ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC HIỆN KẾ HOẠCH KINH DOANH
NĂM 2013 CỦA CÔNG TY TNHH
MTV CẢNG CHÂN MÂY
LÊ THỊ THANH NGA
Khóa học: 2009 - 2013
1
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
THỰC HIỆN KẾ HOẠCH KINH DOANH
NĂM 2013 CỦA CÔNG TY TNHH
MTV CẢNG CHÂN MÂY
Sinh viên thực hiện: Giáo viên hướng dẫn:
Lê Thị Thanh Nga PGS.TS Mai Văn Xuân
Lớp: K43A KHĐT
Niên khóa: 2009 - 2013
Huế, tháng 05 năm 2013
2
Khóa luận tốt nghiệp
Lời Cảm Ơn
Với tình cảm chân thành, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới tất
cả những cá nhân và cơ quan đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và
TH Thực hiện
TNHH Trách nhiệm hữu hạn
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
UBND Ủy ban nhân dân
SVTH: Lê Thị Thanh Nga GVHD: Mai Văn Xuân
Khóa luận tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
SVTH: Lê Thị Thanh Nga GVHD: Mai Văn Xuân
Khóa luận tốt nghiệp
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
SVTH: Lê Thị Thanh Nga GVHD: Mai Văn Xuân
Khóa luận tốt nghiệp
TÓM TẮT NGHIÊN CỨU
Cảng Chân Mây được đánh giá hiện là một doanh nghiệp vừa đang trên đà phát
triển, chuyên cung cấp các dịch vụ ngành hàng hải, đã đạt được hiệu quả tài chính
trong vài năm gần đây và có hiệu quả xã hội rất cao, góp một phần vào công cuộc giải
quyết nhu cầu việc làm của tỉnh Thừa Thiên Huế, tăng ngân sách của tỉnh và quan
trọng là thay đổi được bộ mặt phát triển của địa phương. Để có thể phát triền được như
ngày hôm nay, mỗi năm công ty đã phải đầu tư nghiên cứu thị trường, đánh giá các tác
động để dự báo sản lượng, doanh thu và chi phí, xác định lợi nhuận cho năm sau. Bài
khóa luận này nhằm để nghiên cứu tình hình thực hiện kế hoạch của công ty và nhận
định bản kế hoạch kinh doanh năm 2013, từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao
tình hình thực hiện cho năm 2013. Bài nghiên cứu dựa trên cơ sở số liệu mà cung cấp
về các chỉ tiêu kế hoạch trong 3 năm 2011, 2012, 2013 và các con số mà công ty đã
thực hiện được 2 năm trước. Với các phương pháp được sử dụng trong bài là phương
pháp duy vật biện chứng để xem xét các hiện tượng trong mối quan hệ qua lại; phương
pháp điều tra thu thập số liệu; phương pháp thống kê mô tả, so sánh; phương pháp dự
báo; đánh giá, nhận định khách quan, chủ quan trên cơ sở biện chứng và khoa học. Kết
quả cuối cùng của bản nghiên cứu cũng chỉ là đưa ra các giải pháp để có thể nâng cao
hiệu quả thực hiện kế hoạch kinh doanh năm 2013 của công ty.
• Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện kế hoạch kinh doanh năm
2013
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
10
SVTH: Lê Thị Thanh Nga GVHD: Mai Văn Xuân
Khóa luận tốt nghiệp
Tình hình xây dựng và thực hiện kế hoạch kinh doanh của công ty trong 3 năm
2011, 2012, 2013.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
• Không gian: Cảng Chân Mây, xã Lộc Vĩnh, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế
• Thời gian: do bị giới hạn về thời gian, trình độ và số liệu nên trong bài khóa luận này
tôi xin nghiên cứu các bản kế hoạch kinh doanh từ năm 2011 - 2013
4. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu của đề tài, trong quá trình nghiên cứu tôi đã sử dụng các
phương pháp sau:
• Phương pháp duy vật biện chứng để xem xét các hiện tượng trong mối quan hệ qua lại
• Phương pháp điều tra thu thập số liệu
• Phương pháp thống kê mô tả, so sánh
• Phương pháp dự báo
• Đánh giá, nhận định khách quan, chủ quan trên cơ sở biện chứng và khoa học
5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cao không chỉ riêng đối với bản thân
công ty TNHH MTV Cảng Chân Mây mà còn đối với các doanh nghiệp trong ngành
vận tải cảng biển. Từ những phân tích trong luận văn mà công ty có thể rút ra những
kinh nghiệm để việc lập kế hoạch cho những lần sau tốt hơn. Bên cạnh đó còn có tham
khảo được một số giải pháp để có thể hoàn thành hay vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch.
6. Kết cấu của luận văn
Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Tính cấp thiết của đề tài
hội và tạo ra lợi nhuận cho các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh. Bản chất của
hoạt động kinh doanh là tạo ra giá trị cho các loại sản phẩm và dịch vụ. Giá trị của sản
phẩm và dịch vụ được tạo ra nhờ vào các giá trị sử dụng cho phép thỏa mãn những nhu
cầu khác nhau của khách hàng. Những nhu cầu này có thể mang tính hữu hình (làm
sạch quần áo, vận chuyển hàng hóa từ địa điểm này tới địa điểm khác ) và cũng có
thể là vô hình (mang lại danh tiếng cho người sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ ). Dù
cho hoạt động kinh doanh có phục vụ nhu cầu nào của khách hàng đi chăng nữa, thì
nhiệm vụ của các đơn vị sản xuất kinh doanh là phải gia tăng thêm giá trị cho sản
phẩm và dịch vụ. Bởi vì giá trị gia tăng (đạt được khi giá trị đầu ra lớn hơn giá trị đầu
vào) là nguồn gốc của mọi của cải vật chất xã hội.
Giá trị gia tăng cho phép doanh nghiệp trả thù lao cho người lao động, yếu tố
quan trọng hàng đầu để tạo nên một xã hội. Giá trị gia tăng cũng cho phép doanh
nghiệp bù đắp những hao mòn (hữu hình và vô hình) của các máy móc thiết bị và tài
sản cố định mà nó sử dụng, qua đó bảo toàn năng lực sản xuất của doanh nghiệp và
12
SVTH: Lê Thị Thanh Nga GVHD: Mai Văn Xuân
Khóa luận tốt nghiệp
rộng hơn là của toàn bộ nền kinh tế. Giá trị gia tăng cũng cho phép doanh nghiệp thực
hiện các nghĩa vụ khác nhau đối với Nhà nước, thông qua các đóng góp về thuế và các
hình thức khác theo luật định. Cuối cùng người chủ doanh nghiệp sẽ không thể có lợi
nhuận (mục tiêu hàng đầu của nhà đầu tư) nếu như doanh nghiệp của họ không tạo ra
được giá trị, hay ngược lại là phá hủy giá trị. Do vậy, nhiệm vụ hàng đầu chính là tạo
ra giá trị, đó là nhiệm vụ sống còn của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh.
1.1.3. Tổng quan về kế hoạch kinh doanh và vai trò của lập kế hoạch kinh doanh
trong hoạt động của doanh nghiệp
1.1.3.1.Khái niệm
• Kế hoạch kinh doanh (business plan), dùng để xác định và phát triển các ý tưởng kinh
doanh, tương tự như bản thiết kế trong lĩnh vực xây dựng. Lập kế hoạch và xây dựng
lộ trình cho một dự án kinh doanh có thể ngăn chặn những sai lầm nghiêm trọng và
phát hiện ra các khuyết tật. Các sai lầm trên giấy gây tổn hại ít hơn và thường có thể
- Môi trường liên quan được hạn chế bởi thị trường mà doanh nghiệp đã có mặt.
- Dự báo trên cơ sở ngoại suy từ quá khứ, bao gồm xu hướng dự tính của nhu cầu, giá
cả và hành vi cạnh tranh.
- Chủ yếu nhấn mạnh về các ràng buộc về tài chính.
- Sử dụng rộng rãi các phương pháp kinh tế lượng để dự báo.
Cần lưu ý rằng kế hoạch dài hạn không đồng nghĩa với kế hoạch chiến lược vì
kế hoạch chiến lược bao trùm nội dung khác không phải chỉ đứng trên góc độ thời
gian.
Kế hoạch trung hạn: cụ thể hóa những định hướng của kế hoạch dài hạn ra các
khoảng thời gian ngắn hơn, thường là 3 hoặc 5 năm.
Kế hoạch ngắn hạn: thường là các kế hoạch hằng năm và các kế hoạch tiến độ,
hành động có thời hạn dưới 1 năm như: kế hoạch quý, tháng Kế hoạch ngắn hạn bao
gồm các phương pháp cụ thể sự dụng nguồn lực của các doanh nghiệp cần thiết để đạt
được mục tiêu trong trung và dài hạn.
Tuy nhiên, việc phân chia thời hạn của các kế hoạch chỉ mang tính tương đối,
nhất là đối với những điều kiện thị trường hiện nay thay đổi với tốc độ nhanh hơn
nhiều so với cách đây vài thập kỷ. do vậy, trong những lĩnh vực mà điều kiện thị
trường biến động nhiều (chu kỳ thay đổi công nghệ ngày càng nhanh, vòng đời sản
14
SVTH: Lê Thị Thanh Nga GVHD: Mai Văn Xuân
Khóa luận tốt nghiệp
phẩm ngày càng ngắn ) thì những kế hoạch cho từ 3 đến 5 năm cũng có thể coi là rất
dài hạn.
Ba loại kế hoạch ngắn, trung, dài hạn cần phải được liên kết chặt chẽ với nhau
và không được phủ nhận lẫn nhau. Để thực hiện được mối quan hệ đó, các nhà lãnh
đạo chủ chốt các doanh nghiệp nên thường xuyên xem xét và sửa đổi các quyết định
trước mắt xem chúng có phục vụ các chương trình dài hạn hay không và các nhà quản
lý cấp dưới nên được thông báo một cách thường xuyên về kế hoạch dài hạn của
doanh nghiệp sao cho các quyết định của họ phù hợp với các mục tiêu dài hạn của
doanh nghiệp.
cụ điều tiết chủ yếu của nhà nước. Còn trong phạm vi một doanh nghiệp hay một tổ
chức thì lập kế hoạch là khâu đầu tiên, là chức năng quan trọng của quá trình quản lý
và là cơ sở để thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, đạt được mục tiêu
đề ra.
Các nhà quản lý cần phải lập kế hoạch bởi vì lập kế hoạch cho biết phương
hướng hoạt động trong tương lai, làm giảm sự tác động của những thay đổi từ môi
trường, tránh được sự lãng phí và dư thừa nguồn lực, và thiết lập nên những tiêu chuẩn
thuận tiện cho công tác kiểm tra. Hiện nay, trong cơ chế thị trường có thể thấy lập kế
hoạch có các vai trò to lớn đối với các doanh nghiệp. Bao gồm:
- Kế hoạch là một trong những công cụ có vai trò quan trọng trong việc phối
hợp nỗ lực của các thành viên trong một doanh nghiệp. Lập kế hoạch cho biết mục tiêu
và cách thức đạt được mục tiêu của doanh nghiệp. Khi tất cả nhân viên trong cùng một
doanh nghiệp biết được doanh nghiệp mình sẽ đi về đâu và họ sẽ cần phải đóng góp gì
để đạt được mục tiêu đó thì chắc chắn họ sẽ phối hợp cùng nhau, hợp tác và làm việc
một cách có tổ chức. Nếu thiếu kế hoạch thì quỹ đạo đi tới mục tiêu của doanh nghiệp
sẽ là đường ziczac phi hiệu quả.
- Lập kế hoạch có tác dụng làm giảm tính bất ổn định của doanh nghiệp hay tổ
chức. Sự bất ổn định và thay đổi của môi trường làm cho công tác lập kế hoạch trở
thành tất yếu và rất cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp, mỗi nhà quản lý. Lập kế hoạch
buộc những nhà quản lý phải nhìn về phía trước, dự đoán được những thay đổi trong
nội bộ doanh nghiệp cũng như môi trường bên ngoài và cân nhắc các ảnh hưởng của
chúng để đưa ra những giải pháp ứng phó thích hợp.
16
SVTH: Lê Thị Thanh Nga GVHD: Mai Văn Xuân
Khóa luận tốt nghiệp
- Lập kế hoạch làm giảm được sự chồng chéo và những hoạt động làm lãng phí
nguồn lực của doanh nghiệp. Khi lập kế hoạch thì những mục tiêu đã được xác định,
những phương thức tốt nhất để đạt được những mục tiêu đã đạt được lựa chọn nên sẽ
sử dụng nguồn lực một cách có hiệu quả, cực tiểu hóa chi phí bởi vì nó chủ động vào
các hoạt động hiệu quả và phù hợp.
KIỂM TRA (CHECK)
Khóa luận tốt nghiệp
Sơ đồ 1.1: Quy trình kế hoạch hóa trong doanh nghiệp
Theo sơ đồ, quy trình gồm 4 bước là:
• Bước 1: Soạn lập kế hoạch, đây là giai đoạn đầu tiên trong quy trình kế hoạch hóa với
nội dung chủ yếu là xác định các nhiệm vụ, mục tiêu chiến lược, các chương trình và
các chỉ tiêu kế hoạch tác nghiệp, soạn lập ngân quỹ cũng như các chính sách, biện
pháp áp dụng trong thời kỳ kế hoạch của doanh nghiệp để thực hiện các mục tiêu đặt
ra. Trong điều kiện kinh tế thị trường, soạn lập kế hoạch thường phải là quá trình xây
dựng nhiều phương án khác nhau, trên cơ sở đó đưa ra các sự lựa chọn chiến lược và
các chương trình hành động, nhằm mục đích đảm bảo sự thực hiện các lựa chọn này.
Kế hoạch sẽ chỉ có nghĩa khi chúng ta tính đến một tổng thể gồm nhiều vấn đề ràng
buộc lẫn nhau.
• Bước 2: Các hoạt động triển khai tổ chức thực hiện kế hoạch. Kết quả hoạt động của
quá trình này được thể hiện bằng những chỉ tiêu thực tế của hoạt động doanh nghiệp.
Đây là khâu mang tính quyết định đến việc thực hiện những chỉ tiêu đặt ra trong các kế
18
SVTH: Lê Thị Thanh Nga GVHD: Mai Văn Xuân
Phân #ch môi trường
Nhiệm vụ và mục 'êu
Kế hoạch chiến lược
Chương trình, dự án
Kế hoạch tác nghiệp và ngân sáchĐánh giá và hiệu chỉnh các pha của kế hoạch
Khóa luận tốt nghiệp
hoạch. Nội dung bao gồm việc thiết lập và tổ chức các yếu tố nguồn lực cần thiết, sử
dụng các chính sách, các biện pháp cũng như các đòn bẩy quan trọng tác động trực
tiếp đến các cấp thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, nhằm
đảm bảo các yêu cầu tiến độ đặt ra trong các kế hoạch tác nghiệp cụ thể kể cả về thời
gian, quy mô và chất lượng công việc.
• Bước 3: Tổ chức công tác theo dõi, giám sát thực hiện kế hoạch. Nhiệm vụ của quá
dụng những phương pháp phân tích chiến lược đưa ra các phương án kế hoạch chiến
lược khác nhau. Lập kế hoạch chiến lược phác thảo hình ảnh tương lai của doanh
nghiệp trong các lĩnh vực kinh doanh khác nhau và các năng lực có thể khai thác. Bao
gồm các khâu như: xác định các phương án kế hoạch chiến lược, sau đó đánh giá các
20
SVTH: Lê Thị Thanh Nga GVHD: Mai Văn Xuân
Khóa luận tốt nghiệp
phương án lựa chọn cuối cùng sẽ lựa chọn phương án cho kế hoạch chiến lược.
• Bước 4: Xác định các chương trình, dự án.Đây là phân hệ của kế hoạch chiến lược.
Các chương trình thường xác định sự phát triển của một trong các mặt hoạt động quan
trọng của đơn vị kinh tế như: chương trình hoàn thiện công nghệ, chương trình kiểm
tra chất lượng sản phẩm, chương trình tính toán dự trữ còn các dự án thường định
hướng đến một mặt hoạt động cụ thể hơn như dự án phát triển thị trường, đổi mới sản
phẩm. Các dự án thường được xác định một cách chi tiết hơn chương trình, nó bao
gồm các thông số về tài chính và kỹ thuật, các tiến độ thực hiện, tổ chức huy động và
sử dụng nguồn lực, hiệu quả kinh tế tài chính.
• Bước 5: Soạn lập hệ thống các kế hoạch chức năng (tác nghiệp) và ngân sách. Các kế
hoạch chức năng và ngân sách trên thực tế có mối quan hệ mật thiết với nhau và cần
phải thồng nhất trong quá trình xây dựng nhằm đảm bảo sự phối hợp đồng bộ và có
hiệu quả giữa các chức năng trong doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường hiện
nay, khả năng nắm bắt nhu cầu sẽ là yếu tố đầu tiên quyết định sự thành công của các
kế hoạch doanh nghiệp cũng như việc thực hiện các mục tiêu chiến lược. Lúc này, kế
hoạch Marketing sẽ là trung tâm và cơ sở của mọi kế hoạch tác nghiệp khác. Ngân
sách sẽ trở thành một phương tiện để kết hợp các kế hoạch chức năng với nhau, đồng
thời là tiêu chuẩn quan trọng để đo lường sự thăng tiến của kế hoạch.
• Bước 6: Đánh giá, hiệu chỉnh các pha của kế hoạch. Đây có thể coi là bước thẩm định
cuối cùng trước khi cho ra một văn bản kế hoạch. Các nhà lãnh đạo doanh nghiệp cùng
với các nhà chuyên môn kế hoạch cũng như các chức năng khác, có thể sử dụng thêm
đội ngũ chuyên gia, tư vấn kiểm tra lại các mục tiêu, chỉ tiêu, các kế hoạch chức năng,
ngân sách, các chính sách phân định kế hoạch theo các pha có liên quan đến tổ chức
Hệ thống kiểm tra đảm bảo cho
quá trình lập kế hoạch đạt kết
quả cao và hiệu quả
Năng lực của các
chuyên gia lập kế
hoạch
Sự hạn chế của
các nguồn lực
Khóa luận tốt nghiệp
Việc lập kế hoạch kinh doanh hiện nay là việc gần như phải có trong mọi hoạt
động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp kể cả trọng nước lẫn nước ngoài. Tùy
vào đặc điểm của nền kinh tế và hình thức kinh doanh mà mỗi bản kế hoạch phải điều
chỉnh sao cho thật sự phù hợp với điều kiện thực tại và phù hợp với mục tiêu. Ví dụ
như để phát triển kinh tế - xã hội của huyện Nam Trực, thành phố Nam Định; ủy ban
nhân dân huyện Nam Trực đã cho nghiên cứu điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã
hội một cách kỹ càng, rồi bắt đầu nghiên cứu và dự báo, sau đó lập các kế hoạch mục
tiêu, chọn các phương án để thực hiện các mục tiêu đó để có thể tạo ra một bản kế
hoạch nhằm mục đích phát triển kinh tế - xã hội. Từ các bản kế hoạch nhằm phát triển
nhân lực ngành nội vụ của tỉnh Đắk Lắk cũng được lên một bản kế hoạch chi tiết, rõ
ràng, đến các bản kế hoạch về giáo dục cá nhân dành cho trẻ em chậm phát triển của
Quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng, hay kế hoạch sản xuất của các xí nghiệp, doanh
nghiệp như công ty Cổ phần may Thăng Long cũng đã có rất nhiều nghiên cứu về bản
kế hoạch kinh doanh ngắn hạn.
Đối với Thế Giới và Việt Nam nói chung thì ở Thừa Thiên Huế nói chung, các
doanh nghiệp cũng đã rất chú trọng và tập trung xây dựng một bản kế hoạch thật sự
hoàn chỉnh nhất trước khi đưa vào hoạt động. Từ các bản kế hoạch kinh doanh của các
ngân hàng thương mại: Ngân hàng An Bình (ABBank), Ngân hàng Liên Việt , các
bản kế hoạch sản xuất của công ty cổ phần Long Thọ, đến các bản kế hoạch kinh
doanh dịch vụ của Cảng Chân Mây, công ty thiết kế lữ hành VDoTour.
23
đầu tư Đê chắn sóng. Cảng Chân Mây là thành viên của Hiệp hội Cảng biển Việt Nam,
được Cục Hàng hải Việt Nam chứng nhận phù hợp an ninh cảng biển theo công ước
24
SVTH: Lê Thị Thanh Nga GVHD: Mai Văn Xuân
Khóa luận tốt nghiệp
SOLAS 74 và Bộ luật ISPS; Cảng Chân Mây đã thiết lập quan hệ tốt đẹp với nhiều
khách hàng, chủ hàng, chủ tàu, đại lý hàng hải trong nước và nước ngoài. Với vị trí địa
lý thuận lợi và tiềm năng phát triển rộng mở, Cảng Chân Mây có trang thiết bị hiện
đại, đồng bộ, đội ngũ kỹ sư, công nhân trẻ, năng động đã cung ứng các dịch vụ cảng
biển đảm bảo chất lượng được khách hàng tín nhiệm. Cảng luôn trong tư thế đón nhận
những sự hỗ trợ và hợp tác của các nhà đầu tư và quý khách hàng, là động lực để phát
triển và cải thiện chất lượng phục vụ.
2.1.2. Phạm vi hấp dẫn của Cảng Chân Mây
• Trên đất Việt Nam: hiện nay Cảng Chân Mây đã và đang chiếm ưu thế số 1 trong suốt
dải đất miền Trung từ Quảng Bình đến Thừa Thiên Huế. Với lợi thế về vị trí địa lý và
độ sâu khu nước, Chân Mây là cảng nước sâu đầu tiên trong khu vực có khả năng tiếp
cận được các tàu có trọng tải lớn. Chính vì vậy, vùng hấp dẫn của cảng Chân Mây trên
đất Việt Nam là toàn bộ tỉnh Thừa Thiên Huế và các tỉnh lân cận như Quảng Bình,
Quảng Trị.
• Đối với các nước láng giềng:
Thừa Thiên Huế cũng như toàn khu vực miền Trung Việt Nam có một vị trí
chiến lược về thương mại và vận tải quá cảnh của tiểu vùng. Cụ thể là: vận tải quá
cảnh và song phương hàng hóa xuất nhập khẩu từ Lào và Đông Bắc Thái Lan.
CHDCND Lào: do không có biển nên thương mại hướng ngoại của CHDCND
Lào không còn cách chọn lựa nào ngoài việc sử dụng các tuyến quá cảnh qua Việt
Nam hoặc Thái Lan. Trong các thập kỷ trước đây, phần đảm nhận hàng hóa quá cảnh
qua Việt Nam và Thái Lan vô cùng bấp bênh. Việt Nam cung cấp các cảng biển với
khoảng cách bằng ½ của Băng Kốc tới hầu hết các vùng của CHDCND Lào như sau:
• Viên Chăn cách Băng Kốc 680 km trong khi đó chỉ cách Cửa Lò 380 km. Các tỉnh
Xiêng Khoảng, Bolikhamsang và Khăm Muộn của CHDCND Lào cách biên giới Việt