Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động gia công quốc tế trong ngành dệt may Việt Nam - Pdf 12

Lời mở đầu
Ngành dệt may trong những năm qua đã có những bớc tiến đáng kể, tốc
độ tăng trởng giá trị xuất khẩu luôn đạt 25 30%/năm, tạo công ăn việc làm
cho khoảng 2 triệu lao động trực tiếp và hàng vạn lao động gián tiếp của các
ngành công nghiệp phụ trợ. Cho đến nay, sản phẩm của ngành dệt may Việt
Nam đã có mặt ở trên 100 nớc và vùng lãnh thổ tại hầu hết các Châu lục. Liên
tiếp trong nhiều năm qua, doanh thu xuất khẩu của ngành dệt may liên tục
tăng, kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may luôn đứng thứ hai về giá trị chỉ
sau dầu thô. Đó là những thành tựu rất lớn của ngành dệt may Việt Nam,
ngành dệt may Việt Nam không những giải quyết đợc những vấn đề kinh tế xã
hội mà còn giúp Nhà nớc cải thiện cán cân thanh toán, mang lại nguồn ngoại tệ
lớn phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nớc. Trong đó có
đóng góp rất lớn của hoạt động gia công hàng dệt may, hiện nay, hàng dệt may
đa phần là sản phẩm gia công thơng mại ( chiếm khoảng 80% hàng dệt may
xuất khẩu ).
Tuy vậy, ngành dệt may nói chung và gia công hàng dệt may nói riêng
vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, một số những hạn chế đó là: nguyên phụ liệu
không đáp ứng đủ nhu cầu của ngành may nên tỷ lệ nội địa hóa của hàng dệt
may nói chung và gia công nói riêng còn thấp ( khoảng 30%), hàng gia công
Việt Nam đa phần là sản xuất theo các khế ớc phụ với các trung gian của nhà
bán lẻ trên thế giới từ đó dẫn đến trị giá của hàng gia công của Việt Nam còn
thấp; Chi phí về lao động không còn là một thế mạnh của Việt Nam, bên cạnh
đó hiệu năng làm việc của ngời lao động cũng không cao làm cho khả năng
cạnh tranh của ngành dệt may nói chung và gia công nói riêng không cao; Và
1
tuy là một nớc có lợng lao động trẻ dồi dào nhng trong những năm gần đây thì
ngành dệt may Việt Nam lại thiếu lao động rất nhiều, đặc biệt là vào thời vụ
đặt hàng dẫn tới mất nhiều hợp đồng sản xuất với bạn hàng.
Việc phân tích toàn diện thực trạng ngành dệt may nói chung và lĩnh vực
gia công hàng dệt may nói riêng của Việt Nam để từ đó tìm ra giải pháp tăng
giá trị hàng dệt may xuất khẩu trong những năm tới là một vấn đề thực sự cần

Gia công trong thơng mại quốc tế bao gồm sản xuất, chế biến, sửa chữa,
tái chế, lắp ráp, phân loại, đóng gói hàng hóa theo yêu cầu của bên đặt gia
công và bằng nguyên liệu, vật liệu của bên đặt gia công yêu cầu.
2.2. Các bên tham gia vào hoạt động gia công
Bên nhận gia công là bên nhận thực hiện việc gia công hàng hóa để h-
ởng tiền gia công.
Bên đặt gia công là bên thuê gia công hàng hóa để kinh doanh thơng
mại.
2.3. Hợp đồng gia công
Việc gia công trong thơng mại phải đợc xác lập bằng hợp đồng gia công.
Hợp đồng gia công trong thơng mại phải đợc lập thành văn bản giữa bên nhận
gia công và bên đặt gia công.
Nội dung hợp đồng gia công trong thơng mại là quyền và nghĩa vụ của
bên nhận gia công và bên đặt gia công đợc áp dụng theo các quy định về hợp
đồng gia công của Bộ luật dân sự.
2.4. Gia công với thơng nhân nớc ngoài
Gia công với thơng nhân nớc ngoài là việc gia công trong thơng mại,
theo đó bên đặt gia công, bên nhận gia công là thơng nhân có trụ sở chính hoặc
nơi c trú thờng xuyên tại các nớc khác nhau nhng phải có một bên là thơng
nhân hoạt động thơng mại tại nớc nhận gia công.
2.5. Điều kiện gia công với thơng nhân nớc ngoài
Các mặt hàng đợc phép gia công và các loại máy móc, thiết bị, nguyên
liệu, vật liệu xuất khẩu, nhập khẩu cần thiết cho việc gia công với thơng nhân
4
nớc ngoài đợc thực hiện theo qui định của pháp luật Việt Nam và tập quán th-
ơng mại quốc tế nếu tập quán đó không trái với pháp luật Việt Nam.
2.6. Xuất khẩu, nhập khẩu máy móc, thiết bị, nguyên liệu, vật liệu
và các mặt hàng đợc phép gia công
Các bên gia công đợc quyền trực tiếp xuất khẩu, nhập khẩu máy móc,
thiết bị, nguyên liệu, vật liệu cần thiết cho việc gia công và các mặt hàng đã

+ Tên, số lợng sản phẩm gia công
+ Giá gia công
+ Thời hạn thanh toán và phơng thức thanh toán
+ Danh mục, số lợng, trị giá nguyên liệu, phụ liệu, vật t nhập khẩu và
nguyên liệu, phụ liệu, vật t xuất trong nớc để gia công, định mức sử dụng
nguyên liệu, phụ liệu, vật t; định mức vật t tiêu hao và tỷ lệ hao hụt nguyên liệu
trong gia công.
+ Danh mục và trị giá máy móc, thiết bị cho thuê, cho mợn hoặc tặng,
cho để phục vụ gia công.
6
+ Biện pháp xử lý phế liệu, phế thải và nguyên tắc xử lý máy móc, thiết
bị thuê mợn, nguyên liệu, phụ liệu, vật t d thừa sau khi kết thúc hợp đồng gia
công.
+ Địa điểm và thời gian giao hàng.
+ Nhãn hiệu hàng hóa và tên gọi xuất xứ hàng hóa.
+ Thời hạn hiệu lực của hợp đồng.
3.1.3. Định mức sử dụng, định mức tiêu hao và tỷ lệ hao hụt nguyên
liệu, phụ liệu, vật t
Định mức sử dụng, định mức tiêu hao và tỷ lệ hao hụt nguyên liệu, phụ
liệu, vật t do các bên thỏa thuận trong hợp đồng gia công. Giám đốc doanh
nghiệp nhận gia công chịu trách nhiệm về việc sử dụng nguyên liệu, phụ liệu,
vật t nhập khẩu vào đúng mục đích gia công; trờng hợp vi phạm sẽ bị xử lý
theo pháp luật quy định.
3.1.4. Thuê, mợn, nhập khẩu máy móc, thiết bị của bên đặt gia công
để thực hiện hợp đồng gia công
Bên nhận gia công đợc thuê, mợn máy móc, thiết bị của bên đặt gia
công để thực hiện hợp đồng gia công. Việc thuê mợn hoặc tặng máy móc, thiết
bị phải đợc thỏa thuận trong hợp đồng gia công.
Việc nhập khẩu máy móc, thiết bị, kể cả máy móc, thiết bị đã qua sử
dụng để thực hiện hợp đồng gia công phải tuân thủ các quy định của pháp luật

kiện phải đợc sự chấp thuận của cơ quan có thẩm quyền.
8
+ Phải tuân thủ các quy định của pháp luật Việt Nam về hoạt động gia
công, xuất khẩu, nhập khẩu, sản xuất hàng hóa trong nớc và các điều khoản
của hợp đồng gia công đã đợc ký kết.
3.1.6. Gia công chuyển tiếp
Gia công chuyển tiếp là hình thức gia công mà sản phẩm gia công của
hợp đồng gia công này đợc sử dụng làm nguyên liệu gia công cho hợp đồng
gia công khác.
Sản phẩm gia công của hợp đồng gia công công đoạn trớc đợc giao theo
chỉ định của bên đặt gia công cho hợp đồng gia công công đoạn tiếp theo.
Thủ tục giao, nhận sản phẩm gia công chuyển tiếp và xuất khẩu, nhập
khẩu sản phẩm gia công thực hiện theo quy định của cơ quan quản lý.
3.1.7. Thanh lý, thanh khoản hợp đồng gia công
Khi kết thúc hợp đồng gia công hoặc hợp đồng gia công hết hiệu lực,
các bên ký hợp đồng gia công phải thanh lý hợp đồng và làm thủ tục thanh
khoản hợp đồng gia công với cơ quan quản lý. Đối với hợp đồng gia công có
thời hạn trên một năm thi hàng năm, bên nhận gia công phải thanh khoản hợp
đồng với cơ quan quản lý.
Căn cứ để thanh lý và thanh khoản hợp đồng gia công là lợng nguyên
liệu, phụ liệu, vật t nhập khẩu, lợng sản phẩm xuất khẩu theo định mức sử dụng
nguyên liệu, phụ liệu, vật t, định mức vật t tiêu hao và tỷ lệ hao hụt đã đợc thỏa
thuận tại hợp đồng gia công.
Sau khi kết thúc hợp đồng gia công, máy móc, thiết bị thuê, mợn theo
hợp đồng, nguyên liệu, phụ liệu, vật t d thừa, phế phẩm, phế liệu đợc xử lý theo
thỏa thuận của hợp đồng gia công và phải đợc Bộ thơng mại chấp nhận.
9
Việc tiêu hủy các phế liệu, phế phẩm ( nếu có ) phải đợc thực hiện dới
sự giám sát của cơ quan quản lý. Trờng hợp không đợc phép tiêu hủy tại Việt
Nam thì phải tái xuất cho bên đặt gia công.

của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Đối với nguyên liệu, phụ liệu, vật t mua tại nớc ngoài để gia công mà
sản phẩm gia công đợc nhập khẩu thì phải chịu thuế nhập khẩu theo quy định
của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.
Đợc cử chuyên gia, công nhân kỹ thuật ra nớc ngoài để kiểm tra, nghiệm
thu sản phẩm gia công.
II. Các đặc điểm của hoạt động gia công trong ngành dệt may
Từ khái niệm, bản chất thực tiễn của hoạt động gia công trong ngành dệt
may ta có thể thấy, thông thờng bên đặt gia công hàng may mặc thờng là các
nớc phát triển, bên nhận gia công thờng là các nớc đang phát triển, có nguồn
lao động dồi dào, và có lợi thế về giá nhân công. Từ những năm 1970, xu thế
chuyển dịch đến nhà sản xuất hàng dệt may trên thế giới từ các nớc Nhật, Mỹ,
Anh, Pháp, Đức, sang các n ớc đang phát triển và hàng dệt may tại các nớc
này đã giảm mạnh khối lợng xuất khẩu, tăng mạnh khối lợng nhập khẩu. Trong
những năm 80 sự chuyển dịch này đã sang các nớc công nghiệp mới ( Đài
Loan, Hàn Quốc, Singapore, Hồng Kông ) và trong một thời gian ngắn các nớc
này đã chiếm 1/3 tổng khối lợng buôn bán hàng dệt may trên thế giới. Chẳng
bao lâu dệt may trên thế giới vào đầu những năm 1990, các nớc công nghiệp
11
mới đã vơn tới những ngành công nghiệp mũi nhọn có hàm lợng vốn và công
nghệ cao, tốn ít hao phí lao động và mang lại lợi nhuận cao nên xu thế chuyển
dịch ngành dệt may đã chuyển sang giai đoạn hai tức là từ các nớc công nghiệp
mới Châu á sang các nớc Thái Lan, Trung Quốc, Indonexia, ấn độ, Việt Nam,
có nguồn lao động dồi dào, giá nhân công rẻ và là ngành sản xuất hàng xuất
khẩu chủ lực, kết quả là khối lợng hàng dệt may xuất khẩu tại các nớc này tăng
lên gấp 10 lần.
Trong hoạt động gia công của ngành dệt may thì chủ yếu các sản phẩm
gia công là gia công trực tiếp, sản phẩm sau khi đợc gia công sẽ đợc tái nhập
khẩu về nớc đặt gia công và là sản phẩm tiêu dùng cuối cùng. Bên cạnh đó, vì
hàng dệt may có tính thời vụ và luôn thay đổi về mẫu mã nên hợp đồng gia

ợt quá sẽ tự chịu khoản phụ trội và ngợc lại nếu bên nhận gia công có thể tiết
kiệm mà vẫn hoàn thành đúng định mức, yêu cầu của bên đăt gia công thì bên
nhận gia công sẽ đợc hởng khoản d ra đó.
1.3. Căn cứ vào quan hệ tham gia hợp đồng gia công:
Căn cứ vào quan hệ tham gia hợp đồng gia công có hình thức gia công
một bên và hình thức gia công nhiều bên ( hình thức gia công này không phụ
thuộc vào các bên tham gia, vào quá trình sản xuất mà căn cứ vào hợp đồng có
một hay nhiều bên ).
Hợp đồng gia công nhiều bên có nghĩa là một bên đặt gia công và nhiều
bên nhận gia công để hoàn thiện từng khâu hay quá trình sản xuất sản phẩm.
13
Hợp đồng gia công một bên có nghĩa là một bên đặt gia công và một
bên nhận gia công, và bên nhận gia công sẽ hoàn thiện toàn bộ các khâu hay
quá trình sản xuất.
2. Các hình thức gia công trong ngành dệt may Việt Nam
Hoạt động gia công trong ngành dệt may Việt Nam bao gồm các hình
thức sau:
Mua nguyên vật liệu và bán thành phẩm, đây là hình thức gia công chủ
yếu của ngành dệt may Việt Nam hiện nay. Lý do đây là hình thức gia công
chủ yếu vì nguyên phụ liệu của nớc ta không đáp ứng đủ nhu cầu nên phải
nhập khẩu từ bên ngoài, bên cạnh đó đa phần nguyên phụ liệu không đảm bảo
đủ yêu cầu của bên đặt hàng và nếu có chất lợng cao thì giá thành lại đắt hơn
so với nhập khẩu.
Hình thức gia công khác của các doanh nghiệp nớc ta là nhận nguyên
vật liệu của bên đặt gia công và trao lại thành phẩm hoặc có thể xuất khẩu tại
chỗ (nh hãng Adidas hiện nay đã đặt gia công tại Việt Nam bằng cách giao
nguyên phụ liệu, sau khi sản xuất song thì xuất khẩu tại chỗ). Đối với hình
thức gia công này, chủ yếu sản phẩm đòi hỏi chất lợng cao và mẫu mã đa dạng.
Chơng II
Thực trạng hoạt động gia công trong ngành

nghiệp chuyên môn với những kĩ thuật đặc thù.
Lĩnh vực may là lĩnh vực cần ít về nhân lực nhất và tính kinh tế quy mô
nhỏ nhất. Trừ những ngời gia công nhuộm, hiệu chỉnh thì đây là lĩnh vực có
nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ nhất. Khi bắt đầu tiến hành sản xuất lĩnh vực
này, vốn đầu t ban đầu nhỏ, không bị đọng vốn nên lĩnh vực may hiện đợc đầu
t nhiều ở các nớc đang phát triển. Nội dung cơ bản của lĩnh vực này là sản xuất
hàng dệt may với công đoạn: cắt, may, hoàn thiện sản phẩm.
2. Năng lực của ngành dệt may
2.1. Năng lực sản xuất
Doanh nghiệp dệt may đợc phân làm 3 khu vực: khu vực quốc doanh,
khu vực ngoài quốc doanh, khu vực có vốn đầu t nớc ngoài.
Theo số liệu của Tổng công ty Dệt may Việt Nam, tổng năng lực sản
xuất của ngành dệt may Việt Nam năm 2002 đợc đánh giá:
Bảng 1: Năng lực sản xuất một số sản phẩm dệt may Việt Nam năm
2002
Chỉ tiêu Đơn vị Doanh nghiệp
trong nớc
Doanh nghiệp có
VĐT nớc ngoài
Tổng
Sợi dệt Tấn 72.000 90.000 162.000
Vải lụa Triệu m
2
380 420 800
Dệt kim Triệu sản
phẩm
31 8 39
Hàng Triệu sản 280 120 400
16
may sẵn phẩm

bố trí vừa và nhỏ ( 25-26 máy), sử dụng 34-38 lao động cơ động nhanh, có khả
năng chấn chỉnh sai sót cũng nh thay đổi mã hàng nhanh
2.2.2. Các cơ sở sản xuất có vốn đầu t nớc ngoài
Đối với lĩnh vực dệt, trong những năm gần đây tổng số vốn nhận đợc từ
đầu t nớc ngoài đã tăng đến 2 tỷ USD, chủ yếu từ các nớc nh Châu á nh
Malaisia, Đài Loan,...với hình thức đầu t 100% vốn nớc ngoài. Trong lĩnh vực
may mặc, tổng số vốn đầu t nớc ngoài trong khoảng 15 năm trở lại đây là hơn
250 triệu USD với hình thức chủ yếu là góp vốn liên doanh và đầu t 100% vốn
nớc ngoài.
Những doanh nghiệp này có nhiều lợi thế hơn rất nhiều về trang thiết bị,
máy móc kỹ thuật hiện đại, đợc ứng dụng những thành tựu mới nhất của công
nghệ so với doanh nghiệp trong nớc vì vậy họ có thể nâng cao đợc năng lực sản
xuất, đẩy nhanh tốc độ tăng trởng trong hoạt động xuất khẩu, đa dạng hoá mẫu
mã hàng hoá
2.3. Khả năng chiếm lĩnh thị trờng
2.3.1. Thị trờng trong nớc
Năm 2003, ngành dệt may chỉ đạt đợc 475,9 triệu mét vải lụa thành
phẩm, tức là bình quân tiêu dùng mỗi ngời chỉ đạt 6 m/năm nhng nhu cầu tiêu
dùng trong nớc lớn hơn nhiều vì vậy số lợng vải nhập khẩu còn lớn. Tuy số l-
18
ợng vải sản xuất còn ít nhng số lợng tiêu thụ lại không cao do chất lợng và giá
thành cha đáp ứng đợc nhu cầu của ngời dân
2.3.2. Thị trờng xuất khẩu
Ngành dệt may đợc coi là ngành xuất khẩu mũi nhọn từ những năm 90.
Những nớc nhập khẩu hàng dệt may chủ yếu của Việt Nam là Đài Loan, Hàn
Quốc, Nhật Bản. Và hàng dệt may xuất khẩu sang eu cũng tăng nhanh sau
hiệp định thơng mại Việt Nam - EU. ở thị trờng EU, Việt Nam có lợi thế do đ-
ợc hởng một số u đãi nh số lợng hạn ngạch tăng, mức chuyển đổi giữa các mặt
hàng lớn, đợc sử dụng hạn ngạch d thừa của ASEAN nh ng khả năng cạnh
tranh ở thị trờng này còn yếu do sản phẩm chất lợng cao còn ít. Các sản phẩm

Canada 39 35 48
Châu Phi 0.6 12 20
20
Đông Âu 51 103 69
Khác 178 79 93
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của Hải Quan Việt Nam
Qua bảng số liệu trên ta có thể thấy, Mỹ là thị trờng lớn của hàng dệt
may Việt Nam, và kim ngạch xuất khẩu vào thị trờng này cũng tăng rất nhanh
mặc dù ta mới ký hiệp định thơng mại với Mỹ năm 1996. Bên cạnh đó, các thị
trờng lớn khác là EU, Nhật Bản và Asean.
Lịch sử quan hệ với các thị trờng lớn trên cũng mới bắt đầu khoảng hơn
mời năm trở lại đây. Năm 1992 là thời điểm vàng, mở ra cơ hội xuất khẩu các
sản phẩm dệt may Việt Nam với việc ký kết Hiệp định buôn bán hàng may
mặc giữa Việt Nam và EU. Từ năm 1993, hàng dệt may bắt đầu vơn ra thị tr-
ờng thế giới, và đến năm 1996, lần đầu tiên kim ngạch vợt qua ngỡng 1 tỷ
USD, gấp 16 lần so với năm 1990. Hiện tại, sản phẩm của ngành dệt may Việt
Nam đã có mặt ở trên 100 nớc và vùng lãnh thổ tại hầu hết các châu lục so với
gần 30 nớc ở thời điểm năm 1990. Sản phẩm dệt may Việt Nam đợc xuất sang
hai khu vực thị trờng chính là thị trờng có hạn ngạch do nớc nhập khẩu ấn định
số lợng từng loại sản phẩm nh EU (trớc 1.1.2005), Canada, Thổ Nhĩ Kỳ và thị
trờng không hạn ngạch nh Nhật Bản, Châu á, Châu Mỹ. Trong đó EU là thị tr-
ờng không hạn ngạch lớn nhất thế giới. Năm 1994, 1995, Việt Nam có mặt
trong số 10 nớc dẫn đầu về xuất khẩu hàng may vào Nhật Bản, đến 1996 vơn
lên hàng thứ 8, năm 1997 vơn lên hàng thứ 5.
Mỹ đợc xem là một thị trờng đầy tiềm năng và triển vọng đối với hàng
dệt may Việt Nam, đặc biệt là từ khi Hiệp định thơng mại Việt Mỹ đợc ký
kết. Hiện tại, Mỹ là thị trờng lớn nhất của Việt Nam. Thị trờng này tiêu thụ
khoảng 50% - 55% trị giá hàng dệt may do Việt Nam xuất cảng.
21
Còn EU là thị trờng lớn thứ hai của Việt Nam, trị giá hàng may mặc

2000 650 7,4 35,7
2001 599 -7,9
2002 540 -9,8
2003 600 11,11
2004 633 5,5
9 tháng đầu năm
2005
537
Nguồn: Cục công nghệ thông tin và thống kê Hải Quan
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy kim ngạch xuất khẩu năm 2000 tăng 400
triệu USD, gấp 2,6 lần so với kim ngạch năm 1993 thể hiện bớc đột phá của
xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam vào thị trờng EU. Tuy nhiên sang năm 2001
và 2002 kim ngạch xuất khẩu vào thị trờng EU giảm mạnh. Đến Năm 2003,
2004 mới có dấu hiệu phục hồi nhng so với năm 2000 thì kim ngạch vẫn giảm
nguyên nhân là xuất hiện thị trờng đầy tiềm năng là Mỹ. Với thị trờng đầy tiềm
năng nh EU và với khả năng sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam
thì vị trí đứng thứ 11 của Việt Nam cũng nh con số kim ngạch nhập khẩu nh
trên là quá khiêm tốn. Trong tình hình hạn ngạch bị xóa bỏ nh hiện nay thì
công tác thúc đẩy xuất khẩu hàng dệt may sang thị trờng EU là điều tất yếu.
3. Tình hình sản xuất của ngành Dệt - May
3.1. Sản phẩm chủ yếu
Sản phẩm chính của ngành dệt Việt Nam là sợi, vải sệt thoi và dệt kim
trong đó miền Bắc chiếm 35,26%, miền Trung 18,6%, miền Nam chiếm
46,13%.
Các sản phẩm chủ yếu ngành may ngày càng đợc gia tăng. Các mặt
hàng nh quần áo dệt kim, quần áo may sẵn có xu hớng tăng đều qua các năm ;
đối với mặt hàng quần áo dệt kim, sản lợng đợc sản xuất ra năm 2003 là 72,2
23
triệu cái gần gấp đôi so với năm 1999 là 34,5 triệu cái; quần áo may sẵn năm
2003 là 618,6 triệu cái tăng hơn hai lần so với năm 1999 là 302,4 triệu cái.

0
4 Vải màn
các loại
Nghìn mét 19.08
5
23.91
1
29.97
4
34.70
0
31.13
8
55.00
0
5 Quần áo
dệt kim
các loại
Triệu cái 29,41
4
34,45
6
45,82
0
53,1 47,6 72,2
6 Quần áo
may sẵn
Triệu cái 275,0 302,4 337,0 375,6 439,3 618,6
7 Len đan Tấn 2.243 3.406 2.683 2.800 3.275 3.583
8 Khăn các

thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia hoạt động xuất khẩu, chủ trơng này đã
có tác dụng to lớn đến khả năng xuất khẩu của ngành dệt may.
4. Vị trí của ngành dệt may trong nền kinh tế Việt Nam
Đối với Việt Nam, một nớc có dân số trẻ, và dân số đến độ tuổi lao động
hàng năm khoảng 2 triệu ngời vì vậy vấn đề việc làm rất quan trọng. Để giải
25

Trích đoạn Cơ hội đối với hoạt động gia công quốc tế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status