LỜI NÓI ĐẦU
Sau nhiều thập kỷ xây dựng và phát triển kinh tế, Việt Nam đang trong
quá trình tiến hành công cuộc đổi mới, nền kinh tế đang dần dần khởi sắc: Tốc
độ tăng trưởng ngày càng cao, lạm phát được kiềm chế, sản xuất phát triển, đời
sống nhân dân được cải thiện rõ rệt.
Hoà nhịp vào sự tăng trưởng mạnh mẽ của nền kinh tế Đất nước, hệ thống
ngân hàng Việt Nam đang tiến hành công cuộc đổi mới, hiện đại hoá trong quản
lý và hoạt động nghiệp vụ nhằm xứng đáng là Trung tâm của hệ thống tiền tệ
quốc gia. Sự phát triển của nền kinh tế đòi hỏi phải có sự đầu tư rất lớn từ nội bộ
nền kinh tế và bên ngoài. Tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế có ý nghĩa rất quan
trọng, đó là tiền đề là điều kiện để có thể tiếp nhận và sử dụng các nguồn vốn
bên ngoài đạt hiệu quả đồng thời để tăng thêm tính độc lập tự chủ của nền kinh
tế.
Hiện nay, ở nước ta, hầu hết các doanh nghiệp có vốn nhỏ, máy móc, thiết
bị công nghệ lạc hậu...và đang rất cần nguồn vốn đầu tư nước ngoài để cải tiến,
nâng cao chất lượng sản xuất. Mặc dù thị trường chứng khoán Việt Nam ra đời,
đã tạo kênh dẫn vốn trực tiếp tới các doanh nghiệp và xã hội. Nhưng vai trò của
Ngân hàng Thương mại trong việc đầu tư cho tăng trưởng và phát triển kinh tế
vẫn chiếm vị trí rất quan trọng. Hệ thống ngân hàng vẫn là kênh dẫn vốn chính
trong nền kinh tế. Cho nên hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Thương mại ảnh
hưởng lớn đến hiệu quả của nền kinh tế.
Sở giao dịch I NHNo&PTNT Việt Nam đã và đang tích cực tìm kiếm,
triển khai các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, xây dựng cơ cấu
nguồn vốn hợp lý, khai thác tiềm năng về vốn để đảm bảo nguồn vốn ổn định, từ
đó, sử dụng vốn có hiệu quả là mục tiêu hàng đầu đặt ra cho Ngân hàng. Sự phát
1
triển của Ngân hàng là sự đóng góp, khích lệ vào sự nghiệp công nghiệp hoá -
hiện đại hoá đất nước. Toàn thể ban lãnh đạo Ngân hàng cũng như đội ngũ cán
bộ công nhân viên chức đang cố gắng không biết mệt mỏi khắc phục những khó
khăn để hoàn thành nhiệm vụ của Đảng và Nhà nước giao.
Sau một thời gian thực tập tại Sở giao dịch I NHNo&PTNT Việt Nam,
một doanh nghiệp đặc biệt hoạt động trong lĩnh vực tài chính tiền tệ, tuân thủ
theo pháp luật theo đuổi mục tiêu lợi nhuận” . Theo luật các tổ chức tín dụng của
Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa X,
kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 12/12/1997 “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín
dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh
khác có liên quan. Theo tính chất và hoạt động, các loại hình ngân hàng gồm
ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính
sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác”.
1.1.1.2. Đặc điểm của Ngân hàng Thương mại.
3
Tuy nhiên để hiểu rõ hơn khái niệm về ngân hàng thương mại chúng ta
cần xem xét đặc điểm của ngân hàng thương mại. Trước hết, hoạt động ngân
hàng thương mại là hình thức kinh doanh kiếm lời, theo đuổi mục tiêu lợi nhuận
là chủ yếu. Ngân hàng thực hiện hai hình thức hoạt động là kinh doanh tiền tệ và
dịch vụ ngân hàng. Trong đó, hoạt động kinh doanh tiền tệ được biểu hiện ở
nghiệp vụ huy động vốn dưới các hình thức khác nhau, để cấp tín dụng cho
khách hàng có yêu cầu về vốn với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận. Ngân hàng
thương mại là người “đi vay để cho vay” nhằm mục đích kiếm lời. Các hoạt
động dịch vụ ngân hàng được biểu hiện thông qua các nghiệp cụ sẵn có về tiền
tệ, thanh toán, ngoại hối, chứng khoán, để cam kết thực hiện công việc nhất định
cho khách hàng trong một thời gian nhất định nhằm mục đích thu phí dịch vụ
hoặc hoa hồng.
Hai là, hoạt động ngân hàng thương mại phải tuân thủ theo quy định của
pháp luật, nghĩa là chỉ khi ngân hàng thương mại thoả mãn đầy đủ các điều kiện
khắt khe do pháp luật qui định như điều kiện về vốn, phương án kinh doanh...thì
mới được phép hoạt động trên thị trường.
Ba là, hoạt động ngân hàng thương mại là hình thức kinh doanh có độ rủi
ro cao hơn nhiều so với các hình thức kinh doanh khác và thường có ảnh hưởng
sâu sắc tới các ngành khác và cả nền kinh tế. Sở dĩ như vậy là do trong hoạt động
ngân hàng đặc biệt là hoạt động kinh doanh tiền tệ do các ngân hàng tiến hành
Ngân hàng Thương mại huy động và tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm thời
nhàn rỗi của các chủ thể trong nền kinh tế để hình thành nguồn vốn cho vay; mặt
khác, trên cơ sở số vốn đã huy động được, ngân hàng cho vay để đáp ứng nhu
cầu vốn sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng, của các chủ thể kinh tế góp phần đảm
bảo sự vận động liên tục của guồng máy kinh tế xã hội, thúc đẩy tăng trưởng
5
kinh tế. Như vậy, Ngân hàng Thương mại vừa là người đi vay, vừa là người cho
vay.
Ngày nay, quan niệm vai trò trung gian tín dụng trở nên biến hoá hơn. Sự
phát triển của thị trường tài chính làm xuất hiện các khía cạnh khác của chức
năng này. Ngân hàng có thể đứng làm trung gian giữa công ty (khi phát hành cổ
phiếu) với những nhà đầu tư: Chuyển giao các mệnh lệnh trên thị trường chứng
khoán; đảm nhận việc mua bán trái phiếu công ty. Theo cách này Ngân hàng làm
trung gian giữa người đầu tư và người cần vay vốn trên thị trường. Hơn nữa, tín
dụng ngân hàng là một trong những nguồn hình thành vốn lưu động và vốn cố
định của doanh nghiệp. Vì vậy tín dụng Ngân hàng góp phần điều hoà vốn trong
nền kinh tế, đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh liên tục, là cầu nối giữa tiết
kiệm, tích luỹ và đầu tư. Đưa vật tư hàng hoá vào sản xuất lưu thông, mở rộng
nguồn vốn thúc đẩy tiến bộ khoa học kĩ thuật, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất.
Chức năng tín dụng của Ngân hàng Thương mại được hình thành rất sớm,
ngay từ lúc hình thành các Ngân hàng Thương mại. Ngày nay, thông qua chức
năng trung gian tín dụng, Ngân hàng Thương mại đã và đang thực hiện chức
năng xã hội của mình, làm cho sản phẩm xã hội được tăng lên, vốn đầu tư được
mở rộng và từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, cải thiện đời sống
nhân dân.
1.1.2.2. Ngân hàng Thương mại-trung gian thanh toán.
Việc làm trung gian thanh toán của Ngân hàng ngày nay đã phát triển đến
tầm mức rất đa dạng, không chỉ là trung gian truyền thống như trước, mà còn
quản lý các phương tiện thanh toán. Đây là vai trò ngày càng chiếm vị trí rất
quan trọng, phù hợp với sự phát triển và tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Ở các
nhà kinh tế đường thời đã đưa ra nhiều côg thức hoàn chỉnh. Chẳng hạn như
công thức sau của giáo sư người Pháp ...P.F. LEHAMAN.
Số nhân tiền gửi mở rộng =
rba ++
1
Trong đó:
a: Tỷ lệ dự trữ pháp định.
b: Tỷ lệ tiền mặt trên tiền gửi thanh toán
r: Tỷ lệ dự trữ dư thừa trên tiền gửi thanh toán không vay hết.
Tiền gửi mở rộng =
rba ++
1
x tiền gửi ban đầu.
Tóm lại, khả năng tạo tiền là khả năng biến mức tiền gửi ban đầu tại một
Ngân hàng đầu tiên nhận tiền gửi thành một khoản tiền lớn hơn gấp nhiều lần,
thông qua việc thực hiện các nghiệp vụ thanh toán, tín dụng nhiều Ngân hàng.
Khả năng này tạo ra "bội số mức cung tiền tệ" liên quan chặt chẽ với việc công
cụ dự trữ bắt buộc, của Ngân hàng trung ương. Chính vì vậy các bút tệ thực sự
thúc đẩy sự phát triển kinh tế mà cũng có thể gây nên những tai hoạ lớn. Đây là
nhân tố cơ bản trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của Ngân hàng Thương mại.
Từ ba chức năng cơ bản trên ta cũng có thể thấy được vai trò to lớn của
Ngân hàng Thương mại trong nền kinh tế. Hoạt động của Ngân hàng Thương
mại đẩy nhanh quá trình thanh toán, giảm chi phí giao dịch và tạo môi trường
thuận lợi cho quá trình lưu chuyển vốn của nền kinh tế, nâng cao chất lượng của
quá trình tập trung và phân phối nguồn vốn. Ngân hàng Thương mại còn là bộ
máy tạo tiền, nó có vai trò quan trọng trong việc thực thi chính sách tiền tệ và
8
góp phần vào hoạt động điều tiết vĩ mô dưới sự tác động của Ngân hàng Trung
ương và các chính sách của Nhà nước.
1.1.3. Hoạt động cơ bản của Ngân hàng Thương mại.
hoạt động có những đặc điểm khác nhau song có quan hệ mật thiết, gắn bó chặt
chẽ và bổ sung cho nhau. Vì vậy đối với các nhà quản trị ngân hàng, không được
coi nhẹ hoạt động nào mà phải luôn đặt mối quan hệ giữa chúng trong khi đề ra
chiến lược cũng như lập kế hoạch kinh doanh để đạt được hiệu quả trong hoạt
động.
1.2. HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI .
Để hiểu xem một Ngân hàng Thương mại (NHTM) hoạt động như thế nào
chúng ta phải xem xét đến bản quyết toán tài sản của Ngân hàng đó, là bản kê tài
sản có và tài sản nợ cuả nó. Bảng quyết toán này liệt kê các kết số, tức là nó có
đặc trưng.
Tổng tài sản có = Tổng tài sản nợ + vốn.
Hơn nữa, bảng quyết toán tài sản một Ngân hàng liệt kê các nguồn vốn
của Ngân hàng (tài sản nợ) và sử dụng vốn (tài sản có). Các Ngân hàng bằng
nhiều cách để huy động vốn. Sau đó họ dùng vốn này có được tài sản có.
- Bảng quyết toán của tất cả các Ngân hàng Thương mại thường có kết cấu
dưới dạng sau:
10
Tài sản có (sử dụng vốn) Tài sản nợ (nguồn vốn)
1. Khoản mục dự trữ 1. Khoản mục tiền gửi
2. Khoản mục CK ngắn hạn 2. Khoản mục đi vay
3. Khoản mục cho vay 3. Các loại vốn uỷ thác
4. Khoản mục đầu tư 4. Vốn sở hữu của Ngân hàng
5. Các tài sản có khác
6. TSCĐ tích lũy
1.2.1. Nguồn vốn tại Ngân hàng Thương mại
1.2.1.1. Nguồn vốn tiền gửi
Nguồn vốn tiền gửi là nguồn vốn quan trọng nhất chiếm bộ phận lớn trong
tổng số nguồn vốn của NHTM, thường chiếm khoảng 50 - 60% nhưng hiện nay
tỷ lệ này đang giảm dần.
Theo tính chất giao dịch việc huy động vốn chia làm loại: Tiền gửi giao
trung và dài hạn hay một dự án lớn đem lại lợi nhuận cao Ngân hàng Thương
mại thường đi vay tức thời với lãi suất trên thị trường liên Ngân hàng. Hoặc hai
Ngân hàng Thương mại thuộc hai nước có, thời gian làm việc ngược nhau
thường ký kết hợp đồng tín dụng qua đêm để tận dụng nguồn vốn tuy nhiên cách
làm này chi phí hơi cao vì lãi suất tín dụng qua đêm là lãi suất nóng.
12
Ngoài ra Ngân hàng Thương mại có thể vay vốn trên thị trường vốn và thị
trường tiền tệ thông qua phát hành các kỳ phiếu ngắn hạn, trái phiếu trung và dài
hạn.
Đặc điểm của nguồn vốn đi vay là ổn định hơn, nguồn vốn tiền gửi nhưng
chi phí vốn cao hơn. Tỷ lệ nguồn vốn đi vay đang có xu hướng chiếm khoản 15 -
20% tổng nguồn vốn Ngân hàng Thương mại. Việc huy động vốn còn phụ thuộc
chính sách tiền tệ của NHNN, các hoạt động nói chung của Ngân hàng Thương
mại và tính năng động của thị trường chứng khoán.
1.2.1.3. Các nguồn vốn khác của Ngân hàng Thương mại
Ngân hàng Thương mại ra còn có những nguồn vốn khác như nguồn vốn
uỷ thác, nguồn vốn mà Ngân hàng đứng ra quản lý hộ một tổ chức ra bảo lãnh
cho một tổ chức để đầu tư vào một dự án lớn mang lại lợi nhuận cao, trong
trường hợp này Ngân hàng sẽ hưởng hoa hồng, và hưởng dịch vụ quản lý.
Nguồn vốn trong thanh toán hình thành từ đặc điểm thanh toán không
dùng tiền mặt khi mà sự vận động giữa hàng hoá và tiền tệ luôn có một khoảng
thời gian nhất định. Kế toán ngày một hiện đại thì khoảng thời gian này ngày
một rút ngắn, nguồn vốn bị thu hẹp nhưng tăng tính cạnh tranh cho Ngân hàng
Thương mại.
Nguồn vốn hình thành từ các khoản nợ của Ngân hàng nhưng chưa đến
hạn phải trả.
Các loại nguồn vốn này thường chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ, Ngân hàng có thể
chủ động sử dụng ít chịu sự rủi ro.
1.2.1.4. Vốn chủ sở hữu và các quỹ
13
ở NHNN, tổ chức tín dụng các Ngân hàng Thương mại khác... và một lượng
được cất giữ tại Ngân hàng đó, gọi là tiền dự trữ. Mức dự trữ cao hay thấp phụ
thuộc vào qui mô hoạt động của Ngân hàng, mối quan hệ thanh toán bằng tiền
mặt và chuyển khoản, thời vụ của các khoản chi tiền mặt. Tiền dự trữ hiện hành
không có lãi nhưng các Ngân hàng Thương mại vẫn giữ chúng do một số lý do
nhất định. Thứ nhất, theo luật pháp hiện hành, các Ngân hàng Thương mại phải
nộp một tỷ lệ nhất định tiền gửi mà ngân hàng huy động được tại Ngân hàng Nhà
nước( thường là 10%) để đảm bảo tiền gửi. Đây cũng là công cụ quan trọng
trong quản lý lưu thông tiền tệ. Thứ hai, bản thân ngân hàng cũng thấy rõ sự cần
thiết phải giữ một ít tiền mặt mà không nên cho vay hết.Việc giữ tiền măt này để
đảm bảo an toàn cho những hoạt động còn lại, do vậy dự trữ tiền mặt trong tài
sản có còn gọi là “ khoản đầu tư cho sự an toàn”. Ngoài ra, các ngân hàng nhỏ
gửi tiền vào các ngân hàng lớn để đổi lấy các dịch vụ khác nhau như tập hợp séc,
giao dịch ngoại tệ. Các khoản này có tính lỏng nhất trong các loại tài sản có của
ngân hàng chiếm khoảng 7% tổng tài sản, phục vụ nhu cầu thanh khoản tại ngân
hàng.
1.2.2.2. Đầu tư vào chứng khoán.
Có thể thấy Ngân hàng Thương mại thực hiện nghiệp vụ đầu tư vào chứng
khoán nhằm mục đích kiếm lợi nhuận, nâng cao khả năng thanh khoản, đa dạng
hoá các loại hình kinh doanh nhằm phân tán rủi ro.Trong việc đầu tư vào chứng
khoán, Ngân hàng Thương mại chủ yếu mua các trái phiếu kho bạc, các trái
phiếu có tính thanh khoản cao. Đây là những công cụ chính của thị trường tiền tệ
15
tài chính. Việc mua và dự trữ các loại trái phiếu này một mặt tạo ra thu nhập cho
ngân hàng, mặt khác chúng là những công cụ tài chính dễ lưu động hoá, vì vậy
khi cần tiền ngân hàng có thể bán hoặc chiết khấu ở ngân hàng khác hoặc ở
NHNN.
1.2.2.3. Tiền cho vay
Cho vay là một hoạt động kinh doanh chủ chốt của Ngân hàng Thương
mại để tạo ra lợi nhuận. Chỉ có lãi suất thu được từ cho vay mới bù nổi chi phí
hạn, chứng khoán chính phủ v.v. Các Ngân hàng Thương mại mua chứng khoán
vì mục đích thanh khoản và đa dạng hoá hoạt động, để nâng cao lợi tức và phục
vụ như các vật kí quĩ cho các tài sản nợ ký thác với chính quyền địa phương,
chính phủ v.v. Tỷ lệ lớn nhất của đầu tư chứng khoán là chứng khoán chính phủ
bởi tuy có mức lãi hạn chế những linh hoạt, không có rủi ro tín dụng và ít rủi ro
về lãi suất so với trái phiếu dài hạn. Thông thường lợi tức tương ứng với độ rủi
ro. Khoản vốn này chiếm khoảng 15 - 19% tổng tài sản.
1.2.3. Hiệu quả sử dụng vốn của Ngân hàng Thương mại.
1.2.3.1. Khái niệm chung về Sử dụng vốn.
Cho vay hay đầu tư để sinh lợi từ tiền đã huy động được là lẽ sống của
Ngân hàng Thương mại. Cho vay hay đầu tư vào các loại tài sản nào cũng đều là
17
hoạt động kiếm lợi nhuận. Tài sản có là những khoản nợ mà thị trường nợ ngân
hàng hoặc là những khoản mà ngân hàng cho thị trường vay. Đứng trên góc độ
tính chất, ngân hàng là chủ nợ và các đối tượng vay tiền của nó là con nợ. Vì
mục tiêu của ngân hàng là cho vay để kiếm lời, nên tài sản có hay các khoản mà
ngân hàng cho vay còn được gọi là đầu tư.
Như vậy sử dụng vốn là một trong những nghiệp vụ của ngân hàng thương mại
( nghiệp vụ có ).
Sử dụng vốn bao gồm:
- Dự trữ tiền mặt: Tiền mặt tại kho của ngân hàng
Tiền mặt ký gửi của ngân hàng Trung ương
- Đầu tư vào chứng khoán ( trái phiếu, hối phiếu...)
- Cho vay
- Đầu tư vào các loại tài sản ( như bất động sản, cơ sở hạ tầng, trang
thiết bị...)
1.2.3.2. Các chỉ tiêu xác định hiệu quả Sử dụng vốn.
* Tổng dư nợ cho vay / Tổng nguồn vốn
Phản ánh cứ một đồng vốn huy động thì có bao nhiêu đồng được đem đi cho
vay.
thường xuyên phải quan tâm. Mức độ thanh khoản mà một ngân hàng riêng biệt
nào đó cần đến, tuỳ thuộc vào lượng biến đổi xảy ra ở số tiền gửi và nhu cầu tín
dụng.
19
Có nhiều biến động bất thường xảy ra trong nền kinh tế, theo thời vụ, theo
chu kỳ. Rất khó lòng dự đoán được thời gian xảy ra và tính khốc liệt của biến
động bất thường ấy do chúng không tuân theo những khuôn mẫu định sẵn.
Những biến động thời vụ trực tiếp liên quan đến mùa vụ khác với biến
động bất thường được lặp lại hàng năm, và những biến động ấy có thể thay đổi
cùng thời gian. Ví như một Ngân hàng đặt tại khu nông nghiệp, mức tiền gửi sẽ
tăng vào mua thu hoạch và nhu cầu tín dụng sẽ tăng vào mùa xuân.
Các biến động chu kỳ thường khó dự đoán hơn các biến động theo thời vụ.
Trong suốt thời kỳ suy thoái của một chu kỳ sản suất, nhu cầu tín dụng giảm và
tiền gửi Ngân hàng cũng có thể giảm theo. Tuy nhiên, chính sách tiền tệ của
Ngân hàng trung ương có khuynh hướng bù đắp cho sự giảm sút tiền gửi Ngân
hàng trong toàn bộ hệ thống Ngân hàng, suốt thời kỳ kinh tế trì trệ. Trong giai
đoạn chấn hưng, nhu cầu tín dụng tăng vượt mức tăng tiền gửi, khiến Ngân hàng
bán các tài sản lưu hoạt.
Kết quả của những biến động này trong nền kinh tế đã tác động đến mức
tiền gửi do đó ảnh hưởng trực tiếp đến tính thanh khoản. Vấn đề đặt ra cho Ngân
hàng là phải quản lý thanh khoản.
Quản lý thanh khoản của Ngân hàng xác định nhu cầu khả năng đáp ứng
nhu cầu thanh khoản tín dụng cho khách hàng tại bất kỳ thời điểm nào, tránh tình
trạng khách hàng đến rút tiền ô ạt dẫn đến tình trạng Ngân hàng phá sản. Điều
quan tâm hàng đầu là Ngân hàng phải tính toán các loại tài sản có khả năng
chuyển thành tiền mặt. Việc xác định một mức thanh khoản hợp lý trong từng
thời kỳ là hết sức khó khăn. Ngân hàng phải dự đoán được nhu cầu của nền kinh
tế tại các thời điểm khác nhau. Đồng thời dựa vào tỷ lệ dự trữ bắt buộc của Ngân
hàng trung ương ban hành để có chính sách tín dụng phù hợp. Trong từng trường
20
thanh khoản, miễn là nó luôn luôn có tài sản để bán. Tương tự như vậy, hệ thống
Ngân hàng sẽ luôn mang tính thanh khoản, miễn là Ngân hàng trung ương sẵn
sàng mua lại các tài sản dưới dạng chiết khấu và phụ thuộc vào hệ thống tài
chính, quan hệ cung cầu trên thị trường vốn và thị trường tiền tệ.
3) Lý thuyết về lợi tức dự tính
Được xây dựng trên cơ sở thanh khoản của Ngân hàng thương mại được
đảm bảo bằng việc chi trả tiền vay theo lịch trình định sẵn được dựa trên cơ sở
của lợi tức tương lai của người vay. Lý thuyết này không phủ nhận tính khả thi
của các lý thuyết về cho vay thương mại và lý thuyết về khả năng chuyển đổi.
Thay vào đó, nó nhấn mạnh đến triển vọng về việc hoàn trả tín dụng cùng lợi
tức, hơn là lệ thuộc nặng lề vào việc kí quĩ.
Cũng như thế, nó cho rằng, thanh khoản của một Ngân hàng có thể bị ảnh
hưởng bởi qui mô đáo hạn của các khoản cho vay và đầu tư. Cho vay kinh doanh
ngắn hạn sẽ có nhiều thanh khoản hơn là chovay có kỳ hạn, và cho vay tiêu dùng
trả góp sẽ có nhiều thanh khoản hơn là cho vay được đảm bảo bởi bất động sản
nhà cửa.
Lý thuyết này được áp dụng và phát triển rất nhanh trong một số loại cho
vay của Ngân hàng thương mại: cho vay kinh doanh có kỳ hạn, cho vay tiêu
dùng trả góp và cho vay bất động sản nhà cửa. Tất cả những khoản cho vay này
có đặc điểm chung là tăng tính chất thanh khoản của chúng, do chúng có thể
được trả dần. Một khoản mục đầu tư có nhiều khoản cho vay với sự hoàn trả đều
22
đặn hàng tháng hoặc hàng quí về số gốc và lãi, thực chất đó là thanh khoản bởi
vì luồng tiền vào ra đều đặn hàng tháng có thể đoán trước được. Khi cần đến thị
trường ngân quĩ có thể sử dụng. Nếu không nó sẽ bị giữ lại để đảm bảo thanh
khoản trong tương lai.
Lý thuyết lợi tức dự tính đã khuyến khích nhiều ngân hàng Thương mại áp
dụng một mô hình bậc thang trong khoản mục vốn đầu tư. Có nghĩa là có một sự
xê dịch thời gian đáo hạn nào đó để cho mức khấu hao diễn ra trên cơ sở đều đặn
và có thể dự đoán được. Nhược điểm của lí thuyết này là Ngân hàng có thể bị
thất thoát lớn về tài sản, ảnh hưởng đến uy tín, làm giảm lợi nhuận thậm chí thua
lỗ, nguy hiểm hơn là dẫn đến phá sản. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro. Về
phía Ngân hàng, là do không có chính sách huy động và sử dụng vốn hợp lý. Đặc
biệt trong việc xem xét các dự án cho vay không tính tới hiệu quả kinh tế hoặc
tính toán sai lệch do thông tin không đầy đủ hoặc thiếu chính xác. Việc quản lý
tài sản nợ, nguồn vốn của ngân hàng có vấn đề, chưa thực hiện cơ cấu đầu tư, cơ
cấu tài sản. Trình độ cán bộ Ngân hàng có nhiều điểm bất cập, không có khả
năng xem xét đánh giá khách hàng. Ngân hàng không dự báo được diến biến thị
trường, tình hình cung cầu các loại sản phẩm. Về phía khách hàng, bản thân họ
không có dự án khả thi, việc đầu tư không có căn cứ kinh tế nên việc sử dụng
vốn không hiệu quả. Khách hàng có chủ tâm lừa đảo Ngân hàng, họ có ý định
vay nhưng không trả nợ. Các biến động về môi trường kinh tế chính trị xã hội
trong nước và nước ngoài cũng tạo nên rủi ro. Rủi ro cũng xuất phát từ chính
sách kinh tế, thiên tai.
24
1) Quản lý rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là rủi ro không thu được nợ khi đến hạn hoặc Ngân hàng
không cho vay được tạo nên đọng vốn nghĩa là Ngân hàng đã chi phí cho các
khoản vay lớn hơn thu nhập từ hoạt động cho vay, thu lỗ. Hoặc Ngân hàng đầu
tư vào thị trường chứng khoán kém hiệu quả, Ngân hàng chỉ có thể bán chứng
khoán với giá thấp hơn giá đi mua hoặc không có khả năng bán đi. Các dự án
đầu tư không có khả năng sinh lời.
a. Hệ số rủi ro
H
r
=
vay tiÒn sè Tæng
lêi sinh n¨ng kh¶ cã kh«ngvèn Sè
H
R