Lời mở đầu
Nền kinh tế nước ta đang ở giai đầu của nền kinh tế thị trường có sự quản lý
của Nhà nước. Việc chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang nền
kinh tế hoạt động theo sự vận hành của cơ chế thị trường đã mở ra một thời kỳ
mới đầy những cơ hội phát triển cũng như là những thách thức lớn lao cho các
thành phần kinh tế, các doanh nghiệp ở Việt Nam.
Một tất yếu kinh tế - một vấn đề thời sự nổi bật nhất trong nền kinh tế
thị trường hiện nay, đó là cạnh tranh. Bởi vì, bất luận ở lĩnh vực nào, ngành
hàng nào, thị trường đều có sự chia cắt bởi các doanh nghiệp trong và ngoài
nước. Sự cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt hơn. Các doanh nghiệp không
bao giờ chỉ thoả mãn với phần thị trường đã chiếm lĩnh được (vì như vậy có
nghĩa là chấp nhận bị tiêu diệt - điều này rất nguy hiểm), mà luôn tìm cách vươn
lên, mở rộng thị trường. Để đạt được điều này, các doanh nghiệp phải có sức
cạnh tranh và cạnh tranh có hiệu quả. Và vì vậy, xây dựng một chiến lược cạnh
tranh vơí những công cụ, biện pháp thích hợp nhằm tăng sức cạnh tranh là cơ
sở đảm bảo giúp doanh nghiệp đứng vững và phát triển trong điều kiện cạnh
tranh gay gắt trên thị trường.
Công ty Dầu nhờn Petrolimex (PLC ) là một doanh nghiệp Nhà nước trực
thuộc Tổng công ty xăng dầu Việt Nam (Petrolimex ) chuyên kinh doanh các sản
phẩm dầu mỡ nhờn và các sản phẩm có nguồn gốc từ dầu mỏ như nhựa đường,
hoá chất. Qua gần 5 năm hoạt động và phát triển, công ty đã tìm cho mình một
vị trí khá ổn định trên thị trường dầu mỡ nhờn. Tuy nhiên, hiện nay, công ty đang
phải đương đầu với sự cạnh tranh mạnh mẽ từ nhiều phía trên thị trường dầu
mỡ nhờn tại Viêt Nam với sự tham gia của các doanh nghiệp có tiếng trong và
ngoài nước như: Castrol, Shell, Esso, Vidamo... Để tiếp tục phát triển và mở
rộng thị trường, công ty cần phải nghiên cứu tìm ra một hướng đi phù hợp để
nâng cao sức cạnh tranh của mình. Có nâng cao sức cạnh tranh, công ty mới có
thể chiến thắng được các đối thủ cạnh tranh, đứng vững trên thị trường cạnh
tranh khốc liệt này.
1
Bắt đầu từ ý tưởng này, sau một thời gian thực tập tại Công ty Dầu nhờn
mại trong nền kinh tế thi trường:
1.Tính tất yếu của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường:
Kinh tế thị trường là nền kinh tế chủ yếu được điều tiết bởi thị
trường. Nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải giải quyết các vấn đề cơ bản:
sản xuất cái gì, xản xuất như thế nào, sản xuất cho ai, và nó đều chịu sự
tác động của các quan hệ cung cầu, quan hệ cạnh tranh và giá cả thị
trường.
Một điều tất yếu và là đặc trưng cơ bản nhất của nền kinh tế thị
trường đó là: bất kỳ một doanh nghiệp nào tham gia hoạt động sản xuất
kinh doanh một loại hàng hoá nào đó trên thị trường đều phải chấp nhận
cạnh tranh.
Cạnh tranh phát triển cùng với sự phát triển của nền sản xuất
hàng hoá tư bản chủ nghĩa. Vậy cạnh tranh là gì ?
Theo Marx " Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt
giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong
sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch ".
Còn theo cuốn từ điển kinh doanh (xuất bản 1992 ở Anh ), cạnh
tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa là " sự ganh đua, sự
kình định giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành tài nguyên sản
xuất cùng một loại về phía mình ".
Như vậy, hiểu theo một nghĩa chung nhất, cạnh tranh là sự ganh
đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành giật thị trường và khách
hàng.
Thực chất của cạnh tranh là sự tranh giành về lợi ích kinh tế
giữa các chủ thể tham gia thị trường. Đối với người mua, họ muốn
mua được loại hàng hoá có chất lượng cao, với một mức giá rẻ. Còn
ngược lại, các doanh nghiệp bao giờ cũng muốn tối đa hoá lợi nhuận
của mình. Vì mục tiêu lợi nhuận, họ phải giảm chi phí và tìm cách
3
giành giật khách hàng và thị trường về phía mình. Và như vậy, cạnh
Cạnh tranh trên thị trường giữa các doanh nghiệp được phân thành
nhiều loại khác nhau. Nhưng xét theo phạm vi ngành kinh tế, cạnh tranh
được chia làm 2 loại: Cạnh tranh giữa các ngành và cạnh tranh trong nội
bộ ngành. Để giành lợi thế trên thị trường, các doanh nghiệp phải nắm
vững các loại cạnh tranh này để xác định đúng đối thủ cạnh tranh, từ đó
lựa chọn chính xác vũ khí cạnh tranh phù hợp với điều kiện và đặc điểm
của mình.
4
Cạnh tranh giữa các ngành: là cuộc đấu tranh giữa các nhà doanh
nghiệp sản xuất, mua bán hàng hoá, dịch vụ trong các ngành kinh tế khác
nhau nhằm thu lợi nhuận và có tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với vốn đã
bỏ ra và đầu tư vốn vào ngành có lợi nhất cho sự phát triển. Sự cạnh
tranh giữa các ngành dẫn đến việc các doanh nghiệp luôn tìm kiếm
những ngành đầu tư có lợi nhất nên đã chuyển vốn từ ngành ít lợi nhuận
sang ngành có nhiều lợi nhuận. Sau một thời gian nhất định, sự điều
chuyển tự nhiên theo tiếng gọi của lợi nhuận này, vô hình chung hình
thành lên sự phân phối vốn hợp lí giữa các ngành sản xuất, dẫn đến kết
quả cuối cùng là các chủ doanh nghiệp đầu tư ở các ngành khác nhau với
số vốn bằng nhau chỉ thu được lợi nhuận như nhau.
Cạnh tranh trong nội bộ ngành: là sự cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp cùng sản xuất và tiêu thụ, một loại hàng hoá hoặc dịch vụ nào đó.
Cạnh tranh trong nội bộ ngành dẫn đến sự hình thành giá cả thị trường
đồng nhất đối với hàng hoá dịch vụ cùng loại trên cơ sở giá trị xã hội của
hàng hoá dịch vụ đó. Trong cuộc cạnh tranh này, các doanh nghiệp thôn
tính lẫn nhau. Những doanh nghiệp chiến thắng sẽ mở rộng phạm vi họat
động của mình trên thị trường, những doanh nghiệp thua cuộc sẽ phải
thu hẹp kinh doanh, thậm chí bị phá sản.
Trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu tối cao và duy nhất trong
kinh doanh của các doanh nghiệp là lợi nhuận tối đa, vì đó là thu nhập
hiện tại của chủ sở hữu doanh nghiệp và là tiền đề để hiện đại hoá và
Cạnh tranh là công cụ để tước quyền thống trị về kinh tế trong lịch sử.
Cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải không ngừng đưa tiến bộ khoa
học kĩ thuật vào sản xuất. Đồng thời cạnh tranh cũng buộc các doanh
nghiệp phải nắm bắt thông tin kịp thời, bắt được những thời cơ hấp dẫn.
Cạnh tranh đã tạo ra các nhà kinh doanh giỏi, chân chính.
Tóm lại, cạnh tranh không phải là huỷ diệt mà là sự thay thế, thay thế
những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, sử dụng lãng phí những nguồn
lực của xã hội bằng các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, nhằm
đáp ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội, thúc đẩy nền kinh tế của đất nước
phát triển. Có thể nói rằng, cạnh tranh lành mạnh _ động lực phát
triển kinh tế của mỗi quốc gia cũng như của từng doanh nghiệp. Cạnh
tranh là điều kiện quan trọng để phát triển lực lượng sản xuất, tiến bộ
kĩ thuật, là điều kiện giáo dục tính tháo vát, năng động và sáng kiến
cho các nhà sản xuất kinh doanh
II. Các hình thái cạnh tranh trong kinh doanh thương mại:
(Phân loại thị trường theo mức độ cạnh tranh)
Đây là dạng phân loại thị trường gắn liền với phương thức hình thành và
vận động giá cả thị trường.
Theo cách phân loại này có các dạng thị trường sau:
6
1. Thị trường cạnh tranh hoàn hảo:
a) Khái niệm:
Thị trường cạnh tranh hoàn hảo là thị trường mà ở đó có rất nhiều
người bán mà không có người nào có ưu thế để cung ứng một số lượng
sản phẩm lớn ảnh hưởng đến giá cả. Các sản phẩm mua bán trên thị
trường này là sự đồng nhất, tức là nó rất ít khác nhau về quy cách, mẫu
mã, phẩm chất. Điều kiện tham gia và rút khỏi thị trường rất dễ dàng.
Những người bán tham gia trên thị trường chỉ có cách thích ứng với giá
thị trường. Họ không có khả năng định giá. Do đó, các doanh nghiệp
tham gia kinh doanh trên thị trường này chủ yếu tìm biện pháp giảm thấp
trong nhóm độc quyền giảm giá hàng hoá bán ra thì họ không bao giờ
cảm thấy tin tưởng rằng có thể đạt được kết quả lâu dài vì sẽ có một số
doanh nghiệp khác có thể sẽ giảm giá xuống mức thấp hơn; và ngược lại
khi một doanh nghiệp tăng giá, các doanh nghiệp khác không tăng giá thì
sẽ dẫn đến doanh nghiệp tăng giá phải trở lại giá cũ hoặc có nguy cơ bị
mất khách hàng.
b) Cạnh tranh độc quyền:
Chính vì đặc điểm của thị trường độc quyền là số lượng doanh
nghiệp tham gia trên thị trường này tương đối lớn, cho nên mỗi doanh
nghiệp sẽ có ảnh hưởng tương đối lớn đến các quyết định về sản xuất và
kinh doanh của riêng mình.
Trên thị trường cạnh tranh độc quyền, sản phẩm của các doanh
nghiệp là khác nhau. Người tiêu dùng phân biệt được các sản phẩm của
doanh nghiệp thông qua nhãn hiệu, quảng cáo, bao bì và các dịch vụ
khác.Trên thị trường này, doanh nghiệp có quyền định gía hàng hoá
nhưng không hòan toàn tuỳ ý của mình, và các điều kiện mua bán hàng
hoá cuãng khác nhau. Doanh nghiệp có thể có uy tín độc đáo khác nhau
đối với khách hàng.
Tóm lại, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, trạng thái thị trường
độc quyền hầu như rất khó đạt được và nếu nó xuất hiện thì xem xét nó
như trạng thái cạnh tranh độc quyền để giải quyết. Và như vậy là, mức
độ khốc liệt của cạnh tranh giảm dần từ cạnh tranh hoàn hảo đến cạnh
tranh độc quyền.
3. Thị trường độc quyền:
Thị trường độc quyền là thị trường mà ở đó có một hay ngưòi bán
độc nhất có thể kiểm soát trên thị trường. Điều kiện gia nhập hoặc rút lui
khỏi thị trường độc quyền có rất nhiều trở ngại do đầu tư vốn lớn hoặc
do độc quyền kĩ thuật, công nghệ...Vì vậy mà thị trường này không có
cạnh tranh về giá mà người bán hoàn toàn quyết định giá.
Trên thị trường độc quyền, đường cầu của toàn xã hội về một loại
Cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm:
Là việc đưa ra thị trường những loại hàng hoá có chất lượng cao,
đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Vũ khí này chỉ phát huy lợi thế
9
của nó trong trường hợp hàng hoá trên thị trường còn nhiều cấp độ chất
lượng khác nhau, hàng giả, hàng kém phẩm chất.
Chất lượng sản phẩm được chia làm 4 loại chính:
+ Chất lượng thị trường: là chất lượng đảm bảo thoả mãn những nhu
cầu nhất định theo mong đợi của người tiêu dùng.
+ Chất lượng thành phẩm: là chất lượng đảm bảo thoả mãn những nhu
cầu của một hoặc một số tầng lớp người nhất định.
+ Chất lượng phù hợp: là chất lượng đảm bảo theo thiết kế hay tiêu
chuẩn hoá quy định.
+ Chất lượng thị hiếu: là chất lượng phù hợp với ý thích và tâm lí của
người tiêu dùng.
Yêu cầu cao nhất đối với từng doanh nghiệp là phải thoả mãn được
tất cả bốn loại chất lượng nêu trên. Thế nhưng, trong thực tế doanh
nghiệp chỉ có thể thoả mãn được một số loại chất lượng nhất định.
Để thoả mãn cao nhất cả bốn loại chất lượng nêu trên, khi xác định
chiến lược sản phẩm doanh nghiệp nên kéo dài giai đoạn làm chủ thị
trường của sản phẩm của mình thông qua xem xét một số chỉ tiêu sau:
Chỉ tiêu công dụng, chỉ tiêu độ tin cậy, chỉ tiêu động lực học, chỉ
tiêu thẩm mỹ, chỉ tiêu công nghệ, chỉ tiêu thống nhất hoá, chỉ tiêu sinh
thái.
Tuỳ loại sản phẩm mà doanh nghiệp tập trung nghiên cứu và giải
quyết những chỉ tiêu nào.
Tuy nhiên để có sản phẩm có chất lượng cao, doanh nghiệp phải có
trang thiết bị máy móc hiện đại, công nghệ tiên tiến và tăng cường quản
lí kĩ thuật.
Cạnh tranh bằng giá cả: Đây là hình thức hấp dẫn khách hàng bằng
vậy, để giữ vững thế cạnh tranh nhà doanh nghiệp phải luôn luôn có
những giải pháp bảo vệ mình khỏi sự tấn công của các đối thủ cạnh
tranh.
Để giữ vững cạnh tranh, nhà doanh nghiệp thường sử dụng
những giải pháp sau: làm giảm ý chí tấn công của các đối thủ cạnh tranh,
tạo lập hàng rào ngăn chặn sự tấn công của đối phương. Đồng thời
doanh nghiệp cần có những giải pháp mới đối với hệ thống phân phối
hàng hoá nhằm củng cố chặt chẽ mối quan hệ với bạn hàng để bạn hàng
nhận thấy: nếu không làm ăn chặt chẽ với doanh nghiệp mà lại làm ăn
với doah nghiệp khác sẽ dẫn đến sự thiệt thòi...
Trong các thủ pháp nhằm xây dựng hàng rào chắn với các đối thủ
và tránh đối đầu với đối thủ cạnh tranh thì phương pháp hay được áp
dụng nhất là chia tuyến thị trường, ngăn cản sự gia nhập, hợp tác.
Chia tuyến thị trường: Đây là phương pháp làm cho các đối thủ cạnh
tranh thấy rằng mình không phải là đối thủ, kẻ thù của họ.
11
Giải pháp này có những cách tiếp cận sau:
_Chọn các tuyến thị trường chưa hoặc còn ít các nhà doanh nghiệp tiếp
cận
_Những vùng, địa phương có nhu cầu lớn mà chưa có nhà doanh nghiệp
nào thoả mãn.
_Tiếp cận những thị trường mà nhận thấy đối phương đang hoạt động
chưa tốt.
Khi chọn tuyến thị trường, nhà doanh nghiệp cần phân tích:
_Tiềm năng của tuyến thị trường cần tiếp cận ra sao?
_Bằng cách nào để xâm nhập thị trường?
_Làm gì để bảo vệ vị trí của doanh nghiệp khi có đối phương tấn công
trên tuyến thị trường này?
_Tại sao các nhà doanh nghiệp khác chưa hoặc tiếp cận yếu với tuyến thị
trường này?
thoả mãn. Do vậy, khi phác hoạ các chiến lược cạnh tranh, công ty phải
xét đến các sự định vị và hành động của đối thủ, nhưng mục tiêu cơ bản
nhất là thành công chống lại đối thủ bằng cách tìm những con đường tốt
hơn nữa để thoả mãn nhu cầu khách hàng.
IV - Sự cần thiết khách quan của việc tăng sức cạnh tranh đối với
một doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh:
1. Sức cạnh tranh của doanh nghiệp:
1.1. Thế nào là 'sức cạnh tranh của doanh nghiệp ' ?
Hiện nay, một doanh nghiệp muốn có một vị trí vững chắc trên thị
trưòng và ngày càng được mở rộng thì cần phải có một tiềm lực đủ mạnh để
có thể cạnh tranh trên thị trường. Cái đó chính là sức cạnh tranh của một
doanh nghiệp.
'' Sức cạnh tranh của một doanh nghiệp là khả năng, năng lực mà
doanh nghiệp có thể tự duy trì vị trí của nó một cách lâu dài trênthị trường
cạnh tranh, đảm bảo thực hiện một mức lợi nhuận ít nhất là bằng tỉ lệ đòi
hỏi cho việc thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp".
Sức cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện ở 4 mặt : Giá cả, giá trị sử
dụng hay là chất lượng sản phẩm và nghệ thuật tổ chức tiêu thụ hàng hoá
và yếu tố thời gian. Các doanh nghiệp phải luôn luôn đưa ra các phương án,
các giải pháp tối ưu nhất để giảm chi phí sản xuất để từ đó giảm giá thành,
giá bán, áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất, nâng cao hiệu quả quản lý
13
để nâng cao chất lượng sản phẩm, tổ chức tốt màng lưới bán hàng và biết
chọn đúng thời điểm bán hàng nhằm thu hút được khách hàng, mở rộng thị
trường.
Chỉ tiêu tổng hợp nhất để đánh giá sức cạnh tranh của một doanh
nghiệp là thị phần mà doanh nghiệp đã chiếm được. Thị phần càng lớn
càng thể hiện rõ sức cạnh tranh của doanh nghiệp càng mạnh. Để tồn tại và
có sức cạnh tranh, doanh nghiệp phải chiếm giữ được một phần thị trường
bất kể nhiều hay ít, chính điều này đã phản ánh được quy mô tiêu thụ của
14
này, doanh nghiệp có thể phục vụ khách hàng một cách tốt hơn, có hiệu
quả hơn các đối thủ cạnh tranh và như vậy, doanh nghiệp đã tạo dựng được
một bức rào chắn, đảm bảo giữ vững được phần thị trường của mình.
Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần phải thực hiện chiến lược khác biệt
hoá sản phẩm, tạo ra các nét độc đáo riêng cho mình để thu hút, tạo sự hấp
dẫn cho khách hàng vào các sản phẩm của mình, nâng cao uy tín của doanh
nghiệp.
Như vậy, sản phẩm và xác định cơ cấu sản phẩm tối ưu là một trong những
yếu tố quyết định sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
b) Yếu tố giá cả.
Giá của một sản phẩm trên thị trường được hình thành thông qua
quan hệ cung cầu. Người bán và người mua thoả thuận mặc cả với nhau
để đi tới mức giá cuối cùng đảm bảo hai bên đều có lợi. Giá cả đóng vai
trò quan trọng trong quyết định mua hay không mua của khách hàng.
Trong nền kinh tế thị trường, có sự cạnh tranh của các doanh nghiệp,
''khách hàng là thượng đế '' họ có quyền lựa chọn những gì mà họ mà họ
cho là tốt nhất, và cùng một loại sản phẩm với chất lượng tương đương
nhau, chắc chắn họ sẽ lựa chọn mức giá bán thấp hơn, khi đó sản lượng
tiêu thụ của doanh nghiệp sẽ tăng lên.
Giá cả được thể hiện như một vũ khí để cạnh tranh thông qua việc
định giá của sản phẩm: Định giá thấp, định giá ngang thị trường hay là
chính sách định giá cao.
Với một mức giá ngang thị trường giúp doanh nghiệp giữ được
khách hàng, nếu doanh nghiệp tìm ra những biện pháp giảm giá thành thì
lợi nhuận thu được sẽ tăng lên, hiệu quả kinh doanh cao. Ngược lại, với
một mức giá thấp hơn giá thị trường thì sẽ thu hút được nhiều khách
hàng và tăng sản lượng tiêu thụ, doanh nghiệp sẽ có cơ hội thâm nhập thị
trường, chiếm lĩnh thị trường mới. Mức giá doanh nghiệp áp đặt cao hơn
mức giá thị trường chỉ sử dụng được với các doanh nghiệp có tính độc
Hiện nay, khi nền kinh tế ngày càng phát triển, một quan niệm
mới về chất lượng đã xuất hiện: Chất lượng sản phẩm không chỉ là tốt,
bền, đẹp mà nó còn do khách hàng quyết định. Quản lý chất lượng sản
phẩm là yếu tố chủ quan còn sự đánh giá của khách hàng mang tính
khách quan, ở đây, nhân tố khách quan đã tác động, chi phối yếu tố chủ
quan. Đây là một quan niệm mới xuất phát từ thực tế là mức độ cạnh
tranh trên thị trường ngày càng trở nên quyết liệt hơn.
Chất lượng sản phẩm thể hiện tính quyết định sức cạnh tranh của
doanh nghiệp ở chỗ :
Nâng cao chất lượng sản phẩm sẽ làm tăng tốc độ tiêu thụ
sản phẩm, tăng khối lượng hàng hoá bán ra, kéo dài chu kỳ sống của sản
phẩm.
Sản phẩm chất lượng cao sẽ làm tăng uy tín của doanh
nghiệp, kích thích khách hàng mua hàng và mở rộng thị trường.
16
Chất lượng sản phẩm cao làm tăng khả năng sinh lời, cải
thiện tình hình tài chính của doanh nghiệp.
d) Tổ chức hoạt động tiêu thụ sản phẩm.
Tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất kinh
doanh, đây cũng là giai đoạn thực hiện bù đắp chi phí và thu lợi nhuận.
Việc đầu tiên của quá trình tổ chức tiêu thụ sản phẩm là phải lựa
chọn các kênh phân phối sản phẩm một cách hợp lý, có hiệu quả nhằm
mục đích đáp ứng một cách tốt nhất các yêu cầu của khách hàng, nhanh
chóng giải phóng nguồn hàng, để bù đắp chi phí sản xuất, thu hồi vốn.
Xây dựng một hệ thống mạng lưới tiêu thụ sản phẩm tốt cũng có nghĩa là
xây dựng một nền móng vững chắc để phát triển thị trường, bảo vệ thị
phần của doanh nghiệp có được.
Bên cạnh việc tổ chức màng lưới bán hàng, doanh nghiệp cũng
cần đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ bán hàng như quảng cáo, khuyến
mại, các dịch vụ sau bán hàng. Đây là một hình thức cạnh tranh phi giá,
thắng quan trọng trong việc thu hút khách hàng và mở rộng thị trường,
tăng tính cạnh tranh của doanh nghiệp. Do vậy, khi xây dựng một chiến
lược kinh doanh, các doanh nghiệp thường đề cập tới vấn đề " tốc độ thị
trường ", "cạnh tranh dựa trên thời gian" và chú trọng tới vấn đề về chu
kỳ sản phẩm, thời gian nắm bắt, thoả mãn nhu cầu thị trường, thời gian
đầu tư, thờì gian thu hồi vốn, tốc độ công việc giao dịch và giao hàng,
tốc độ của công tác nghiên cứu và triển khai...
Ngoài các yếu tố này, vốn, quy mô doanh nghiệp... cũng sẽ tác
động rất lớn tới sức cạnh tranh cũng như việc nâng cao sức cạnh tranh
của doanh nghiệp.
Uy tín của doanh nghiệp cũng là một yếu tố rất quan trọng, đó là
cơ sở để doanh nghiệp có thể dễ dàng giành thắng lợi trong cạnh tranh vì
họ đã có một lượng khách hàng quen thuộc,tín nhiệm. Uy tín của một
doanh nghiệp được hình thành sau một thời gian dài hoạt động trên thị
trường và là một tài sản vô hình mà doanh nghiệp cần phải biết giữ gìn
và phát huy tài sản đó
2. Vì sao phải tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Thực chất của tăng sức cạnh tranh là tạo ra ngày một nhiều hơn
các ưu thế về các mặt giá cả, giá trị sử dụng, chất lượng, uy tín của sản
phẩm và doanh nghiệp, nhằm giành được những ưu thế tương đối trong
cạnh tranh, đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ.
Trong cơ chế thị trường, cạnh tranh là một quy luật tất yếu khách
quan. Các doanh nghiệp tham gia thị trường đều phải chấp nhận cạnh
tranh. Cạnh tranh một mặt sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển, mặt khác nó sẽ
đào thải không thương tiếc những doanh nghiệp yếu thế không có đủ
sức cạnh tranh. Do vậy để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp phải
không ngừng phấn đấu tìm ra các giải pháp để giảm chi phí sản xuất giá
hành giá bán sản phẩm, tổ chức hệ thống tiêu thụ môt cách tốt nhất, đúng
lúc nhất mà vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm đặc biệt là trong giai đoạn
hiện nay.
hưởng của nhiều nhân tố bao gồm cả chủ quan và khách quan.
3.1 - Các nhân tố khách quan.
a) Môi trường kinh tế quốc dân.
Môi trường kinh tế quốc dân hay còn gọi là môi trường tổng thể của
một doanh nghiệp bao gồm 4 nhóm nhân tố chính.
Nhóm nhân tố kinh tế.
19
Đây là những nhân tố quan trọng nhất của môi trường hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp. Khi một nền kinh tế phát triển với tốc độ cao sẽ
kéo theo sự tăng thu nhập cũng như khả năng thanh toán của người dân
cũng tăng lên do vậy nhu cầu hay sức mua của nhân dân cũng sẽ tăng
lên. Mặt khác nền kinh tế phát triển mạnh có nghĩa là khả năng tích tụ và
tập trung tư bản lớn như vậy tốc độ đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh
sẽ tăng lên. Đây chính là cơ hội tốt cho các doanh nghiệp phát triển.
Doanh nghiệp nào có khả năng nắm bắt được những cơ hội này thì chắc
chắn sẽ thành công và sức cạnh tranh cũng tăng lên.
Tuy nhiên, do sự tăng trưởng của nền kinh tế sẽ kéo theo sự tăng
lên một cách nhanh chóng số lượng các doanh nghiệp tham gia thị
trường, và như vậy mức độ cạnh tranh sẽ lại trở nên gay gắt. Ai đi trước
trong cuộc cạnh tranh này người đó sẽ thắng. Và ngược lại, khi nền kinh
tế đang trong giai đoạn suy thoái, tỉ lệ lạm phát tăng làm cho giá cả sẽ
tăng, sức mua của người dân bị giảm sút, các doanh ngiệp phải tìm mọi
cách để giữ khách hàng, do đó sự cạnh tranh trên thị trường cũng sẽ khốc
liệt hơn
Lãi suất cho vay của ngân hàng cũng là một nhân tố quan trọng
ảnh hưởng tới sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Với mức lãi suất đi vay
cao, chi phí sản xuất của doanh nghiệp cũng sẽ tăng lên do phải trả lãi
tiền vay lớn, do vậy sức cạnh tranh của doanh nghiệp cũng sẽ bị giảm đi
đặc biệt là đối với các đối thủ có tiềm lực mạnh về tài chính.
Các nhân tố lạm phát, tỉ giá hối đoái, tiền công, tiền lương... cũng
hiện đại của nền kinh tế quốc dân nói chung cũng như của từng doanh
nghiệp nói riêng, đây là tiền đề để các doanh nghiệp ổn định nâng cao
sức cạnh tranh của mình.
*2 Các nhân tố về điều kiện tự nhiên, văn hoá xã hội.
Điều kiện tự nhiên của từng vùng sẽ tạo ra những điều kiện thuận
lợi hoặc khó khăn cho doanh nghiệp trong việc cạnh tranh. Vị trí địa lý
thuận lợi ở những thành phố lớn, phát triển hay trên các trục đường giao
thông quan trọng... cũng như nguồn tài nguyên phong phú đa dạng sẽ tạo
cơ hội cho doanh nghiệp phát triển, giảm chi phí thu được nhiều lợi
nhuận song mức độ cạnh tranh tại những vùng này cũng sẽ hết sức quyết
liệt buộc các doanh nghiệp phải luôn nâng cao sức cạnh tranh của mình
để tồn tại và phát triển.
Phong tục tập quán, lối sống, thị hiếu, trình độ văn hoá tác động
một cách gián tiếp tới sức cạnh tranh của công ty thông qua khách hàng
và cơ cấu nhu cầu của thị trường. ở từng khu vực thị trường, ở từng vùng
khác nhau, lối sống cũng như sở thích thị hiếu, phong tục tập quán của
người dân khác nhau. Do vậy doanh nghiệp cần có những biện pháp
nghiên cứu kỹ thị trường, có những chính sách phù hợp với từng vùng,
lựa chọn các kênh tiêu thụ thích hợp để đáp ứng một cách tốt nhất nhu
cầu của từng vùng, từng loại thị trường.
b) Môi trường ngành.
Môi trường ngành- đó là môi trường mà doanh nghiệp tham gia và
chấp nhận cạnh tranh. Dovậy sự tác động của môi trường ngành tới sức
cạnh tranh của doanh nghiệp là một điều tất yếu.
21
*3 Tốc độ tăng trưởng của ngành sẽ quyết định mức độ cạnh
tranh của ngành đó. Khi tốc độ phát triển của ngành chậm thì mức độ
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trên thị trưởng đó sẽ cao và găy gắt
hơn do chỉ cần một biến động như: sự mở rộng thị trường của doanh
nghiệp này sẽ ảnh hưởng tới phần thị trường của các doanh nghiệp khác.
Đây là những nhân tố tác động mạnh mẽ đến sức cạnh tranh của
doanh nghiệp vì đây chính là nội lực của doanh nghiệp.
22
*6 Nguồn nhân lực : Đây chính là những người tạo ra sản
phẩm một cách trực tiếp và gián tiếp.
Đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp sẽ là những người quyết
định các hoạt động sản xuất kinh doanh: Sản xuất cái gì, sản xuất cho ai,
sản xuất như thế nào, khối lượng bao nhiêu. Mỗi một quyết định của họ
có một ý nghĩa hết sức quan trọng liên quan tới sự tồn tại phát triển hay
diệt vong của doanh nghiệp. Chính họ là những người quyết định cạnh
tranh như thế nào, sức cạnh tranh của công ty sẽ tới mức bao nhiêu bằng
những cách nào...
Cùng với máy móc thiết bị và công nghệ, công nhân là những
ngươì trực tiếp sản xuất ra sản phẩm. Sản lượng cũng như chất lựơng sản
phẩm là do họ quyết định. Trình độ tay nghề cao cùng với một lòng hăng
say làm việc là cơ sở đảm bảo chất lượng sản phẩm và tăng năng suất lao
động. Đây là tiền đề để doanh nghiệp có thể tham gia cạnh tranh và đứng
vững trên thị trường.
*7 Cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp.
Một hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại cùng với một công
nghệ tiên tiến phù hợp với quy mô sản xuất của doanh nghiệp chắc chắn
sẽ làm tăng sức cạnh tranh của công ty lên rất nhiều. Với một cơ sở vật
chất như vậy chất lượng sản phẩm được nâng cao hơn cùng với nó giá
thành sản phẩm hạ đi kéo theo sự giảm giá bán trên thị trường, khả năng
chiến thắng trong cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ là rất lớn. Ngược lại,
không một doanh nghiệp nào lại có sức cạnh tranh cao khi mà công
nghệ sản xuất lạc hậu máy móc thiết bị cũ kỹ vì chính nó sẽ làm giảm
chất lượng sản phẩm tăng chi phí sản xuất.
Khả năng tài chính của doanh nghiệp:
Đây là yếu tố quan trọng quyết định khả năng sản xuất cũng như là
này. Cho tới năm 1991, đất nước ta bước vào một giai đoạn mới của thời
kỳ chuyển đổi nền kinh tế. Nhu cầu về dầu mỡ nhờn tăng đột ngột, trong
khi đó, nguồn hàng từ các nước Đông Âu không còn nữa, Petrolimex đã
mở rộng nguồn hàng, các mặt hàng kinh doanh được nhập từ nhiều nước
như Anh, Pháp, Mỹ, Nhật... Đây cũng là thời kỳ đầu phát triển của thị
trường dầu mỡ nhờn. Trên thị trường đã xuất hiện nhiều hãng nổi tiếng
trong và ngoài nước tham gia thị trường nàynhư Castrol, BP, Shell,
Vidamo... Mức độ cạnh tranh trên thị trường trở nên gay gắt. Trước tình
hình như vậy, để nâng cao sức cạnh tranh của mình, đáp ứng một cách
tốt hơn nhu cầu thị trường, vấn đề đặt ra đối với Petrolimex là cần phải
có một công ty chuyên sản xuất kinh doanh sản phẩm dầu mỡ nhờn một
cách có quy mô, có hiệu quả.
Ngày 01/ 09/ 1994, Công ty dầu nhờn Petrolimex được thành lập.
Tên giao dịch : Petrolimex Lubricant Petrolimex ( PLC )
Trụ sở giao dịch : Số 1 Khâm Thiên - Hà Nội.
24
PLC là một doanh nghiệp nhà nước Trực thuộc Tổng công ty Xăng
dầuViệt Nam có tư cách pháp nhân hoạt động theo chế độ hạch toán độc
lập với tổng số vốn điều lệ 52.500 triệu đồng trong đó vốn cố định là
15.000 đồng.
Qua gần 4 năm hoạt động và phát triển công ty đã thiết lập được
một màng lưới đại lý trải dài trên toàn quốc với 4 chi nhánh lớn được đặt
tại Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh, xây dựng
một hệ thống kho cảng, bến bãi, dây chuyền pha chế dầu nhờn công suất
lớn đáp ứng được khoảng 20% nhu cầu thị trường. Ngoài ra, công ty còn
đặc biệt chú ý mở rộng quan hệ hợp tác kinh tế với nước ngoài. Hiện
nay, công ty đại diện cho Petrolimex là một bên đối tác của liên doanh
BP-Petco (liên doanh giữa hãng BP của Vương quốc Anh và
Petrôlimex) cung cấp các sản phẩm dầu mỡ nhờn chất lượng cao cho thị
trường, đồng thời với tư cách là thành viên thứ 27 của ELFLUB-Marine