Một số giải pháp nhằm nâng cao sức cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh dầu nhờn của công ty Dầu nhờn Petrolimex - Pdf 11

Lời mở đầu
Nền kinh tế nớc ta đang ở giai đầu của nền kinh tế thị trờng có sự quản lý của
Nhà nớc. Việc chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế
hoạt động theo sự vận hành của cơ chế thị trờng đã mở ra một thời kỳ mới đầy
những cơ hội phát triển cũng nh là những thách thức lớn lao cho các thành phần
kinh tế, các doanh nghiệp ở Việt Nam.
Một tất yếu kinh tế - một vấn đề thời sự nổi bật nhất trong nền kinh tế
thị trờng hiện nay, đó là cạnh tranh. Bởi vì, bất luận ở lĩnh vực nào, ngành
hàng nào, thị trờng đều có sự chia cắt bởi các doanh nghiệp trong và ngoài nớc. Sự
cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt hơn. Các doanh nghiệp không bao giờ chỉ
thoả mãn với phần thị trờng đã chiếm lĩnh đợc (vì nh vậy có nghĩa là chấp nhận
bị tiêu diệt - điều này rất nguy hiểm), mà luôn tìm cách vơn lên, mở rộng thị tr-
ờng. Để đạt đợc điều này, các doanh nghiệp phải có sức cạnh tranh và cạnh tranh
có hiệu quả. Và vì vậy, xây dựng một chiến lợc cạnh tranh vơí những công cụ,
biện pháp thích hợp nhằm tăng sức cạnh tranh là cơ sở đảm bảo giúp doanh
nghiệp đứng vững và phát triển trong điều kiện cạnh tranh gay gắt trên thị trờng.
Công ty Dầu nhờn Petrolimex (PLC ) là một doanh nghiệp Nhà nớc trực
thuộc Tổng công ty xăng dầu Việt Nam (Petrolimex ) chuyên kinh doanh các sản
phẩm dầu mỡ nhờn và các sản phẩm có nguồn gốc từ dầu mỏ nh nhựa đờng, hoá
chất. Qua gần 5 năm hoạt động và phát triển, công ty đã tìm cho mình một vị trí
khá ổn định trên thị trờng dầu mỡ nhờn. Tuy nhiên, hiện nay, công ty đang phải
đơng đầu với sự cạnh tranh mạnh mẽ từ nhiều phía trên thị trờng dầu mỡ nhờn tại
Viêt Nam với sự tham gia của các doanh nghiệp có tiếng trong và ngoài nớc nh:
Castrol, Shell, Esso, Vidamo... Để tiếp tục phát triển và mở rộng thị trờng, công ty
cần phải nghiên cứu tìm ra một hớng đi phù hợp để nâng cao sức cạnh tranh của
1
m×nh. Cã n©ng cao søc c¹nh tranh, c«ng ty míi cã thÓ chiÕn th¾ng ®îc c¸c ®èi thñ
c¹nh tranh, ®øng v÷ng trªn thÞ trêng c¹nh tranh khèc liÖt nµy.
2
Bắt đầu từ ý tởng này, sau một thời gian thực tập tại Công ty Dầu nhờn
Petrolimex, em đã quyết định chọn đề tài '' Một số giải pháp nhằm nâng cao

mại trong nền kinh tế thi trờng:
1.Tính tất yếu của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trờng:
Kinh tế thị trờng là nền kinh tế chủ yếu đợc điều tiết bởi thị trờng.
Nền kinh tế thị trờng đòi hỏi phải giải quyết các vấn đề cơ bản: sản xuất
cái gì, xản xuất nh thế nào, sản xuất cho ai, và nó đều chịu sự tác động của
các quan hệ cung cầu, quan hệ cạnh tranh và giá cả thị trờng.
Một điều tất yếu và là đặc trng cơ bản nhất của nền kinh tế thị trờng
đó là: bất kỳ một doanh nghiệp nào tham gia hoạt động sản xuất kinh
4
doanh một loại hàng hoá nào đó trên thị trờng đều phải chấp nhận cạnh
tranh.
Cạnh tranh phát triển cùng với sự phát triển của nền sản xuất hàng
hoá t bản chủ nghĩa. Vậy cạnh tranh là gì ?
Theo Marx " Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữa
các nhà t bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất
và tiêu thụ hàng hoá để thu đợc lợi nhuận siêu ngạch ".
Còn theo cuốn từ điển kinh doanh (xuất bản 1992 ở Anh ), cạnh
tranh trong cơ chế thị trờng đợc định nghĩa là " sự ganh đua, sự kình
định giữa các nhà kinh doanh nhằm tranh giành tài nguyên sản xuất
cùng một loại về phía mình ".
Nh vậy, hiểu theo một nghĩa chung nhất, cạnh tranh là sự ganh đua
giữa các doanh nghiệp trong việc giành giật thị trờng và khách hàng.
Thực chất của cạnh tranh là sự tranh giành về lợi ích kinh tế giữa
các chủ thể tham gia thị trờng. Đối với ngời mua, họ muốn mua đợc loại
hàng hoá có chất lợng cao, với một mức giá rẻ. Còn ngợc lại, các doanh
nghiệp bao giờ cũng muốn tối đa hoá lợi nhuận của mình. Vì mục tiêu
lợi nhuận, họ phải giảm chi phí và tìm cách giành giật khách hàng và thị
trờng về phía mình. Và nh vậy, cạnh tranh sẽ xảy ra.
Cạnh tranh là một điều tất yếu của thị trờng. Các doanh nghiệp
bắt buộc phải chấp nhận cạnh tranh, ganh đua với nhau, phải luôn không

cạnh tranh này để xác định đúng đối thủ cạnh tranh, từ đó lựa chọn chính
xác vũ khí cạnh tranh phù hợp với điều kiện và đặc điểm của mình.
Cạnh tranh giữa các ngành: là cuộc đấu tranh giữa các nhà doanh nghiệp
sản xuất, mua bán hàng hoá, dịch vụ trong các ngành kinh tế khác nhau
6
nhằm thu lợi nhuận và có tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với vốn đã bỏ ra và
đầu t vốn vào ngành có lợi nhất cho sự phát triển. Sự cạnh tranh giữa các
ngành dẫn đến việc các doanh nghiệp luôn tìm kiếm những ngành đầu t có lợi
nhất nên đã chuyển vốn từ ngành ít lợi nhuận sang ngành có nhiều lợi nhuận.
Sau một thời gian nhất định, sự điều chuyển tự nhiên theo tiếng gọi của lợi
nhuận này, vô hình chung hình thành lên sự phân phối vốn hợp lí giữa các
ngành sản xuất, dẫn đến kết quả cuối cùng là các chủ doanh nghiệp đầu t ở
các ngành khác nhau với số vốn bằng nhau chỉ thu đợc lợi nhuận nh nhau.
Cạnh tranh trong nội bộ ngành: là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
cùng sản xuất và tiêu thụ, một loại hàng hoá hoặc dịch vụ nào đó. Cạnh tranh
trong nội bộ ngành dẫn đến sự hình thành giá cả thị trờng đồng nhất đối với
hàng hoá dịch vụ cùng loại trên cơ sở giá trị xã hội của hàng hoá dịch vụ đó.
Trong cuộc cạnh tranh này, các doanh nghiệp thôn tính lẫn nhau. Những
doanh nghiệp chiến thắng sẽ mở rộng phạm vi họat động của mình trên thị tr-
ờng, những doanh nghiệp thua cuộc sẽ phải thu hẹp kinh doanh, thậm chí bị
phá sản.
Trong nền kinh tế thị trờng, mục tiêu tối cao và duy nhất trong kinh
doanh của các doanh nghiệp là lợi nhuận tối đa, vì đó là thu nhập hiện tại
của chủ sở hữu doanh nghiệp và là tiền đề để hiện đại hoá và phát triển
doanh nghiệp, tạo thu nhập trong tơng lai cho họ. Bên cạnh đó, trên thị tr-
ờng có rất nhiều doanh nghiệp cùng kinh doanh một loại hàng hoá, cạnh
tranh trên thị trờng là không tránh khỏi vì đó là cuộc cạnh tranh vì lợi ích
vật chất giữa các doanh nghiệp với nhau.
Và nh vậy, cạnh tranh lành mạnh là nh là một động lực quan trọng
để phát triển lực lợng sản xuất, tiến bộ khoa học kĩ thuật, quản lí, là điều

những doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, sử dụng lãng phí những nguồn lực
của xã hội bằng các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, nhằm đáp
ứng tốt hơn nhu cầu của xã hội, thúc đẩy nền kinh tế của đất nớc phát
triển. Có thể nói rằng, cạnh tranh lành mạnh _ động lực phát triển kinh
tế của mỗi quốc gia cũng nh của từng doanh nghiệp. Cạnh tranh là
điều kiện quan trọng để phát triển lực lợng sản xuất, tiến bộ kĩ thuật, là
điều kiện giáo dục tính tháo vát, năng động và sáng kiến cho các nhà
sản xuất kinh doanh
II. Các hình thái cạnh tranh trong kinh doanh thơng mại:
(Phân loại thị trờng theo mức độ cạnh tranh)
Đây là dạng phân loại thị trờng gắn liền với phơng thức hình thành và vận
động giá cả thị trờng.
Theo cách phân loại này có các dạng thị trờng sau:
9
1. Thị trờng cạnh tranh hoàn hảo:
a) Khái niệm:
Thị trờng cạnh tranh hoàn hảo là thị trờng mà ở đó có rất nhiều ngời
bán mà không có ngời nào có u thế để cung ứng một số lợng sản phẩm lớn
ảnh hởng đến giá cả. Các sản phẩm mua bán trên thị trờng này là sự đồng
nhất, tức là nó rất ít khác nhau về quy cách, mẫu mã, phẩm chất. Điều kiện
tham gia và rút khỏi thị trờng rất dễ dàng. Những ngời bán tham gia trên
thị trờng chỉ có cách thích ứng với giá thị trờng. Họ không có khả năng
định giá. Do đó, các doanh nghiệp tham gia kinh doanh trên thị trờng này
chủ yếu tìm biện pháp giảm thấp chi phí tới mức thấp nhất.
b) Tác dụng của thị trờng cạnh tranh hoàn hảo:
Thúc đẩy các doanh nghiệp phải cải tiến công nghệ, thay đổi sản phẩm
cho phù hợp với thị hiếu của ngời tiêu dùng.
Làm cho ngòi tiêu dùng dễ dàng lựa chọn cho mình những sản phẩm vừa
ý với mức giá thấp.
Nhìn chung, xã hội thu đợc lợi ích do tài nguyên đợc phân phối theo hớng

ảnh hởng tơng đối lớn đến các quyết định về sản xuất và kinh doanh của
riêng mình.
Trên thị trờng cạnh tranh độc quyền, sản phẩm của các doanh nghiệp
là khác nhau. Ngời tiêu dùng phân biệt đợc các sản phẩm của doanh
nghiệp thông qua nhãn hiệu, quảng cáo, bao bì và các dịch vụ khác.Trên
thị trờng này, doanh nghiệp có quyền định gía hàng hoá nhng không hòan
11
toàn tuỳ ý của mình, và các điều kiện mua bán hàng hoá cuãng khác nhau.
Doanh nghiệp có thể có uy tín độc đáo khác nhau đối với khách hàng.
Tóm lại, trong nền kinh tế thị trờng hiện nay, trạng thái thị trờng độc
quyền hầu nh rất khó đạt đợc và nếu nó xuất hiện thì xem xét nó nh trạng
thái cạnh tranh độc quyền để giải quyết. Và nh vậy là, mức độ khốc liệt
của cạnh tranh giảm dần từ cạnh tranh hoàn hảo đến cạnh tranh độc quyền.
3. Thị trờng độc quyền:
Thị trờng độc quyền là thị trờng mà ở đó có một hay ngòi bán độc
nhất có thể kiểm soát trên thị trờng. Điều kiện gia nhập hoặc rút lui khỏi
thị trờng độc quyền có rất nhiều trở ngại do đầu t vốn lớn hoặc do độc
quyền kĩ thuật, công nghệ...Vì vậy mà thị trờng này không có cạnh tranh
về giá mà ngời bán hoàn toàn quyết định giá.
Trên thị trờng độc quyền, đờng cầu của toàn xã hội về một loại hàng
hoá dịch vụ cũng chính là đờng cầu của hãng độc quyền. Doanh nghiệp
độc quyền có thể chi phối và quyết định giá cả và lợng hàng hoá bán ra
trên thị trờng bằng các biện pháp ứng xử của mình.
Để gây trở ngại cho ngời tiêu dùng, doanh nghiệp độc quyền có thể
tạo ra sự khan hiếm hàng hoặc bán hàng với giá cao. Do vậy, nhiều nớc đã
có luật chống độc quyền. Tuy nhiên, độc quyền cũng có mặt tích cực của
nó, đó là độc quyền đem lại lợi ích cho xã hội nhờ đẩy mạnh hoạt động
nghiên cứu và phát triển. Doanh ngiệp độc quyền thờng có trình độ tập
trung hoá sản suất cao, mở rộng đợc quy mô sản xuất nên giảm đợc chi phí
sản xuất trên một đơn vị sản phẩm.

của một hoặc một số tầng lớp ngời nhất định.
+ Chất lợng phù hợp: là chất lợng đảm bảo theo thiết kế hay tiêu chuẩn
hoá quy định.
+ Chất lợng thị hiếu: là chất lợng phù hợp với ý thích và tâm lí của ngời
tiêu dùng.
Yêu cầu cao nhất đối với từng doanh nghiệp là phải thoả mãn đợc tất
cả bốn loại chất lợng nêu trên. Thế nhng, trong thực tế doanh nghiệp chỉ có
thể thoả mãn đợc một số loại chất lợng nhất định.
Để thoả mãn cao nhất cả bốn loại chất lợng nêu trên, khi xác định
chiến lợc sản phẩm doanh nghiệp nên kéo dài giai đoạn làm chủ thị trờng
của sản phẩm của mình thông qua xem xét một số chỉ tiêu sau:
Chỉ tiêu công dụng, chỉ tiêu độ tin cậy, chỉ tiêu động lực học, chỉ tiêu
thẩm mỹ, chỉ tiêu công nghệ, chỉ tiêu thống nhất hoá, chỉ tiêu sinh thái.
Tuỳ loại sản phẩm mà doanh nghiệp tập trung nghiên cứu và giải
quyết những chỉ tiêu nào.
Tuy nhiên để có sản phẩm có chất lợng cao, doanh nghiệp phải có
trang thiết bị máy móc hiện đại, công nghệ tiên tiến và tăng cờng quản lí
kĩ thuật.
14
Cạnh tranh bằng giá cả: Đây là hình thức hấp dẫn khách hàng bằng cách
bán hàng với giá rẻ hơn của đối thủ cạnh tranh. Nó đợc đa ra để làm vũ khí
cạnh tranh trong trờng hợp cung hàng hoá lớn hơn cầu về một loại hàng hoá.
Khi chất lợng hàng hoá trên thị trờng đã đợc bảo đảm, khách hàng yên tâm
về chất lợng thì họ sẽ tìm đến với doanh nghiệp bán hàng với giá rẻ để mua.
Song không phải lúc nào doanh nghiệp cũng có thể dùng vũ khí này bởi lẽ nó
còn phụ thuộc vào chi phí cho sản phẩm đó. Mặt khác, nên sử dụng này tuỳ
theo thời điểm, tuỳ thuộc vào từng loại khách hàng, nếu không chính nó lại
tác động không tốt đối với doanh nghiệp, làm giảm uy tín của doanh nghiệp
trên thị trờng.
Cạnh tranh bằng dịch vụ: là sự cạnh tranh trong việc tổ chức thực hiện các

Chia tuyến thị trờng: Đây là phơng pháp làm cho các đối thủ cạnh tranh
thấy rằng mình không phải là đối thủ, kẻ thù của họ.
Giải pháp này có những cách tiếp cận sau:
_Chọn các tuyến thị trờng cha hoặc còn ít các nhà doanh nghiệp tiếp cận
_Những vùng, địa phơng có nhu cầu lớn mà cha có nhà doanh nghiệp nào
thoả mãn.
_Tiếp cận những thị trờng mà nhận thấy đối phơng đang hoạt động cha tốt.
Khi chọn tuyến thị trờng, nhà doanh nghiệp cần phân tích:
_Tiềm năng của tuyến thị trờng cần tiếp cận ra sao?
16
_Bằng cách nào để xâm nhập thị trờng?
_Làm gì để bảo vệ vị trí của doanh nghiệp khi có đối phơng tấn công trên
tuyến thị trờng này?
_Tại sao các nhà doanh nghiệp khác cha hoặc tiếp cận yếu với tuyến thị tr-
ờng này?
Trên cơ sở luận chứng đầy đủ các dữ kiện, nhà doanh nghiệp cần chủ động
dũng mãnh chiếm lĩnh tuyến thị trờng sao cho thắng lợi.
Ngăn chặn sự xâm nhập của đối thủ cạnh tranh:
Sau khi mở rộng tuyến thị trờng, nhà doanh nghiệp phải củng cố và
tìm mọi biện pháp để hạn chế sự xâm nhập của các đối thủ cạnh tranh trên
tuyến thị trờng mình hoạt động.
Có thể có những cách làm sau đây:
_Chuẩn bị khối lợng hàng lớn, chất lợng tốt hoặc có sản phẩm mới... để
phản công sản phẩm của đối phơng.
_Có thể giảm giá thấp hơn sản phẩm của đối phơng.
_Có chính sách hấp dẫn hơn với các đại lí, các nhà bán sỉ, bán lẻ, ngời tiêu
dùng.
_Nâng cao uy tín sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trờng.
_Khai thác các lợi thế của doanh nghiệp
Tuy nhiên ngăn chặn chỉ làm chậm sự xâm nhập của đối phơng mà

18
Sức cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện ở 4 mặt : Giá cả, giá trị sử
dụng hay là chất lợng sản phẩm và nghệ thuật tổ chức tiêu thụ hàng hoá và
yếu tố thời gian. Các doanh nghiệp phải luôn luôn đa ra các phơng án, các
giải pháp tối u nhất để giảm chi phí sản xuất để từ đó giảm giá thành, giá
bán, áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất, nâng cao hiệu quả quản lý để
nâng cao chất lợng sản phẩm, tổ chức tốt màng lới bán hàng và biết chọn
đúng thời điểm bán hàng nhằm thu hút đợc khách hàng, mở rộng thị trờng.
Chỉ tiêu tổng hợp nhất để đánh giá sức cạnh tranh của một doanh
nghiệp là thị phần mà doanh nghiệp đã chiếm đợc. Thị phần càng lớn càng
thể hiện rõ sức cạnh tranh của doanh nghiệp càng mạnh. Để tồn tại và có sức
cạnh tranh, doanh nghiệp phải chiếm giữ đợc một phần thị trờng bất kể nhiều
hay ít, chính điều này đã phản ánh đợc quy mô tiêu thụ của doanh nghiệp.
Qua đó ta cũng có thể đánh giá đợc sức cạnh tranh của mỗi một doanh
nghiệp u thế cũng nh các điểm mạnh, điểm yếu tơng đối của doanh nghiệp
so với các đối thủ cạnh tranh trong ngành.
Tăng sức cạnh tranh là một điều tất yếu của mỗi một doanh nghiệp
hoạt động trong cơ chế thị trờng.
1.2 - Các yếu tố quyết định sức cạnh tranh của công ty.
a/ Sản phẩm và cơ cấu sản phẩm.
Điều quan trọng nhất đối với một doanh nghiệp hoạt động sản xuất
kinh doanh là phải trả lời đợc những câu hỏi cơ bản: Sản xuất cái gì ? cho ai ?
nh thế nào? và nh vậy có nghĩa là doanh nghiệp đã xây dựng cho mình một
chính sách sản phẩm. Không một doanh nghiệp nào hoạt động trên thị trờng
mà lại không có sản phẩm kinh doanh cho dù là hữu hình hay vô hình.Vấn đề
đặt ra cho các doanh nghiệp là phải làm cho sản phẩm của mình thích ứng đ-
ợc với thị trờng một cách nhanh chóng thì mới có thể tiêu thụ hết trên thị tr-
ờng, mở rộng thị trờng, tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
19
Để có thể cạnh tranh với các đối thủ trên thị trờng, doanh nghiệp phải

cùng một loại sản phẩm với chất lợng tơng đơng nhau, chắc chắn họ sẽ lựa
chọn mức giá bán thấp hơn, khi đó sản lợng tiêu thụ của doanh nghiệp sẽ
tăng lên.
Giá cả đợc thể hiện nh một vũ khí để cạnh tranh thông qua việc định
giá của sản phẩm: Định giá thấp, định giá ngang thị trờng hay là chính
sách định giá cao.
Với một mức giá ngang thị trờng giúp doanh nghiệp giữ đợc khách
hàng, nếu doanh nghiệp tìm ra những biện pháp giảm giá thành thì lợi
nhuận thu đợc sẽ tăng lên, hiệu quả kinh doanh cao. Ngợc lại, với một mức
giá thấp hơn giá thị trờng thì sẽ thu hút đợc nhiều khách hàng và tăng sản
lợng tiêu thụ, doanh nghiệp sẽ có cơ hội thâm nhập thị trờng, chiếm lĩnh
thị trờng mới. Mức giá doanh nghiệp áp đặt cao hơn mức giá thị trờng chỉ
sử dụng đợc với các doanh nghiệp có tính độc quyền, điều này sẽ giúp cho
doanh nghiệp thu đợc rất nhiều lợi nhuận (lợi nhuận siêu ngạch).
Để chiếm lĩnh đợc u thế trong cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải có
sự lựa chọn các chính sách giá thích hợp cho từng loại sản phẩm, từng giai
đoạn trong chu kỳ sản phẩm hay tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng vùng thị
trờng.
c) Chất lợng sản phẩm.
Nếu nh trớc kia, giá cả đợc coi là yếu tố quan trọng nhất trong cạnh
tranh thì ngày nay nó đã phải nhờng chỗ cho chỉ tiêu chất lợng sản phẩm.
Trên thực tế, cạnh tranh bằng giá là ''biện pháp nghèo nàn'' nhất vì nó làm
giảm lợi nhuận thu đợc, mà ngợc lại, cùng một loại sản phẩm, chất lợng
sản phẩm nào tốt đáp ứng đợc yêu cầu thì ngời tiêu dùng cũng sẵn sàng
21
mua với một mức giá có cao hơn một chút cũng không sao, nhất là trong
thời đại ngày nay khi mà khoa học kỹ thuật đang trong giai đoạn phát triển
mạnh, đời sống của nhân dân đợc nâng cao rất nhiều so với trớc.
Chất lợng sản phẩm là hệ thống nội tại của sản phẩm đợc xác định
bằng các thông số có thể đo đợc hoặc so sánh đợc thoả mãn những điều

Việc đầu tiên của quá trình tổ chức tiêu thụ sản phẩm là phải lựa
chọn các kênh phân phối sản phẩm một cách hợp lý, có hiệu quả nhằm
mục đích đáp ứng một cách tốt nhất các yêu cầu của khách hàng, nhanh
chóng giải phóng nguồn hàng, để bù đắp chi phí sản xuất, thu hồi vốn.
Xây dựng một hệ thống mạng lới tiêu thụ sản phẩm tốt cũng có nghĩa là
xây dựng một nền móng vững chắc để phát triển thị trờng, bảo vệ thị phần
của doanh nghiệp có đợc.
Bên cạnh việc tổ chức màng lới bán hàng, doanh nghiệp cũng cần
đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ bán hàng nh quảng cáo, khuyến mại, các
dịch vụ sau bán hàng. Đây là một hình thức cạnh tranh phi giá, gây sự chú
ý và thu hút khách hàng.
Hoạt động tiêu thụ sản phẩm đợc tổ chức tốt sẽ làm tăng sản lợng
bán hàng từ đó sẽ tăng doanh thu, tăng lợi nhuận dẫn tới tốc độ thu hồi vốn
nhanh, kích thích sản xuất phát triển.
Công tác tổ chức tiêu thụ tốt cũng là một trong những yếu tố làm
tăng uy tín của doanh nghiệp trên thị trờng. Các hoạt động nh quảng cáo
tham gia hội chợ, tổ chức hội nghị khách hàng... là những hình thức tốt
nhất để giới thiệu về các sản phẩm và doanh nghiệp của mình từ đó giúp
23
cho doanh nghiệp tìm ra đợc nhiều bạn hàng mới, mở rộng thị trờng nâng
cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
e) Yếu tố thời gian
Sự phát triển nh vũ bão của khoa học công nghệ trong giai đoạn hiện
nay làm thay đổi nhanh chóng nếp nghĩ, sở thích hay là nhu cầu của con
ngời cũng nh kéo theo sự rút ngắn của chu kỳ sản phẩm. Đối với các
doanh nghiệp, yếu tố quan trọng quyết định thành công trong kinh doanh
hiện đại chính là thời gian và tốc độ chứ không phải là các yếu tố truyền
thống nh nguyên vật liệu hay lao động.
Những thay đổi nhanh chóng của tiến bộ khoa học kỹ thuật đã làm
cho các cuộc cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt, khốc liệt hơn và trong

đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ.
Trong cơ chế thị trờng, cạnh tranh là một quy luật tất yếu khách
quan. Các doanh nghiệp tham gia thị trờng đều phải chấp nhận cạnh tranh.
Cạnh tranh một mặt sẽ thúc đẩy sản xuất phát triển, mặt khác nó sẽ đào
thải không thơng tiếc những doanh nghiệp yếu thế không có đủ sức cạnh
tranh. Do vậy để tồn tại và phát triển, các doanh nghiệp phải không ngừng
phấn đấu tìm ra các giải pháp để giảm chi phí sản xuất giá hành giá bán
sản phẩm, tổ chức hệ thống tiêu thụ môt cách tốt nhất, đúng lúc nhất mà
vẫn đảm bảo chất lợng sản phẩm đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay.
Đi đôi với sự phát triển nh vũ bão của khoa học kỹ thuật, những đòi hỏi,
yêu cầu của ngời tiêu dùng ngày càng ở mức cao hơn. Để đáp ứng nhu cầu thị
trờng, đẩy nhanh tốc độ tiêu thụ sản phẩm, các doanh nghiệp buộc phải tiến
hành các hoạt động marketing, tìm hiểu thị trờng. Và trong cuộc chiến này ng-
ời nào nhanh hơn ngời đó sẽ thắng.
25

Trích đoạn 2 Nâng cao công tác quản lý chất lợng: Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến, khuyếch trơng sản phẩm Xâydựng và tổ chức thực thi một hệ thống pháp luật, Xâydựng và thực hiện hữu hiệu hệ thống chính sách hỗ trợ Hòan thiện cơ chế quản lý của Nhà nớc đối với doanh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status