VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÝ QUỲNH LINH
DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TỪ THỰC TIỄN
TRUNG TÂM PHỤNG DƯỠNG NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI
CÁCH MẠNG ĐÀ NẴNG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÝ QUỲNH LINH
DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI
NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TỪ THỰC TIỄN
TRUNG TÂM PHỤNG DƯỠNG NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI
CÁCH MẠNG ĐÀ NẴNG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
Thạc sĩ Công tác xã hội về “Dịch vụ Công tác xã hội đối với người có công
với cách mạng từ thực tiễn Trung tâm Phụng dưỡng người có công với
cách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng” là hoàn toàn trung thực và không
trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn
Lý Quỳnh Linh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ
HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG CÁCH MẠNG
1.1. Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu của người có công với cách
mạng.............................................................................................................
1.2. Nhu cầu, khái niệm, cách tiếp cận, kỹ năng dịch vụ công tác xã hội đối
với người có công với cách mạng...................................................................
1.3. Nội dung dịch vụ công tác xã hội đối với người có công với cách mạng....
1.4. Thể chế dịch vụ dịch vụ công tác xã hội đối với người có công với cách
mạng.............................................................................................................
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội đối với người có công
với cách mạng.............................................................................
Chương 2. THỰC TRẠNG NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG VÀ
THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ
CÔNG VỚI CÁCH MẠNG TẠI TRUNG TÂM PHỤNG DƯỠNG
NGƯỜI CÓ CÔNG CÁCH MẠNG ĐÀ NẴNG, THÀNH PHỐ ĐÀ
2.3. Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với người có công với cách mạng
tại Trung tâm Phụng dưỡng người có công cách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà
Nẵng.............................................................................................................
2.4. Đánh giá dịch vụ công tác xã hội đối với người có công với cách mạng tại
Trung tâm Phụng dưỡng người có công cách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà
Nẵng.............................................................................................................
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM ĐẢM BẢO THỰC
HIỆN DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG
VỚI CÁCH MẠNG TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM PHỤNG DƯỠNG
NGƯỜI CÓ CÔNG CÁCH MẠNG ĐÀ NẴNG, THÀNH PHỐ ĐÀ
NẴNG
3.1. Các định hướng đảm bảo thực hiện dịch vụ công tác xã hội đối với người
có công với cách mạng..................................................................................
3.2. Các giải pháp đảm bảo thực hiện dịch vụ công tác xã hội đối với người có
công với cách mạng từ thực tiễn Trung tâm Phụng dưỡng người có công cách
mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng................................................................
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
LĐ-TB&XH
CTXH
NVCTXH
UBND
HĐND
UBMTTQ
NCC
NCCVCM
Bảng 2.3: Phân loại theo độ tuổi người có công với cách mạng
Bảng 2.4: Phân loại về sức khỏe người có công với cách mang
Bảng 2.5: Phân loại về bệnh tật người có công với cách mạng
Bảng 2.6: Số lượng người có công với cách mạng hưởng trợ cấp
Bảng 2.7: Mức độ hài lòng về cuộc sống
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dân tộc Việt Nam đã trải qua những năm tháng chiến tranh tàn khốc và
ác liệt. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân
dân Việt Nam đã vùng lên chiến đấu theo chân lý: “Không có gì quý hơn độc
lập tự do”, với tinh thần: “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, “Thà hy sinh tất
cả chứ không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, rất nhiều người con yêu
nước, nhiều cá nhân và gia đình đã hiến dâng cả tính mạng, xương máu, sức
lực, trí tuệ và tuổi trẻ của mình cho đất nước, để khi họ trở về với cuộc sống
đời thường lại mang trên mình những thương tật, bệnh tật, di chứng của chiến
tranh. Chính vì thế mà Tổ quốc và nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn to lớn
của những người con anh dũng ấy. Và việc quan tâm chăm lo đời sống vật
chất, tinh thần cho những người có công với đất nước và gia đình họ vừa thể
hiện truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” tốt đẹp của
dân tộc ta vừa là trách nhiệm của Đảng, của Nhà nước và cả xã hội. Bởi vậy,
ngay sau khi giành được chính quyền, từ những ngày đầu của cuộc kháng
chiến chống thực dân Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 20/SL
ngày 16/02/1947 về “Ưu đãi người có công” để đền đáp những công lao, cống
hiến của họ.
Theo thống kê, cả nước hiện có trên 8,8 triệu NCCVCM, chiếm gần 10%
người tham gia kháng chiến bị địch bắt tù, đày, 2.912 người tham gia kháng
chiến và con đẻ của họ bị nhiễm CĐHH, 9.650 con liệt sĩ, TB, BB được
hưởng chính sách ưu đãi giáo dục - đào tạo, có 3.116 Mẹ được tuyên dương
danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ VNAH, trong đó có 240 Mẹ còn sống, có
56/56 xã, phường đã được công nhận là xã, phường làm tốt công tác TBLS và
người có công theo 6 tiêu chuẩn của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội,
100% GĐCS có mức sống cao hơn mức sống trung bình khu dân cư nơi cư
trú. Trong 2 năm (2015-2016), thành phố xây mới 549 nhà tình nghĩa (kinh
phí 32,940 tỷ đồng), sửa chữa 2.007 nhà (kinh phí 41,767 tỷ đồng).
Tuy nhiên, những thành công ấy được xét dưới góc độ chính trị - xã hội,
còn dưới góc độ CTXH thì dường như chưa được coi trọng và quan tâm đúng
mức; chưa huy động được các nhà khoa học, các nhà chuyên môn trong lĩnh
vực CTXH để tham gia xây dựng chính sách; các hoạt động, phong trào còn
mang tính hình thức, thiếu chiều sâu, thiếu tính bền vững; nguồn lực đầu tư để
thực hiện CTXH và cung cấp DVCTXH còn hạn chế, trong đó có nguồn nhân
lực; việc triển khai thực hiện chính sách còn chồng chéo, nhiều cơ quan quản
lý, thủ tục hành chính rườm rà, phức tạp; việc phối hợp giải quyết vấn đề của
một số cơ quan và địa phương đôi khi thiếu chặt chẽ, chậm trể. Vì vậy chưa
thật sự đáp ứng được mong mỏi, yêu cầu của NCCVCM.
Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài “Dịch vụ Công tác xã hội đối với
người có công với cách mạng từ thực tiễn Trung tâm Phụng dưỡng người
có công với cách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng” làm luận văn thạc sỹ
của mình. Với đề tài này, tác giả muốn được đóng góp một phần sức lực của
mình trong việc đưa ra một số khuyến nghị, giải pháp nhằm cung ứng các loại
hình dịch vụ và nâng cao chất lượng dịch vụ CTXH đối với NCCVCM.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
2.1. Một số nghiên cứu ở nước ngoài
ANN MCDONALD (2010) trong cuốn sách “Social Work with older
Luận văn Thạc sĩ Công tác xã hội, học viện Khoa học xã hội “Công tác
xã hội với thương binh từ thực tiễn xã Pơng Drang, huyện Krông Búk, tỉnh
Đắk Lắk” của tác giả Vũ Thị Vân Anh đã phân tích, đánh giá việc thực hiện
chính sách đối với TB và các hỗ trợ xã hội đối với TB tại một địa phương
dưới góc nhìn của ngành CTXH. Tác giả đã nghiên cứu, đánh giá sâu nhu cầu
của TB và đưa ra được giải pháp hỗ trợ mang tính bền vững cao phù hợp với
TB và điều kiện thực tiễn của địa phương. Luận văn là tài liệu tham khảo tốt
đối với tôi trong việc nghiên cứu thực hiện đề tài tốt nghiệp.
Đối với thành phố Đà Nẵng, qua tìm hiểu, đến nay chưa có chương trình
hay đề tài nào nghiên cứu về dịch vụ CTXH đối với NCCVCM trên địa bàn
thành phố để đưa ra những khuyến nghị, giải pháp nhằm định hướng trợ giúp
cho NCCVCM. Vì vậy, đề tài mà tác giả nghiên cứu hoàn toàn mang tính
mới, và mong muốn góp phần tìm ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả
cung cấp dịch vụ CTXH đối với NCCVCM.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề về lý luận và thực tiễn dịch vụ công tác xã hội đối
với NCCVCM (qua thực tiễn Trung tâm Phụng dưỡng người có công cách
mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng). Từ đó, đề xuất các giải pháp nâng cao
hiệu quả DVCTXH đối với NCCCM.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đề ra, luận văn tập trung giải quyết
những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về công tác xã hội đối với NCCVCM.
- Đi sâu vào tìm hiểu, đánh giá thực trạng đời sống của NCCVCM; thực
trạng DVCTXH đối với NCCVCM cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu
quả cung cấp DVCTXH đối với NCCVCM tại Trung tâm Phụng dưỡng người
có công cách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng.
tâm Phụng dưỡng người có công cách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng.
- Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: nghiên cứu hệ thống những
lý thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống các yếu tố có liên quan
như dịch vụ hỗ trợ của công tác xã hội đối với NCCVCM.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp phân tích tài liệu
Trong quá trình nghiên cứu, tôi sử dụng phương pháp phân tích tài liệu để:
- Đọc và tìm hiểu các giáo trình, tài liệu có liên quan đến CTXH như:
Nhập môn CTXH, Phát triển cộng đồng, Lý thuyết CTXH…
- Đọc và phân tích các tài liệu, báo cáo của các cấp chính quyền địa
phương, ngành như: "Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế
- xã hội, đảm bảo quốc phòng - an ninh năm 2016” của UBND thành phố Đà
Nẵng; “Báo cáo kết quả thực hiện Pháp lệnh ưu đãi người có công với các
mạng những năm vừa qua và nhiệm vụ giải pháp trong thời gian tới” của Sở
Lao động - Thương binh và xã hội thành phố Đà Nẵng…
5.2.2. Phương pháp điều tra bảng hỏi
Là phương pháp dựa trên hình thức hỏi đáp gián tiếp dựa trên bảng các
câu hỏi được soạn thảo trước, điều tra viên tiến hành phát bảng hỏi, hướng
dẫn thống nhất cách trả lời các câu hỏi, người được hỏi tự đọc các câu hỏi
trong bảng hỏi rồi ghi cách trả lời của mình vào phiếu hỏi rồi gửi lại cho điều
tra viên.
Tác giả đã tiến hành điều tra 30 NCCVCM được chăm sóc, phụng dưỡng
tại Trung tâm. Nội dung là đánh giá về các dịch vụ vật chất, chăm sóc sức
khỏe, vui chơi giải trí, hỗ trợ đời sống tinh thần của Trung tâm đối với
NCCVC.
5.2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
Tác giả sử dụng phương pháp này với mục đích tìm hiểu, thu thập thông
tin chuyên sâu từ NCCVCM và những người trợ giúp NCCVCM về khả năng,
Trung tâm Phụng dưỡng người có công cách mạng Đà Nẵng nói riêng.
Giúp cho nhà quản lý, NVCTXH thấy được tầm quan trọng của việc
cung cấp DVCTXH đối với NCCVCM tại cơ sở chăm sóc; DVCTXH của cơ
sở có đáp ứng được yêu cầu, sự mong muốn của NCCVCM hay chưa; sự
tham gia của NCCVCM vào việc thực hiện DVCTXH.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ
lục, nội dung của đề tài gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với
NCCVCM.
Chương 2: Thực trạng người có công với cách mạng và thực trạng dịch
vụ CTXH đối với NCCVCM tại Trung tâm Phụng dưỡng người có công cách
mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng.
Chương 3: Định hướng và các giải đảm bảo thực hiện dịch vụ công tác
xã hội đối với NCCVCM từ thực tiễn Trung tâm Phụng dưỡng người có công
cách mạng Đà Nẵng, thành phố Đà Nẵng.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI CÁCH MẠNG
1.1. Khái niệm, đặc điểm và nhu cầu của người có công với cách
mạng
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm của người có công với cách mạng
Khái niệm người có công
Căn cứ các tiêu chuẩn đối với từng đối tượng là NCC mà Nhà nước đã
quy định, trong một số công trình đã nêu khái niệm NCC theo 2 nghĩa sau:
đ) Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân;
e) Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến;
g) Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh;
h) Bệnh binh;
i) Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học;
k) Người hoạt động cách mạng, hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù, đày;
l) Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và
làm nghĩa vụ quốc tế;
m) Người có công giúp đỡ cách mạng” [34, tr.1].
Cụ thể:
- Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 (còn
được gọi là Cán bộ Lão thành cách mạng) là người được cơ quan, tổ chức có
thẩm quyền công nhận đã tham gia tổ chức cách mạng trước ngày 01 tháng 01
năm 1945 [34, tr.3].
- Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày
khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 (còn gọi là Cán bộ Tiền khởi nghĩa) là người
được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền công nhận đứng đầu một tổ chức quần
chúng cách mạng cấp xã hoặc thoát ly hoạt động cách mạng kể từ ngày 01
tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám năm 1945
[34, tr.4].
- Liệt sĩ là người đã hy sinh vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc,
bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế hoặc vì lợi ích của Nhà nước, của
nhân dân và được Nhà nước truy tặng Bằng “Tổ quốc ghi công” thuộc một
trong các trường hợp pháp luật quy định [34, tr.5].
Quy định về thân nhân liệt sĩ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp
“Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ” và được hưởng chế độ ưu đãi.
- Bà mẹ Việt Nam Anh hùng là những bà mẹ có nhiều cống hiến, hy sinh
vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế và
một trong các trường hợp: mắc bệnh làm suy giảm khả năng lao động từ 21%
trở lên; vô sinh; sinh con bị dị tật, dị dạng [34, tr.11-12].
- Người hoạt động cách mạng hoặc hoạt động kháng chiến bị địch bắt tù,
đày là người được cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền công nhận trong
thời gian bị tù, đày không khai báo có hại cho cách mạng, cho kháng chiến,
không làm tay sai cho địch [34, tr.12].
- Người hoạt động kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và
làm nghĩa vụ quốc tế là người tham gia kháng chiến được tặng “Huân chương
kháng chiến”, “Huy chương kháng chiến” [34, tr.12].
- Người có công giúp đỡ cách mạng là người đã có thành tích giúp đỡ
cách mạng trong lúc khó khăn, nguy hiểm, bao gồm: người được tặng Kỷ
niệm chương “Tổ quốc ghi công” hoặc Bằng “Có công với nước” trước Cách
mạng tháng Tám năm 1945; người được tặng “Huân chương kháng chiến”
hoặc “Huy chương kháng chiến”; người trong gia đình được tặng “Huân
chương kháng chiến” hoặc “Huy chương kháng chiến” [34, tr.13].
- Một vài đặc điểm của người có công với cách mạng
NCCVCM hầu hết đều trải qua chiến tranh, họ luôn nhớ về những người
cùng hoạt động cách mạng, những đồng đội đã anh dũng hy sinh; có ý thức tự
hào về quá khứ cống hiến của mình cho cách mạng, có tinh thần trách nhiệm
giữ gìn những phẩm chất và truyền thống cách mạng; phần lớn họ tuổi đã cao,
sức khỏe bị suy giảm nhiều do bị thương tật, bệnh tật; họ có nhiều công lao,
đóng góp cho cách mạng, cho đất nước.
Khi hòa bình lập lại, NCCVCM tiếp tục có nhiều đóng góp vào công
cuộc xây dựng, phát triển đất nước, họ luôn trăn trở trước vận mệnh của đất
nước; họ tình nguyện tham gia vào các hoạt động đi tìm đồng đội, các hoạt
động xã hội ở địa phương; là tấm gương cho gia đình, dòng họ, con cháu noi
theo; họ nhạy cảm với các chính sách, chế độ của Đảng và Nhà nước, nhất là
những vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích của họ; họ thích được quan tâm,
Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy, hiện nay NCCVCM có những nhu
cầu sau:
- Đối với nhu cầu sống: sau nhiều năm tháng tham gia chiến đấu, phục
vụ kháng chiến, công tác nơi chiến trường gian khổ trở về với cuộc sống đời
thường, NCCVCM gặp nhiều khó khăn trong việc bắt nhịp với cuộc sống,
nhất là ở những khu vực đô thị cuộc sống thay đổi nhanh chóng. Vì số đông
NCCVCM tuổi đã cao, sức khỏe bị suy giảm do thương tật, bệnh tật, di chứng
của chiến tranh, ít kinh nghiệm, thiếu vốn, trình độ tay nghề thấp hoặc không
có nên cuộc sống còn nhiều khó khăn; mức sống của NCCVCM chưa thể
ngang bằng với mức sống bình quân của người dân nơi cứ trú; cuộc sống của
họ và nhiều gia đình phụ thuộc vào nguồn trợ cấp hằng tháng; nhiều gia đình
chưa có nhà ở ổn định...
- Đối với nhu cầu an toàn: NCCVCM đã trải qua những phút giây sinh
tử, lằn ranh giữa sự sống và cái chết, sự tra tấn của quân thù...nên họ hiểu
được sự tàn khốc, mất mát, đau thương do chiến tranh gây ra. Vì vậy họ rất
quý trọng sự sống; muốn được sống, nghỉ ngơi, sinh hoạt, làm việc trong sự
an bình, độc lập; muốn được xã hội quan tâm, gia đình chăm sóc, muốn được
tiếp cận với các dịch vụ y tế để khám chữa bệnh nhằm đảm bảo sức khỏe.
- Đối với nhu cầu thuộc về một nhóm nào đó: NCCVCM hiện nay tuổi
đã cao nên rất muốn được quan tâm, chia sẻ, sự đồng cảm nên rất muốn sinh
hoạt với đồng đội để ôn lại kỷ niệm; muốn tham gia sinh hoạt trong hội người
cao tuổi, hội cựu chiến binh, câu lạc bộ dưỡng sinh, hội hoa viên...để khuây
khỏa tâm hồn và vơi đi ký ức buồn của chiến tranh cũng như sự khác biệt về ý
thức hệ với các thành viên nhỏ tuổi trong gia đình.
- Đối với nhu cầu được tôn trọng: với phần lớn con người nói chung,
NCCVCM nói riêng, đây là nhu cầu quan trọng. Bởi lẽ NCCVCM đã trải qua
nhiều hy sinh, mất mát, đóng góp cho cách mạng, có nhiều công lao nên họ
rất muốn được xã hội, cộng đồng, dòng họ, gia đình tôn vinh, quý trọng, xem
còn mang thương tật, bệnh tật cũng như con của họ; nhiều người không xây
dựng được hạnh phúc gia đình vì sau khi hòa bình lập lại họ đã lớn tuổi... Vì
vậy họ rất cần sự hỗ trợ của Nhà nước, sự chia sẻ của cộng đồng xã hội để
được thăm khám sức khỏe thường xuyên, điều trị bệnh, an dưỡng, cải thiện
kinh tế gia đình, lắp chân tay giả, mắt giả để làm việc, sinh hoạt hằng ngày
được thuận lợi hơn...
1.2.2. Khái niệm dịch vụ công tác xã hội đối với người có công với
cách mạng
Theo mạng CTXH Việt Nam: Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm
đáp ứng nhu cầu nào đó của con người. Đặc điểm của dịch vụ là không tồn tại
ở dạng sản phẩm cụ thể (hữu hình) như hàng hóa nhưng nó phục vụ trực tiếp
nhu cầu nhất định của xã hội.