống kê, thu nhập của phụ nữ nói chung thấp
hơn nam giới 13%. Xét về vấn đề an toàn lao động: Tình trạng các doanh nghiệp sản xuất
kinh doanh không đảm bảo các điều kiện lao động an toàn vẫn còn phổ biến ở nước ta. Theo
Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội,năm 2013 trên toàn quốc có xảy ra 6695 vụ tai nạn lao
động làm 6887 người chết và bị thương. Dẫn đầu là TP Hồ Chí Minh với 822 vụ, làm chết 92
người và 118 người bị thương nặng. Tiếp theo là các địa phương có trên 100 vụ/năm như Hà
Nội, Quảng Ninh, Bình Dương… Theo điều tra của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, các
doanh nghiệp lớn đã thực hiện cải thiện môi trường lao động khá tốt, còn các doanh nghiệp
Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần I
Trường Đại học Thăng Long 82
nước thải phát sinh từ 179 KCN này là 622.773m3/ngày/đêm, trong đó các hệ thống xử lý
nước thải tập trung chỉ xử lý được khoảng 362.450m3/ngày/ đêm, đạt khoảng 58% tổng lượng
nước thải. Như vậy, trung bình mỗi ngày có tới 240.000m3 nước thải từ các KCN được xả
thẳng ra môi trường chưa qua xử lý, gây ô nhiễm môi trường trầm trọng, đặc biệt là tại các
khu vực gần KCN.
Mặc dù những vụ việc vi phạm Luật bảo vệ Môi trường khá phổ biến, nhưng cho đến
nay, số các doanh nghiệp bị xử lý trách nhiệm hình sự và công khai trên các phương tiện
thông tin đại chúng còn quá ít, chưa đủ sức răn đe các doanh nghiệp vi phạm và cảnh tỉnh các
doanh nghiệp khác. Nhiều doanh nghiệp còn thiếu ý thức, chưa coi chi phí bảo vệ môi trường
là chi phí sản xuất cần thiết. Theo Bộ tài nguyên và Môi trường, số doanh nghiệp có lắp thiết
bị, công trình xử lý môi trường rất ít và nếu có thì số tiền đầu tư cho việc này chiếm một tỷ lệ
Kỷ yếu công trình khoa học 2014 – Phần I
Trường Đại học Thăng Long 83
rất thấp (chỉ khoảng 4-7% vốn đầu tư), tỷ lệ doanh nghiệp có chi thường xuyên cho công tác
bảo vệ môi trường thậm chí còn thấp hơn (chỉ đạt 3-5% vốn đầu tư).
Từ những phân tích trên có thể thấy: hiểu biết của giới kinh doanh Việt Nam hiện nay
về vấn đề CSR còn mơ hồ và hạn chế. Đa số các doanh nghiệp chưa nhận thức được tầm quan
trọng và ý nghĩa của CSR đối với khách hàng, xã hội và chính bản thân doanh nghiệp. Các
doanh nghiệp còn khá bị động trong vấn đề này, tự doanh nghiệp không sẵn sàng hành động
vì lợi ích cộng đồng, mà chỉ chịu thực hiện khi có yêu cầu từ đối tác. Ngoài ra, một nguyên
nhân khác dẫn đến thực trạng trách nhiệm xã hội như trên là do quản lý nhà ngước còn lỏng
lẻo, các văn bản pháp luật không sát với tình hình thực tế. Việc làm đó dẫn tới tình trạng các
doanh nghiệp dễ dàng lách luật, chối bỏ trách nhiệm của mình.
4. Các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh
nghiệp Việt Nam
Thực hiện CSR ở Việt Nam là thực sự cần thiết trong quá trình hội nhập, tuy nhiên
đây là vấn đề rất mới và khó thực hiện đối với những doanh nghiệp chưa có nhiều kinh
nghiệm. Từ những phân tích về hạn chế trong công tác CSR ở nội dung trên, tác giả xin đưa
Bổ sung và hoàn thiện khung pháp luật Việt Nam nhằm tạo cơ sở vững chắc cho CSR.
Đa phần các văn bản pháp luật của chúng ta hiện nay liên quan đến các vấn đề bảo vệ người
lao động, người tiêu dùng, các quy định tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, ô nhiễm môi
trường… vẫn còn rất chung chung, chưa đi sâu vào từng vấn đề. Bởi vậy hệ thống pháp luật
cần chi tiết, rõ ràng, cụ thể, có tính thực tiễn cao dễ dàng áp dụng, thực thi. Ngoài ra, nhà
nước không nên thay đổi các văn bản pháp quy một cách thường xuyên, gây tác động không
tốt tới môi trường kinh doanh. Khi các văn bản đã thống nhất với nhau thì việc giải quyết và
xử lý một vụ việc nào đó sẽ chỉ có một cách làm và mọi việc trở nên rõ ràng minh bạch, từ đó
tránh được các hiện tượng lách luật để kinh doanh bất chính.
Nhà nước cần tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức về CSR ở Việt Nam. Nhận
thức đúng để hành động đúng bên cạnh cơ chế quản lý chặt chẽ và hiệu quả hơn của các cơ
quan quản lý Nhà nước về bảo vệ người lao động, người tiêu dùng, môi trường… chắc chắn
sẽ mang lại hiệu quả thiết thực và ý nghĩa đối với con người.
Có chính sách khuyến khích, hỗ trợ thực thi CSR trong các doanh nghiệp. Mục tiêu
của các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, kinh doanh là tối đa hoá doanh thu, lợi nhuận,
trong khi đó, việc tuân thủ đạo đức kinh doanh nói chung và CSR nói riêng cần có thời gian
dài mới có thể phát huy đem lại lợi ích cho doanh nghiệp.Ngoài các hình thức khuyến khích,
tôn vinh các doanh nghiệp có thành tích trong việc thực hiện tốt CSR, Nhà nước cũng cần có
các biện pháp, chế tài đủ mạnh để xử lý các doanh nghiệp vi phạm, đặc biệt là các hành vi
gây ảnh hưởng đến sức khỏe và tính mạng của người lao động, người tiêu dùng và gây ô
nhiễm môi trường. Chính quyền, cơ quan quản lý các cấp phải kiên quyết nói “không” với
những doanh nghiệp chạy theo lợi nhuận mà quên đi quyền lợi và sức khoẻ người tiêu dùng
và cộng đồng. Các cơ quan có thẩm quyền cũng nên cân nhắc, có chế tài buộc các đơn vị thực
thi CSR ngay từ khi bắt đầu cấp giấy phép đầu tư xây dựng, đặt yêu cầu bảo vệ môi trường
cũng quan trọng như mục tiêu tăng trưởng nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững, không vì lợi
ích trước mắt mà ảnh hưởng tới chiến lược phát triển kinh tế - xã hội lâu dài của quốc gia.
Đưa CSR vào chương trình giáo dục của các trường học. Ngay từ cấp học tiểu học, tư
tưởng về CSR nên được đưa vào chương trình giảng dạy. Những bài học về đạo đức cư xử,
lòng nhân ái, ý thức bảo vệ môi trường theo học sinh suốt những năm tháng ngồi ghế nhà
trường. Có như vậy, những người chủ tương lai của đất nước sẽ có ý thức về CSR tốt hơn.
Vietnam since many enterprises have no awareness of CSR, combined with a small number of
enterprises implemented CRS activity with modest effectiveness. From that point, this study
focuses on introducing the definition of CSR, its elements and model. In addition, the research
also describes the reality in implementation CSR of Vietnamese enterprises and suggests the
comprehensive solutions to improve the effectiveness and suitability with the current political
and economics status.