1
Lời nói đầu
Lời nói đầuLời nói đầu
Lời nói đầu
Sau nhiều thập kỷ xây dựng và phát triển kinh tế, Việt Nam đang trong quá
trình tiến hành công cuộc đổi mới, nền kinh tế đang dần dần khởi sắc: Tốc độ
tăng trởng ngày càng cao, lạm phát đợc kiềm chế, sản xuất phát triển, đời sống
nhân dân đợc cải thiện rõ rệt.
Hoà nhịp vào sự tăng trởng mạnh mẽ của nền kinh tế Đất nớc, hệ thống
ngân hàng Việt Nam đang tiến hành công cuộc đổi mới, hiện đại hoá trong quản
lý và hoạt động nghiệp vụ nhằm xứng đáng là Trung tâm của hệ thống tiền tệ
quốc gia. Sự phát triển của nền kinh tế đòi hỏi phải có sự đầu t rất lớn từ nội bộ
nền kinh tế và bên ngoài. Tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế có ý nghĩa rất quan
trọng, đó là tiền đề là điều kiện để có thể tiếp nhận và sử dụng các nguồn vốn bên
ngoài đạt hiệu quả đồng thời để tăng thêm tính độc lập tự chủ của nền kinh tế.
Hiện nay, ở nớc ta, hầu hết các doanh nghiệp có vốn nhỏ, máy móc, thiết
bị công nghệ lạc hậu...và đang rất cần nguồn vốn đầu t nớc ngoài để cải tiến,
nâng cao chất lợng sản xuất. Mặc dù thị trờng chứng khoán Việt Nam ra đời,
đã tạo kênh dẫn vốn trực tiếp tới các doanh nghiệp và xã hội. Nhng vai trò của
Ngân hàng Thơng mại trong việc đầu t cho tăng trởng và phát triển kinh tế
vẫn chiếm vị trí rất quan trọng. Hệ thống ngân hàng vẫn là kênh dẫn vốn chính
trong nền kinh tế. Cho nên hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Thơng mại ảnh
hởng lớn đến hiệu quả của nền kinh tế.
Sở giao dịch I NHNo&PTNT Việt Nam đã và đang tích cực tìm kiếm, triển
khai các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, xây dựng cơ cấu nguồn
vốn hợp lý, khai thác tiềm năng về vốn để đảm bảo nguồn vốn ổn định, từ đó, sử
dụng vốn có hiệu quả là mục tiêu hàng đầu đặt ra cho Ngân hàng. Sự phát triển
Cơ sở lí luận về hiệu quả sử dụng vốn
Cơ sở lí luận về hiệu quả sử dụng vốn Cơ sở lí luận về hiệu quả sử dụng vốn
Cơ sở lí luận về hiệu quả sử dụng vốn của Ngân hàng thơng mại .
của Ngân hàng thơng mại .của Ngân hàng thơng mại .
của Ngân hàng thơng mại . 1.1. Khái quát về Ngân hàng Thơng mại.
1.1.1. Khái niệm - Đặc điểm của Ngân hàng thơng mại.
1.1.1.1. Khái niệm.
Ngân hàng thơng mại đã có một quá trình hình thành và phát triển lâu
dài. Ngay nửa đầu thế kỷ 16, ở Châu Âu đã ra đời một số ngân hàng đầu tiên mà
tiền thân là những tổ chức cho vay nặng lãi. Vào thời điểm này, ngân hàng phát
triển ở trình độ thấp, hoạt động của ngân hàng chỉ gói gọn trong lĩnh vực giữ hộ
tiền và cho vay. Cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế, hoạt động
của ngân hàng thơng mại cũng đợc từng bớc đợc củng cố và hoàn thiện,
chuyển hoá dần theo hớng đa năng. Tuy nhiên đến nay cha có một khái niệm
thống nhất về ngân hàng thơng mại do các nhà kinh tế nhận thấy có những khó
khăn trong việc định nghĩa ngân hàng, bởi quan niệm về ngân hàng thay đổi
trong không gian (tập quán và phong tục của mỗi nớc) và trong thời gian (theo
đà tiến triển kinh tế-xã hội). Theo một số chuyên gia về ngân hàng trên thế giới
thì ngân hàng trong nền kinh tế trên thị trờng đợc quan niệm là Ngân hàng là
một doanh nghiệp đặc biệt hoạt động trong lĩnh vực tài chính tiền tệ, tuân thủ
theo pháp luật theo đuổi mục tiêu lợi nhuận . Theo luật các tổ chức tín dụng của
Việt Nam đợc Quốc hội nớc Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ
họp thứ 2 thông qua ngày 12/12/1997 Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng
mại phải đối mặt với rủi ro cao, kéo theo là rủi ro đối với những ngời gửi tiền ở
ngân hàng thơng mại cũng nh rủi ro đối với nền kinh tế. Để tránh rủi ro đáng
tiếc xảy ra, nhằm kiểm soát, làm giảm nhẹ những tổn hại do ngân hàng vỡ nợ gây
5
ra, chính phủ các quốc gia dặt ra những đạo luật riêng, nhằm đẩm bảo cho hoạt
động này đợc vận hành an toàn, hiệu quả trong nền kinh tế thị trờng.
1.1.2. Chức năng của ngân hàng thơng mại trong nền kinh tế thị trờng.
Tầm quan trọng của Ngân hàng thơng mại đợc thể hiện qua các chức
năng của nó. Các nhà kinh tế học đã ví ngân hàng thơng mại là trái tim của nền
kinh tế. Ngân hàng hút tiền về, bơm tiền đi vì thế các nguồn vốn nhàn rỗi đợc
khơi thông đa tiền từ nơi thừa đến nơi thiếu, giúp cho quá trình lu chuyển tiền
tệ một cách hiệu quả. Các chức năng của ngân hàng thơng mại có thể đợc nêu
ra dới nhiều khía cạnh khác nhau, nhng bao gồm ba chức năng chủ yếu: chức
năng trung gian tín dụng, trung gian thanh toán, chức năng tạo tiền của ngân
hàng thơng mại.
1.1.2.1. Ngân hàng Thơng mại - trung gian tín dụng
Đây là chức năng đặc trng và cơ bản nhất của Ngân hàng Thơng mại và
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Thực
hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng là cầu nối giữa cung và cầu vốn
trong nền kinh tế, khơi nguồn vốn từ những ngời có vốn nhàn rỗi sang những
ngời có nhu cầu về vốn.
Trong nền kinh tế, do các đơn vị kinh tế có nhu cầu về tiền, vốn vào thời
điểm khác nhau là khác nhau, gây ra hiện tợng thừa, thiếu tạm thời. Ngân hàng
Thơng mại là ngời trung gian có vai trò chuyển đổi kỳ hạn nợ, thay đổi thời kỳ
đáo hạn của các khoản, món nợ.
Ngân hàng Thơng mại huy động và tập trung các nguồn vốn tiền tệ tạm thời
nhàn rỗi của các chủ thể trong nền kinh tế để hình thành nguồn vốn cho vay; mặt
khác, trên cơ sở số vốn đã huy động đợc, ngân hàng cho vay để đáp ứng nhu cầu
vốn sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng, của các chủ thể kinh tế góp phần đảm bảo
nghệ hiện đại hơn, các NHTM từng bớc trang bị đầy đủ các máy vi tính và các
7
phơng tiện kỹ thuật khác tạo điều kiện, thanh toán bù trừ đợc nhanh chóng
giảm bớt chi phí và có độ chính xác cao. Quá trình lu thông chuyển vốn từ tài
khoản ngời mua sang tài khoản ngời bán có một đặc điểm phi vật chất. Bằng
chứng là ở các nớc, công nghiệp phát triển sử dụng hình thức chuyển tiền bằng
điện tử là chuyện bình thờng. Họ thanh toán bằng nối mang các máy vi tính của
các Ngân hàng Thơng mại trong nớc nhằm thực hiện chuyển vốn từ tài khoản
ngời mua sang tài khoản ngời bán một cách nhanh chóng tiện lợi.
Nh vậy Ngân hàng đã tiết kiệm cho xã hội rất nhiều về chi phí lu thông,
đẩy nhanh tốc luận chuyển vốn, thúc đẩy quá trình lu thông hàng hoá.
1.1.2.3. Chức năng tạo ra tiền Ngân hàng trong hệ thống Ngân hàng hai
cấp.
Vào thế kỷ 19, hệ thống Ngân hàng hai cấp đã đợc hình thành, các Ngân
hàng không còn hoạt động riêng lẻ mà đã tạo nên một hệ thống, trong đó Ngân
hàng Trung ơng là cơ quan quản lý, về tiền tệ tín dụng là Ngân hàng của các
Ngân hàng còn các Ngân hàng Thơng mại, chuyên kinh doanh tiền tệ.
Nhờ hoạt động trong hệ thống mà các Ngân hàng Thơng mại đã tạo ra bút
tệ. Việc tạo ra bút tệ là sáng kiến quan trọng trong lịch sử hoạt động Ngân hàng;
Chức năng tạo ra bút tệ đợc thực hiện thông qua hoạt động tín dụng và đầu t
của Ngân hàng Thơng mại trong mối quan hệ tuỳ thuộc vào Ngân hàng trung
ơng. Nhờ nhận tiền ký thác của khách hàng, Ngân hàng Thơng mại có khả
năng đầu t. Nhng khi đầu t, Ngân hàng tạo ra tiền ký thác mới, còn gọi là tiền
bút tệ, tiền chuyển khoản Ngân hàng Thơng mại trở thành ngời cung ứng tiền
bút tệ quan trọng, trong nền kinh tế.
Với hàng loạt các nhân tố tác động ảnh hởng đến quá trình tạo tiền, các
nhà kinh tế đờng thời đã đa ra nhiều côg thức hoàn chỉnh. Chẳng hạn nh
công thức sau của giáo s ngời Pháp ...P.F. LEHAMAN.
9
Cùng với sự phát triển của Ngân hàng Thơng mại, hoạt động và các dịch
vụ của Ngân hàng Thơng mại ngày càng đợc mở rộng. Nhng nhìn chung,
hoạt động của Ngân hàng Thơng mại gồm ba hoạt động chính là hoạt động
động vốn, hoạt động sử dụng vốn và các hoạt động trung gian.
* Hoạt động huy động vốn : Là hoạt động khởi đầu cho các hoạt động
khác của ngân hàng thơng mại. Ngân hàng Thơng mại bản chất là một tổ chức
trung gian tài chính có đặc điểm hoạt động chủ yếu không phải bằng nguồn vốn
chủ sở hữu, vì vậy để có nguồn vốn hoạt động, cung cấp vốn cho nền kinh tế thì
ngoài nguồn vốn chủ sở hữu, ngân hàng thơng mại phải huy động những nguồn
vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế thông qua các hoạt đông nhận tiền gửi,
phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, đi vay từ các tổ chức tín dụng khác hay từ Ngân
hàng Trung ơng.
* Hoạt động sử dụng vốn: Sau khi huy động vốn, để bù đắp đợc chí phí
huy động vốn và có lợi nhuận thì ngân hàng thơng mại pahỉ tìm cách sử dụng có
hiệu quả các nguồn vốn này để thu lãi. Đây là hoạt động chủ yếu và đem lại tỷ
trọng thu nhập lớn nhất cho Ngân hàng Thơng mại. Ngân hàng Thơng mại sử
dụng vốn theo các hớng cơ bản là hoạt động tín dụng, đầu t chứng khoán, đầu
t mua sắm tài sản cố định và trang thiết bị, hoạt động ngân quỹ trong đó hoạt
động tín dụng là quan trọng nhất bởi nó đem lại phần lớn thu nhập cho ngân
hàng.
* Các hoạt động trung gian của ngân hàng thơng mại bao gồm hoạt động
thanh toán, hoạt động quản lý tài sản cho khách hàng, hoạt động phát hành chứng
khoán, hoạt động mua bán và bảo quản chứng khoán, hoạt động cung cấp thông
tin, t vấn kinh doanh và quản trị doanh nghiệp Các hoạt động trung gian này
không phải đem lại nguồn thu nhập chủ yếu cho ngân hàng thơng mại nhng nó
có ý nghĩa quan trọng trong việc mở rộng hoạt động huy động và sử dụng nguồn
10
vốn, đồng thời đa dạng hoá hoạt động, giảm bớt rủi ro và tăng thu nhập cho ngân
1.2.1. Nguồn vốn tại Ngân hàng Thơng mại
1.2.1.1. Nguồn vốn tiền gửi
Nguồn vốn tiền gửi là nguồn vốn quan trọng nhất chiếm bộ phận lớn trong
tổng số nguồn vốn của NHTM, thờng chiếm khoảng 50 - 60% nhng hiện nay
tỷ lệ này đang giảm dần.
Theo tính chất giao dịch việc huy động vốn chia làm loại: Tiền gửi giao
dịch và tiền gửi tiết kiệm và nó có thể đợc chia thành dạng ngắn hạn, trung hạn
và dài hạn. Nguồn vốn nằm trên tài khoản thanh toán và tiết kiệm không kỳ hạn
là khá lớn bởi vì nó phục vụ cho nhu cầu thanh toán giao dịch trong nền kinh tế.
Đặc điểm của nguồn vốn này thờng là ngắn hạn, không ổn bởi vì khách hàng có
thể rút tiền trên tài khoản bất kỳ lúc nào họ có nhu cầu. Ngân hàng sử dụng vốn
phải đối phó với rủi ro thanh khoản hoặc sự ứ đọng vốn nhng ngợc lại chi phí
sử dụng nó rất thấp. Việc huy động nguồn vốn tiền gửi phụ thuộc nhu cầu thanh
toán của từng cá nhân. Ví dụ nh những ngày giáp Tết hay Noel, nhu cầu chi tiêu
lớn, khách hàng thờng đến Ngân hàng để rút tiền. Lãi suất cũng có yếu tố quan
trọng có tính cạnh tranh lớn, nhất là trong thời kỳ khan hiếm tiền tệ. Sự thu hút
nguồn tiền gửi phụ thuộc vào mức độ đa dạng hoá dịch vụ trình độ công nghệ
Ngân hàng hiện đại tạo ra sự thuận lợi cho khách hàng. Uy tín, thâm niên, sự
giao tiếp lịch sự của đội ngũ cán bộ công nhân viên ảnh hởng khả năng huy
12
động tiền gửi của Ngân hàng. Ngoài ra khả năng sử dụng vốn nh khả năng cho
vay, khả năng đầu t sẽ ảnh hởng gián tiếp trong việc huy động nguồn vốn.
1.2.1.2. Nguồn vốn đi vay
Ngân hàng Thơng mại có thể đi vay từ NHNN, các tổ chức tín dụng khác
có thể vay trên thị trờng vốn và thị trờng tiền tệ.
Khi Ngân hàng Thơng mại vay vốn từ NHNN nhằm đảm bảo khả năng
thanh toán, đáp ứng nhu cầu thanh khoản, đáp ứng nhu cầu cấp tín dụng cho các
tổ chức tín dụng trong nền kinh tế. Trong trờng hợp Ngân hàng Thơng mại gặp
thời gian nhất định. Kế toán ngày một hiện đại thì khoảng thời gian này ngày
một rút ngắn, nguồn vốn bị thu hẹp nhng tăng tính cạnh tranh cho Ngân hàng
Thơng mại.
Nguồn vốn hình thành từ các khoản nợ của Ngân hàng nhng cha đến
hạn phải trả.
Các loại nguồn vốn này thờng chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ, Ngân hàng có thể
chủ động sử dụng ít chịu sự rủi ro.
1.2.1.4. Vốn chủ sở hữu và các quỹ
Trớc khi bớc vào hoạt động, mỗi Ngân hàng đều có một khoản vốn nhất
định nhiều hơn hoặc bằng với vốn pháp định do Nhà nớc đặt ra, gọi là vốn điều
lệ. Đối với Ngân hàng quốc doanh, vốn điều lệ thờng do ngân sách Nhà nớc
cấp, các Ngân hàng cổ phần do các cổ đông đóng góp. Vốn điều lệ phục vụ cho
việc mở rộng, khởi động Ngân hàng, tạo ra cơ sở vật chất ban đầu để Ngân hàng
14
đi vào hoạt động. Vốn điều lệ thể hiện qui mô, uy tín của Ngân hàng. Tỷ lệ vốn
nhỏ chỉ chiếm 5 -10% tổng nguồn vốn. Thờng các Ngân hàng cổ phần sau một
thời gian hoạt động muốn nâng vốn điều lệ lên bằng cách phát hành thêm cổ
phiếu các nguồn vốn bổ sung đợc trích trên cơ sở lợi nhuận không chia lợi
nhuận sau thuế, hoặc tăng nguồn vốn này bằng cách phát hành trái phiếu Ngân
hàng. Vốn sở hữu của Ngân hàng nh một cái đệm chống đỡ sự sụt giảm giá trị
của những tài sản có của Ngân hàng.
Trong Ngân hàng hình thành lên nhiều quĩ dự phòng rủi ro, quĩ phúc lợi
nhằm bảo vệ quyền lợi của ngời gửi tiền, hạn chế rủi ro cho các cơ quan bảo
hiểm, đảm bảo thanh khoản và cung cấp một phần tài sản có bù đắp thua lỗ.
Tóm lại, để có một cơ cấu nguồn vốn tối u đảm bảo yêu cầu ổn định cho
việc sử dụng và tối thiểu hoá chi phí đòi hỏi Ngân hàng phải xét đến các yếu tố
về khả năng huy động vốn trong dân c, uy tín Ngân hàng... đồng thời phải quan
tâm đến vấn đề đầu ra. Tránh tình trạng vốn huy động đợc từ các nguồn vốn
ngắn hạn không thể cho vay trung và dài hạn đợc hay tình trạng ứ đọng vốn do
khoán, Ngân hàng Thơng mại chủ yếu mua các trái phiếu
kho bạc, các trái
phiếu có tính thanh khoản cao. Đây là những công cụ chính của thị trờng tiền tệ
tài chính. Việc mua và dự trữ các loại trái phiếu này một mặt tạo ra thu nhập cho
ngân hàng, mặt khác chúng là những công cụ tài chính dễ lu động hoá, vì vậy
khi cần tiền ngân hàng có thể bán hoặc chiết khấu ở ngân hàng khác hoặc ở
NHNN.
1.2.2.3. Tiền cho vay
16
Cho vay là một hoạt động kinh doanh chủ chốt của Ngân hàng Thơng mại
để tạo ra lợi nhuận. Chỉ có lãi suất thu đợc từ cho vay mới bù nổi chi phí tiền
gửi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh quản lý, chi phí vốn trôi nổi, chi phí thuế
các loại và các chi phí rủi ro đầu t.
Kinh tế càng phát triển, hớng cho vay của các Ngân hàng Thơng mại
càng tăng và loại hình cho cũng trở nên vô cùng đa dạng. ở hầu hết các nớc
công nghiệp trong nhóm 10 và 15 nớc hàng đầu thế giới, cho vay của các Ngân
hàng Thơng mại đã chuyển dần từ cho vay ngắn hạn sang cho vay dài hạn. Khu
vực cho vay ngắn hạn nhờng chỗ cho thị trờng tiền tệ tài chính cung ứng.
Ngợc lại hầu hết các nớc đang phát triển cho vay ngắn hạn vẫn chiếm bộ phận
lớn hơn cho vay dài hạn, xuất phát từ chỗ thiếu an toàn cho các khoản đầu t dài
hạn.
Nhng nói chung, lợi nhuận chủ yếu của Ngân hàng vẫn là hoạt động cho
vay hay nói rộng ra là hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thơng mại 67% tổng
tài sản của Ngân hàng ở dạng tiền cho vay tạo ra hơn 60% thu nhập của Ngân
hàng khác bởi chúng không thể chuyển thành tiền mặt trớc khi các khoản vay
mãn hạn và cũng có xác suất rủi ro vỡ nợ cao hơn.
Theo thời gian, các khoản cho vay có thể chia thành các khoản cho vay
Nh vậy sử dụng vốn là một trong những nghiệp vụ của ngân hàng thơng mại (
nghiệp vụ có ).
Sử dụng vốn bao gồm:
- Dự trữ tiền mặt: Tiền mặt tại kho của ngân hàng
Tiền mặt ký gửi của ngân hàng Trung ơng
- Đầu t vào chứng khoán ( trái phiếu, hối phiếu...)
18
- Cho vay
- Đầu t vào các loại tài sản ( nh bất động sản, cơ sở hạ tầng, trang thiết
bị...)
1.2.3.2. Các chỉ tiêu xác định hiệu quả Sử dụng vốn.
* Tổng d nợ cho vay / Tổng nguồn vốn
Phản ánh cứ một đồng vốn huy động thì có bao nhiêu đồng đợc đem đi cho vay.
* Doanh số cho vay / tổng nguồn vốn kinh doanh
Phản ánh cứ một đồng vốn kinh doanh thì bao nhiêu đồng đợc đem đi cho vay.
1.2.3.3. Các vấn đề liên quan đến việc sử dụng vốn an toàn và hiệu quả
* Quản lý nguồn vốn tại Ngân hàng Thơng mại.
Phân tích cơ cấu nguồn vốn và quản lý nguồn vốn hớng tới mục tiêu ổn
định hoạt động của Ngân hàng và đặc biệt hớng tới lợi nhuận. Nghĩa là, Ngân
hàng phải đạt đợc chiến lợc làm sao tạo nguồn vốn ổn định có thể ổn định sử
dụng. Và xây dựng đợc cơ cấu vốn hợp lý và giảm chi phí vốn ở mức thấp nhất.
Quản lý nguồn vốn về qui mô nghĩa là xem xét Ngân hàng Thơng mại có
khả năng huy động vốn cao nhất là bao nhiêu. Cơ cấu, qui mô từng loại vốn ảnh
hởng tới việc trả lãi Ngân hàng và ảnh hởng tới ổn định hoạt động Ngân hàng
nh thế nào. Các Ngân hàng hiện đại thờng lập ra những bài toán tối u về cơ
cấu nguồn vốn và qui mô từng loại nguồn vốn.
Quản lý chi phí trả lãi là đa chính sách lãi suất huy động phù hợp với
từng thời kỳ trên cở sở chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ơng. Tính toán
tổng chi phí trả lãi - chi đầu vào - để xác định chi đầu ra.
20
đoạn chấn hng, nhu cầu tín dụng tăng vợt mức tăng tiền gửi, khiến Ngân hàng
bán các tài sản lu hoạt.
Kết quả của những biến động này trong nền kinh tế đã tác động đến mức
tiền gửi do đó ảnh hởng trực tiếp đến tính thanh khoản. Vấn đề đặt ra cho Ngân
hàng là phải quản lý thanh khoản.
Quản lý thanh khoản của Ngân hàng xác định nhu cầu khả năng đáp ứng
nhu cầu thanh khoản tín dụng cho khách hàng tại bất kỳ thời điểm nào, tránh tình
trạng khách hàng đến rút tiền ô ạt dẫn đến tình trạng Ngân hàng phá sản. Điều
quan tâm hàng đầu là Ngân hàng phải tính toán các loại tài sản có khả năng
chuyển thành tiền mặt. Việc xác định một mức thanh khoản hợp lý trong từng
thời kỳ là hết sức khó khăn. Ngân hàng phải dự đoán đợc nhu cầu của nền kinh
tế tại các thời điểm khác nhau. Đồng thời dựa vào tỷ lệ dự trữ bắt buộc của Ngân
hàng trung ơng ban hành để có chính sách tín dụng phù hợp. Trong từng trờng
hợp thanh khoản có vấn đề Ngân hàng thờng dùng biện pháp bán đi các chứng
khoán để chuyển đổi nh tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ, trái phiếu và cổ
phiếu của các công ty có chất lợng cao đợc a chuộng trên thị trờng. Tiếp
theo Ngân hàng rút các khoản tiền gửi tại các Ngân hàng thơng mại và tổ chức
tín dụng khác. Trờng hợp khẩn cấp, Ngân hàng phải tiến hành thơng lợng với
các Ngân hàng thơng mại khác để bán đi các khoản tín dụng có chất lợng cao.
Thông báo trì hoãn các khoản nợ sẽ là phơng cách cuối cùng của Ngân hàng
thơng mại.
Để quản lý thanh khoản Ngân hàng phải dựa vào các lí thuyết cơ bản nh
lí thuyết cho vay thơng mại, lí thuyết về khả năng chuyển đổi, lí thuyết về lợi
tức dự tính và các vấn đề về quản lý tình hình dự trữ.
1) Lý thuyết cho vay thơng mại
21
Thanh khoản của một Ngân hàng thơng mại đợc đảm bằng một bộ phận
tài sản biểu hiện dới hình thức cho vay. Bộ phận này đợc lu chuyển trong suốt
ngắn hạn sẽ có nhiều thanh khoản hơn là chovay có kỳ hạn, và cho vay tiêu dùng
trả góp sẽ có nhiều thanh khoản hơn là cho vay đợc đảm bảo bởi bất động sản
nhà cửa.
Lý thuyết này đợc áp dụng và phát triển rất nhanh trong một số loại cho
vay của Ngân hàng thơng mại: cho vay kinh doanh có kỳ hạn, cho vay tiêu
dùng trả góp và cho vay bất động sản nhà cửa. Tất cả những khoản cho vay này
có đặc điểm chung là tăng tính chất thanh khoản của chúng, do chúng có thể
đợc trả dần. Một khoản mục đầu t có nhiều khoản cho vay với sự hoàn trả đều
đặn hàng tháng hoặc hàng quí về số gốc và lãi, thực chất đó là thanh khoản bởi vì
luồng tiền vào ra đều đặn hàng tháng có thể đoán trớc đợc. Khi cần đến thị
trờng ngân quĩ có thể sử dụng. Nếu không nó sẽ bị giữ lại để đảm bảo thanh
khoản trong tơng lai.
Lý thuyết lợi tức dự tính đã khuyến khích nhiều ngân hàng Thơng mại áp
dụng một mô hình bậc thang trong khoản mục vốn đầu t. Có nghĩa là có một sự
xê dịch thời gian đáo hạn nào đó để cho mức khấu hao diễn ra trên cơ sở đều đặn
và có thể dự đoán đợc. Nhợc điểm của lí thuyết này là Ngân hàng có thể bị ảnh
hởng và mức thanh khoản có thể bị suy giảm nếu khách hàng không trả nợ đúng
kỳ hạn hay việc xác định kỳ hạn nợ của khách hàng không hợp lý.
4) Quản lý tình hình dự trữ
Thực chất là quản lý khối lợng tiền sao cho phù hợp với nhu cầu dự trữ
pháp định do Ngân hàng trung ơng qui định. Việc duy trì vốn quĩ gửi tiền mặt
23
trong từng thời gian đoạn hoạt động là hết sức cần thiết. Ngân hàng phải tính
toán một số hệ số quan trọng trong từng thời kỳ
* Hệ số vốn khả dụng =
thángmột vòng trongtrả i phảnợ n khoảTổng
dụng khả Vốn
năng xem xét đánh giá khách hàng. Ngân hàng không dự báo đợc diến biến thị
trờng, tình hình cung cầu các loại sản phẩm. Về phía khách hàng, bản thân họ
không có dự án khả thi, việc đầu t không có căn cứ kinh tế nên việc sử dụng
vốn không hiệu quả. Khách hàng có chủ tâm lừa đảo Ngân hàng, họ có ý định
vay nhng không trả nợ. Các biến động về môi trờng kinh tế chính trị xã hội
trong nớc và nớc ngoài cũng tạo nên rủi ro. Rủi ro cũng xuất phát từ chính
sách kinh tế, thiên tai.
1) Quản lý rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là rủi ro không thu đợc nợ khi đến hạn hoặc Ngân hàng
không cho vay đợc tạo nên đọng vốn nghĩa là Ngân hàng đã chi phí cho các
khoản vay lớn hơn thu nhập từ hoạt động cho vay, thu lỗ. Hoặc Ngân hàng đầu t
vào thị trờng chứng khoán kém hiệu quả, Ngân hàng chỉ có thể bán chứng
khoán với giá thấp hơn giá đi mua hoặc không có khả năng bán đi. Các dự án đầu
t không có khả năng sinh lời.
a. Hệ số rủi ro
H
r
=
vay tiền số Tổng
lời sinh năng khả có khôngvốn Số
H
R
<= 10% tạm đợc
H
r
> 10% Ngân hàng phải xem xét lại
Ngoài ra phải sử dụng một số chỉ tiêu khác để đo lờng rủi ro.
25