MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHTW : Ngân hàng trung ương
NHTM CP : Ngân hàng thương mại cổ phần
1
NHNo&PTNT : Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
NHNN : Ngân hàng Nhà nước
TMCP : Thương mại cổ phần
TCTD : Tổ chức tín dụng
TCKT : Tổ chức kinh tế
TGTT : Tiền gửi thanh toán
TKTG : Tài khoản tiền gửi
TGKH : Tiền gửi khách hàng
TK : Tài khoản
TT :Thanh toán
TG : Tiền gửi
GTCG : Giấy tờ có giá
TGTK : Tiền gửi tiết kiệm
KKH : Không kỳ hạn
CKH : Có kỳ hạn
PGD : Phòng giao dịch
UNC : Ủy nhiệm chi
UNT : Ủy nhiệm thu
TD : Tín dụng
DNNN : Doanh nghiệp nhà nước
HĐQT : Hội đồng quản trị
QĐ : Quyết định
DANH MỤC BẢNG BIỂU
2
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
- Tìm kiếm, đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác huy
động vốn tại Sở giao dịch.
3. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn đã sử dụng một số phương pháp như: phương pháp khái quát hóa, so
sánh, phân tích, thống kê, tổng hợp, để từ đó rút ra những tồn tại, thiếu sót cần khắc
phục nhằm hoàn thiện nhiệm vụ huy động vốn tại Sở giao dịch NHNo&PTNT Việt
Nam.
4. Phạm vi nghiên cứu
4
Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng huy động vốn tại Sở giao dịch
NHNo&PTNT Việt Nam. Số liệu chủ yếu trong 3 năm (2006 -> 2008).
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Lý luận cơ bản về công tác huy động vốn của ngân hàng thương mại
trong nền kinh tế thị trường.
Chương 2: Thực trạng hiệu quả huy động vốn tại Sở giao dịch Ngân hàng Nông
nhiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Sở giao dịch Ngân hàng
Nông nhiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.
Do thời gian nghiên cứu lý luận và thực tập còn ngắn với trình độ hiểu biết còn hạn
chế do vậy luận văn này còn có nhiều thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng góp và chỉ
bảo của các thầy cô và các bạn đọc để luận văn hoàn thiện hơn. Em xin chân thành cảm
ơn cô giáo Ths. Nguyễn Thị Thúy đã tận tình chỉ bảo và các cán bộ ở Sở giao dịch đã
giúp em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này. Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Nguyễn Thị Kim Ngân
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1.1. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.2.1 Huy động vốn
Huy động vốn là hoạt động tạo nguồn vốn cho ngân hàng thương mại, đóng vai trò
quan trọng, ảnh hưởng tới chất lượng hoạt động của ngân hàng. Một ngân hàng thương
6
mại khi được cấp giấy phép thành lập phải có vốn điều lệ theo quy định. Tuy nhiên vốn
điều lệ chỉ đủ để tài trợ cho tài sản cố định như trụ sở, văn phòng, máy móc thiết bị cần
thiết cho hoạt động kinh doanh chứ chưa đủ vốn để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt
động kinh doanh như cấp tín dụng và các dịch vụ ngân hàng khác. Để có vốn phục vụ
cho các hoạt động này ngân hàng phải huy động vốn từ khách hàng.
Theo nghị định 49/ 2000/ NĐ - CP ngày 12/09/2000 của Chính phủ về tổ chức và
hoạt động của ngân hàng thương mại nhằm cụ thể hoá việc thi hành luật các tổ chức tín
dụng, ngân hàng thương mại huy động vốn dưới các hình thức sau:
- Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dựng khác dưới hình thức
tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác.
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác để huy động vốn
của tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước khi được Thống đốc ngân hàng Nhà
nước chấp nhận.
- Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của tổ chức tín dụng
nước ngoài.
- Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam.
1.1.2.2 Hoạt động cấp tín dụng
Hoạt động cấp tín dụng là hoạt động mang lại thu nhập lớn nhất cho hầu hết các
ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại cấp tín dụng cho các tổ chức cá nhân dưới
các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác, bảo lãnh cho thuê tài
chính và các hình thức khác theo quy định của NHNN như bao thanh toán, tài trợ nhập khẩu, tài
trợ xuất khẩu,.... Trong các hoạt động cấp tín dụng thì hoạt động cho vay là hoạt động quan
trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Cho vay : NHTM được cho các tổ chức cá nhân vay vốn dưới các hình thức sau:
- Cho vay ngắn hạn: nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ
- Giúp khai báo thuế (ví dụ: lập tờ khai và áp mã vạch thuế chính xác nhanh chóng nhận
tiền hoàn thuế nếu nộp dư cho cơ quan thuế tạm tính thuế phải nộp).
- Cho vay để thanh toán tiền hàng nhập khẩu cho nhà xuất khẩu nêu đến hạn mà nhà
nhập khẩu chưa có tiền.
- Hỗ trợ về mặt chuyên môn, kỹ thuật từ giúp soạn thảo hợp đồng thương mại mua bảo
hiểm cho suốt quá trình vận chuyển và chuyển giao hàng hoá, theo dõi và kiểm tra hoá
đơn chứng từ và hàng hóa cả về số lượng, quy cách chất lượng.
- Các hỗ trợ khác do sự bất cập về tập quán, luật pháp,…
8
Tài trợ xuất khẩu:
Các hình thức tài trợ xuất khẩu của các NHTM còn phong phú hơn do các doanh
nghiệp xuất khẩu thường nhận được tài trợ từ các NHTM về các giao dịch kinh doanh
cả trước và sau các thương vụ xuất nhập khẩu bao gồm:
- Cho vay thu mua hàng xuất khẩu, mua nguyên vật liệu để sản xuất, cho vay đầu tư
nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm dịch vụ, cho vay bảo trì đối với các dự án
chiến lược về máy móc, thiết bị, nhà xưởng ở nước ngoài.
- Cho vay nộp thuế xuất khẩu.
- Giúp khai báo thuế.
- Hỗ trợ về mặt chuyên môn, kỹ thuật.
- Các hỗ trợ cần thiết khác do sự khác biệt về tập quán, pháp luật,…
- Cho thuê kho bãi để chứa và đóng gói hàng hóa xuất khẩu với giá cả phải thu bảo đảm
rủi ro không thanh toán của bên mua hàng, xếp hạng mức tín dụng và thu hộ.
- Cho vay trên cơ sở bộ chứng từ thanh toán theo phương pháp nhờ thu (ứng trước tiền
hàng xuất khẩu).
- Chấp nhận thanh toán bằng cách ký chấp nhận hối phiếu do doanh nghiệp ký phát.
Cho vay thấu chi:
Nhiều Ngân hàng thương mại, đặc biệt là các chi nhánh NHTM nước ngoài đang mở
rộng nghiệp vụ thấu chi đến các khách hàng có mở tài khoản tại ngân hàng của họ. Khi
sử dụng dịch vụ này, mỗi khách hàng được cấp một hạn mức thấu chi khi khách hàng
tạm thời thiếu hụt trong thanh toán. Khách hàng không cần phải thế chấp hay tín chấp.
1.1.2.4. Các hoạt động khác
Ngoài các hoạt động truyền thống bao gồm hoạt động tiền gửi, cấp tín dụng và
cung cấp dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, NHTM còn thực hiện một số các hoạt động
khác bao gồm:
Góp vốn mua cổ phần: Ngân hàng thương mại được dùng vốn điều lệ và quỹ dự
trữ để góp vốn mua cổ phần của các doanh nghiệp và các TCTD khác trong nước theo
quy định của pháp luật. Ngoài ra, NHTM còn góp vốn mua cổ phần và liên doanh với
ngân hàng nước ngoài để thành lập ngân hàng liên doanh.
Tham gia thị trường tiền tệ: Ngân hàng thương mại được tham gia thị trường tiền
tệ theo quy định của NHTM thông qua các hình thức mua bán các công cụ của thị
trường tiền tệ.
10
Kinh doanh ngoại hối: Ngân hàng thương mại được phép trực tiếp kinh doanh
hoặc thành lập công ty trực thuộc để kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường trong
nước và thị trường quốc tế.
Uỷ thác và nhận uỷ thác: Ngân hàng thương mại được uỷ thác, nhận uỷ thác làm
đại lý trong các lĩnh vực có liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài
sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đồng uỷ thác, đại lý.
Cung ứng dỊch vỤ bẢo hiỂm: NH được cung ứng dịch vụ bẢo hiỂm, đựơc thành
lập công ty trực thuộc hoặc liên doanh để kinh doanh bảo hiểm theo quy định của pháp
luật.
Tư vấn tài chính: Ngân hàng thương mại được cung ứng các dịch vụ tư vấn tài
chính, tiền tệ cho khách hàng dưới hình thức tư vấn trực tiếp hoặc thành lập công ty tư
vấn trực thuộc ngân hàng.
Bảo quản vật quý giá: Ngân hàng thương mại được thực hiện các dịch vụ bảo
quản vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tử két, cầm đồ và các dịch vụ khác có liên quan
theo quy định của pháp luật.
1.2. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG
THƯƠNG MẠI
1.2.1. CÁC HÌNH THỨC HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG
♣ Thủ tục mở TK:
Hiện nay, hầu hết các NHTM đều khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho
khách hàng, kể cả khách hàng cá nhân và khách hàng tổ chức được mở tài khoản tiền
gửi thanh toán tại ngân hàng. Để mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại NHTM, khách
hàng cần làm các thủ tục sau đây:
- Đối với KH cá nhân chỉ cần điền vào mẫu giấy đề nghị mở TKTG cá nhân, đăng
ký chữ ký mẫu, xuất trình và nộp bản sao giấy chứng minh nhân dân.
- Đối với KH tổ chức chỉ cần điền vào mẫu giấy đề nghị mở TK TGTT, đăng ký
mẫu chữ ký và mẫu con dấu của người đại diện, xuất trình và nộp bản sao các
giấy tờ chứng minh tư cách đại diện hợp pháp của chủ TK.
Đối với KH là đồng chủ TK cần điền và nộp giấy đề nghị mở TK đồng sở hữu, các giấy
tờ chứng minh tư cách đại diện hợp pháp của người đại diện cho tổ chức tham gia tài
khoản đồng sở hữu, văn bản thoả thuận quản lý và sử dụng TK chung của các đồng chủ
TK
2.2.1.2. Huy động vốn qua tài khoản tiền gửi cá nhân
12
Tài khoản tiền gửi cá nhân, như tên gọi của nó, được mở cho khách hàng cá
nhân có nhu cầu sử dụng. Loại tài khoản này thích hợp cho cá nhân có nhu cầu nhận
chuyển tiền vào tài khoản, chẳng hạn nhận tiền lương hàng tháng, nhận chuyển
tiền từ nước ngoài hoặc cá nhân khác trong nước. Khi nhận chuyển tiền, khách
hàng được ghi “Có” vào tài khoản, ngược lại khi rút tiền tài khoản được ghi “Nợ”. Số
dư trên TK này là “số dư có” phản ánh số tiền khách hàng còn gửi ở ngân hàng. Đây
chính là nguồn vốn ngân hàng có thể huy động qua tài khoản này.
Thông thường số dư tài khoản này tăng lên khi khách hàng nhận tiền lương vào thời
điểm nhận tiền lương và giảm dần khi khách hàng rút tiền về chi tiêu. Mặc dù số dư trên
tài khoản tiền gưỉ cá nhân thường không lớn nhưng với số lượng tài khoản rất lớn, kết
quả là ngân hàng có thể huy động được khối lượng vốn đáng kể
2.2.1.3 Huy động vốn qua tiền gửi có kỳ hạn của các doanh nghiệp, các tổ chức xã
hội: là những khoản tiền mà các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội gửi ở ngân
hàng sẽ được chi trả trong một khoảng thời gian nhất định. Đây là nguồn vốn ổn
được số lượng khách hàng khá lớn thì tong khối lượng vốn huy động hình thức tiền gửi
này có thể trở nên đáng kể.
B. Tiết kiệm có kỳ hạn : được thiết kế dành cho KH cá nhân và tổ chức có nhu cầu gửi
tiền vì mục tiêu an toàn, sinh lời và thiết lập được kế hoạch sử dụng tiền trong tương
lai.
Đối tượng KH chủ yếu của loại TG này là các cá nhân muốn có thu nhập ổn định
và thường xuyên, đáp ứng cho việc chi tiêu hàng tháng hoặc hàng quý. Đa số KH thích
lựa chọn hình thức gửi tiền này là công nhân, viên chức hưu trí. Mục tiêu quan trọng của
họ khi chọn lựa hình thức gửi tiền này là lợi tức có được theo định kỳ. Do vậy, lãi suất
đóng vai trò quan trọng để thu hút được đối tượng khách hàng này.
Lãi suất trả cho loại TGTK định kỳ cao hơn lãi suất trả cho loại TG không kỳ hạn.
Ngoài ra, mức lãi suất còn thay đổi tuỳ theo loại kỳ hạn gửi (3, 6, 9 hay 12 tháng), tuỳ
theo loại đồng tiền gửi TK (VND, USD, EUR hay vàng), và tuỳ theo uy tín và rủi ro của
NH nhận tiền gửi.
Về thủ tục mở sổ, theo dõi hoạt động và tính lãi cũng tiến hành tương tự như tiền
gửi TK không kỳ hạn, chỉ khác ở chỗ khách hàng chỉ được rút tiền gửi theo đúng kỳ hạn
đã cam kết, không được phép rút tiền trước hạn. Tuy nhiên, để khuyến khích và thu hút
khách hàng gửi tiền đôi khi NH cho phép khách hàng được rút tiền gửi trước hạn nếu có
nhu cầu, nhưng khi đó khách hàng bị mất tiền lãi hoặc chỉ được trả lãi theo lãi suất TG
không kỳ hạn.
TGTK kỳ hạn có thể phân chia thành nhiều loại. Căn cứ vào thời hạn có thể chia
thành TG kỳ hạn 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng, 4 tháng, 5 tháng 6 tháng, 7, 8, 9, 10, 11
14
tháng, 12 tháng và 13 tháng hoặc lâu hơn đến 36 tháng . Căn cứ vào phương thức trả lãi
có thể chia thành:
• Tiền gửi kỳ hạn lĩnh lãi đầu kỳ.
• Tiền gửi kỳ hạn lĩnh lãi cuối kỳ
• Tiền gửi kỳ hạn lĩnh lãi theo định kỳ (tháng hoặc quý).
Việc phân chia tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn thành nhiều loại khác nhau làm cho sản
phẩm tiền gửi của ngân hàng trở nên đa dạng và phong phú có thể đáp ứng được nhu
tái cấp vốn cho các NHTM bằng cách:
+ Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng: Là hình thức tái cấp vốn của NHNN cho các
ngân hàng thương mại đã cho vay đối với khách hàng.
+ Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác chưa
đến hạn thanh toán của khách hàng.
- Vay bổ sung thanh toán bù trừ: Nhằm tăng khả năng thanh toán của ngân hàng
thương mại. NHNN thực hiện chức năng làm trung gian thanh toán giữa các NHTM và
cho vay thấu chi đối với NHTM tạm thời thiếu hụt vốn thanh toán.
Tuy nhiên, NHTM có thể đi vay NHNN trong một số trường hợp sau: NHTM mất
khả năng thanh toán, có khả năng gây mất an toàn cho môi trường kinh doanh ngân
hàng, được chính phủ cho phép chỉ định vay NHNN để cho vay một số mục tiêu cụ thể.
* Vay của các tổ chức tín dụng khác
Như ta đã biết, các NHTM là doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ và
cũng như những doanh nghiệp khác thường xảy ra trường hợp thừa hoặc thiếu vốn. Trên
thực tế có những NHTM huy động được nhiều vốn nhưng lại chưa cho vay hết dẫn đến
tình trạng thừa vốn ngược lại huy động được ít nhưng lại có nhu cầu cho vay nhiều dẫn
đến tình trạng thiếu vốn. Trong trường hợp ngân hàng huy động được nhiều vốn mà
không cho vay được sẽ gây ra tình trạng ứ đọng vốn trong khi vẫn phải trả lãi cho người
gửi tiền, điều này hoàn toàn không có lợi cho ngân hàng.hàng. Để giảm chi phí và có lợi
các NHTM thừa vốn sẽ cho các TCTD thiếu vốn vay, còn đối với NHTM thiếu vốn khi
chưa huy động đủ vốn hay chưa vay được của NHNN họ có thể đi vay của các TCTD
thừa vốn để có nguồn vốn cho vay và giữ được uy tín, tăng lợi nhuận của mình.
1.2.1.6. Huy động vốn khác
Thông qua quá trình làm trung gian thanh toán, NHTM tạo ra một khoản vốn gọi là
vốn trong thanh toán như: Vốn trên tài khoản ký quỹ mở thư tín dụng, tiền gửi thanh
toán séc, tiền gửi ký quỹ. Thông qua nghiệp vụ đại lý, NHTM cũng thu hút được một
lượng vốn đáng kể trong quá trình thu chi hộ khách hàng. Do việc phát tiền vay được
thực hiện theo tiến độ công việc nên ngân hàng có thể sử dụng tạm thời khoản đó vào
kinh doanh. Nguồn vốn này chiếm tỷ trọng không lớn, song nó có chi phí đầu vào thấp.
16
vốn huy động quyết định việc mở rộng kinh doanh của ngân hàng về cả chiều rộng lẫn
chiều sâu.
Thứ tư, vốn huy động quyết định năng lực cạnh tranh của NHTM. Cạnh tranh giữa
các ngân hàng ngày càng diễn ra gay gắt, nhất là cạnh tranh thông qua lãi suất, phí dịch
17
vụ và qua chất lượng sản phẩm. Khi có nguồn vốn dồi dào, ngân hàng có thể mở rộng
quan hệ kinh doanh với tất cả các thành phần kinh tế, từ đó đã dạng hóa các loại hình
kinh doanh của mình, một mặt phân tán được rủi ro, mặt khác gia tăng được nguồn thu
cho ngân hàng. Nhờ vậy uy tín của ngân hàng sẽ tăng lên, có điều kiện cải tiến, hiện đại
hóa công nghệ ngân hàng và do đó tăng khả năng cạnh tranh trên thương trường.
Với những vai trò hết sức quan trọng như vậy, các ngân hàng cần quan tâm tìm
mọi biện pháp để thực hiện tốt các mặt hoạt động kinh doanh trong đó có hoạt động huy
động vốn.
1.3. VẤN ĐỀ VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN
1.3.1. KHÁI NIỆM
Huy động vốn được coi là hiệu quả khi thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ và phát huy
tốt vai trò trong hoạt động kinh doanh của NHTM, hay nói cách khác huy động vốn
được coi là hiệu quả khi lượng vốn huy động được coi là lớn nhất với chi phí bỏ ra là ít
nhất.
Hiệu quả huy động vốn là phạm trù phản ánh trình độ và khả năng đảm bảo thực
hiện nhiệm vụ của mình có hiệu quả cao với chi phí nhỏ nhất. Có nghĩa là về mặt lượng,
hiệu quả huy động vốn biểu hiện qua kết quả thu được và chi phí bỏ ra; về mặt chất, nó
phản ánh năng lực và trình độ quản lý của ngân hàng.
1.3.2. CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN
CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.3.2.1. Chi phí huy động vốn
a. Lãi suất huy động
Lãi suất huy động luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các chủ thể kinh tế.
Người gửi muốn một lãi suất cao, người vay lại muốn lãi suất thấp. Là trung gian đóng
vai trò cầu nối giữa hai đối tượng trên, ngân hàng phải tìm cách điều chỉnh mức lãi suất
=
Trong đó:
f
C
: Tỷ lệ chi phí cho một đơn vị vốn huy động
H§
C
: Tổng chi phí (lợi tức trả cho người gửi tiền, chi phí quản lý, quảng cáo)
H§
V
: Vốn huy động
Chỉ tiêu này phản ánh: để huy động được một đồng vốn cần bao nhiêu đồng chi phí.
Chỉ tiêu này càng nhỏ càng có hiệu quả.
Bên cạnh đó, chi phí huy động còn được đánh giá thông qua chênh lệch lãi suất
bình quân (chênh lệch giữa lãi suất đầu ra và lãi suất đầu vào).
1.3.2.2. Tính ổn định của nguồn vốn
Tính ổn định ở đây bao gồm ổn định về khối lượng, tốc độ tăng trưởng, cơ cấu
nguồn vốn.
19
Thực vậy, công tác huy động vốn không thể có hiệu quả khi mà nguồn vốn huy
động được lại không đạt được quy mô nhất định theo kế hoạch huy động của ngân hàng
hay không đáp ứng được nổi nhu cầu về khối lượng vốn cho kinh doanh, cơ cấu vốn của
ngân hàng lại không có sự hợp lý giữa các nguồn vốn huy động ngắn hạn, trung hạn và
dài hạn, giữa vốn ngoại tệ và vốn nội tệ. Đối với ngân hàng, do mỗi nguồn vốn có
những điểm mạnh, điểm yếu riêng trong việc khai thác và huy động nên cơ cấu vốn biến
đổi sẽ dẫn tới sự biến đổi trong cơ cấu “đầu ra”: Cho vay, đầu tư, bảo lãnh và kéo theo
sự thay đổi trong lợi nhuận, rủi ro trong hoạt động kinh doanh. Cơ cấu nguồn vốn huy
động phụ thuộc không chỉ vào một phần kế hoạch của ngân hàng mà còn chịu sự tác
động của các nhân tố bên ngoài đòi hỏi ngân hàng phải thường xuyên nghiên cứu tiếp
cận thị trường.
V
: Vốn cho vay
T§
V
: Vốn đầu tư
20
KD
V
: Vốn kinh doanh
+ Hệ số vốn bị rủi ro
%100x
V
RR
V
KD
Rr
=
Trong đó:
Rr
V
: Hệ số vốn rủi ro
RR : Vốn rủi ro
KD
V
: Vốn kinh doanh
+ Mức độ thuận tiện khách hàng: Được đánh giá qua các thủ tục gửi tiền, rút tiền,
các dịch vụ kèm theo của ngân hàng,…nhằm tiết kiệm được thời gian và chi phí cho
khách hàng.
+ Thời gian để huy động một số lượng vốn nhất định.
+ Một số chỉ tiêu khác như: Số lượng vốn bị rút ra trước thời hạn, kỳ hạn thực tế
1.3.3.1. Đối với ngân hàng
Vốn huy động là dòng máu duy trì sự tồn tại và phát triển cho ngân hàng, huy động
vốn hiệu quả là yêu cầu thiết yếu đối với hoạt động của bất cứ ngân hàng nào. Đặc biệt
trong bối cảnh kinh tế hiện nay, khi mà có sự cạnh tranh trên thị trường ngân hàng này
càng gay gắt thì huy động vốn có hiệu quả là vấn đề cấp bách cho mỗi ngân hàng. Huy
động vốn có hiệu quả giúp cho ngân hàng giảm tối đa những chi phí không cần thiết,
đồng thời vẫn đảm bảo sự hài lòng của khách hàng, như vậy giúp chi phí huy động vốn
của ngân hàng giảm, lợi nhuận của ngân hàng trong hoạt động kinh doanh tăng lên, góp
phần giúp ngân hàng không ngừng phát triển. Hiện nay hiệu quả huy động vốn của các
NHTM vẫn chưa cao, chi phí trên mỗi đồng vốn còn lớn, trong khi đó nguồn vốn thực tế
ngân hàng có thể sử dụng lại không lớn do chính sách tiền tệ thắt chặt hiện nay của nhà
nước ta, đây là một thực tế mà các NHTM Việt Nam phải quan tâm để nâng cao hiệu
quả hoạt động kinh doanh của mình.
Không chỉ thế, nâng cao hiệu quả huy động vốn còn giúp ngân hàng huy động
được tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư với những hình thức huy động phong phú,
đa dạng, với những tiện ích của các dịch vụ kèm theo của ngân hàng.
1.3.3.2. Đối với khách hàng
Mục tiêu của việc nâng cao hiệu quả huy động vốn của các NHTM không chỉ là
huy động được nhiều vốn mà còn là sự hài lòng tối đa của khách hàng. Với các biện
pháp huy động vốn hiện dại, phong phú, với những tiện ích do các dịch vụ mà ngân
hàng cung cấp mang lại, khách hàng sẽ ngày càng thỏa mãn hơn khi đến với ngân hàng.
22
Bằng các hình thức huy động vốn phong phú, lãi suất linh hoạt, các nhu cầu đa
dạng của khách hàng sẽ được thỏa mãn, dịch vụ chăm sóc khách hàng được đẩy mạnh
tạo cho khách hàng một cảm giác thân quen, gần gũi với ngân hàng, bên cạnh đó còn có
hoạt động Marketing cung cấp cho khách hàng những thông tin bổ ích, giúp khách hàng
lựa chọn sản phẩm phù hợp với điều kiện của bản thân. Với sự tiện lợi mà ngân hàng
mang lại cuộc sống của mọi người dân sẽ trở nên dễ dàng hơn, các hoạt động thanh
toán, chi trả, nhu cầu tích lũy, an toàn của dân cư cũng trở nên thuận tiện hơn.
1.3.3.3. Đối với kinh tế - xã hội đất nước
ngân hàng thương mại đối với một khách hàng,…Có những bộ luật tác động gián tiếp
đến hoạt động ngân hàng như luật đầu tư nước ngoài.
Bên cạnh đó những bộ luật đó thì chính sách tài chính tiền tệ của một quốc gia
cũng ảnh hưởng rất lớn đến nghiệp vụ tạo vốn của NHTM. Nó thể hiện ở các khía cạnh:
* Mục tiêu của chính sách tiền tệ
Mục tiêu của chính sách tiền tệ bao gồm: Kiểm soát lạm phát, bình ổn giá cả, tăng
trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm. Tùy thuộc vào việc thực hiện mục tiêu của chính
sách tiền tệ mà sự ảnh hưởng của nó đến nghiệp vụ tạo vốn của NHTM khác nhau.
Chẳng hạn, khi nền kinh tế lạm phát tăng, NHTW đưa ra chính sách tiền tệ thắt chặt tức
là NHTW sẽ tìm mọi biện pháp nhằm hạn chế lượng cung tiền ra thị trường, tăng cường
hút vốn từ thị trường. Bằng các biện pháp của mình như tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, hạn
chế cho các NHTM, tăng lãi suất chiết khấu, điều này sẽ khiến cho các NHTM có thể
huy động vốn dễ dàng hơn.
* Việc sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ
Trong quá trình vận hành các công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của ngân
hàng trung ương, mỗi một công cụ đều tác động đến nghiệp vụ huy động vốn của ngân
hàng thương mại cụ thể:
- Dự trữ bắt buộc: Dự trữ bắt buộc là số tiền ngân hàng thương mại phải duy trì trên
tài khoản tiền gửi tại ngân hàng TW, là công cụ của NHTW để điều khiển khối lượng
tiền lưu thông, thông qua tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc do NHTW quy
định từng thời kỳ cho từng loại tiền gửi mà hạn chế bội số tạo tiền của NHTM, đảm bảo
24
tính an toàn của ngân hàng. Dự trữ bắt buộc cùng với hệ số thanh khoản cao sẽ đảm bảo
sự an toàn cho toàn hệ thống ngân hàng.
- Chính sách tái chiết khấu: chính sách tái chiết khấu bao gồm các quy định và
điều kiện cho vay của NHNN đối với các NHTM. NHNN cho vay ngắn hạn trên cơ sở
chiết khấu các chứng từ có giá ngắn hạn; chủ yếu là tín phiếu kho bạc và thương phiếu.
Các NHTM đi vay NHTW nhằm bù đắp hoặc bổ sung nhu cầu vốn khả dụng.
Trong công cụ này NHTW ấn định hạn mức tái chiết khấu, lãi suất chiết khấu và
các điều kiện tái chiết khấu. Những biến động này chỉ tác động đến các NHTM có nhu