VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÙI THANH HÀ
CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI NGƯỜI
TÂM THẦN TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM
ĐIỀU DƯỠNG VÀ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
TÂM THẦN KINH TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2016
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÙI THANH HÀ
CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI NGƯỜI
TÂM THẦN TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM
ĐIỀU DƯỠNG VÀ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
TÂM THẦN KINH TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: CÔNG TÁC XÃ HỘI
Mã số: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
dụng lý thuyết vào thực tiễn.
Tôi xin gửi tới những Người thân của mình lòng biết ơn, những lời động
viên chia sẻ, là chỗ dựa tinh thần lớn nhất trong những năm qua.
Cuối cùng tôi gửi lời cảm ơn tới các bạn học viên Cao học Chương trình
Liên kết Công tác xã hội Philippin khóa I (2014-2016) và những người bạn
thân thiết của tôi luôn động viên giúp đỡ những lúc khó khăn và chia sẻ
những niềm vui trong cuộc sống ./.
Tác giả
Bùi Thanh Hà
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.................................................................................................................... 1
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI
VỚI NGƯỜI TÂM THẦN........................................................................................ 8
1.1. Các khái niệm cơ bản ........................................................................................ 8
1.2. Công tác xã hội nhóm đối với người tâm thần .............................................. 15
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến Công tác xã hội nhóm đối với Người tâm thần. 20
1.4. Cơ sở pháp lý của Công tác xã hội nhóm đối với Người tâm thần .............. 21
Chương 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM ĐỐI VỚI NGƯỜI
TÂM THẦN TỪ THỰC TIẾN TRUNG TÂM ĐIỀU DƯỠNG VÀ PHỤC HỒI
CHỨC NĂNG TÂM THẦN KINH TỈNH THÁI NGUYÊN ................................ 24
2.1. Khái quát về Trung tâm Điều dưỡng và phục hồi chức năng Tâm thần kinh
tỉnh Thái Nguyên .................................................................................................... 24
2.2. Thực trạng Công tác xã hội nhóm đối với người tâm thần tại Trung tâm điều
dưỡng và phục hồi chức năng tâm thần kinh tỉnh Thái Nguyên .......................... 26
2.3. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xã hội nhóm đối với người
Bảng 2.8: Trình độ học vấn, văn hóa trước khi bị bệnh ....................................... 41
Bảng 2.9: Tình trạng việc làm của người tâm thần trước khi bị bệnh ................. 42
Bảng 2.10: Mức sống, thu nhập của người tâm thần ............................................ 42
trước khi vào cơ sở.................................................................................................. 42
Bảng 2.11: Tình hình dân tộc và tôn giáo của người tâm thần ............................ 42
đang quản lý tại cơ sở ............................................................................................. 42
Bảng 2.12: Tình hình gia đình, thân nhân người tâm thần ................................... 43
đang quản lý tại sơ sở ............................................................................................. 43
Bảng 2.12: Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của CBVC .................................... 44
Bảng 2.13: Lao động trực tiếp và lao động gián tiếp............................................ 44
Bảng 2.14: Các chế độ phụ cấp đặc thù của CB làm công tác ĐD...................... 44
và PHCN cho người tâm thần ................................................................................ 44
Bảng 2.15: Tổng hợp người tâm thần theo nhóm bệnh nhân quản lý, chăm sóc
nuôi dưỡng............................................................................................................... 51
Bảng 2.16: Danh sách bệnh nhân trị liệu tâm lý nhóm đợt 1/2016 ..................... 61
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1: Hình vẽ .................................................................................................... 63
Hinh 2.2: Cắt gián tranh ......................................................................................... 64
Hình 2.3: Bảng hỏi .................................................................................................. 65
Hình 2.4: Viết thư ................................................................................................... 66
Hình 2.5: Bài thu hoạch cuối kỳ sinh hoạt tâm lý nhóm ...................................... 67
Hình 2.6: Thơ .......................................................................................................... 68
Hình 2.7: Hình ảnh sinh hoạt nhóm tâm lý trị liệu. .............................................. 69
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong dòng chảy phát triển không ngừng của xã hội cùng với mục tiêu:
tác xã hội nhóm đối với người tâm thần từ thực tiễn Trung tâm Điều dưỡng và
Phục hồi chức năng Tâm thần kinh tỉnh Thái Nguyên”.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
2.1. Một số nghiên cứu trên thế giới
Trong nhiều năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu, tài liệu báo cáo
về chính sách Bảo trợ xã hội và An sinh xã hội cả về mặt lý luận và thực tiễn.
Trong đó có nghiên cứu vấn đề về Công tác xã hội với Chăm sóc sức khỏe
tâm thần. Rối loạn tâm thần là vấn đề sức khỏe cộng đồng tại các nước trên
thế giới. Theo tổ chức y tế thế giới (WHO) hiện nay trên thế giới có khoảng
450 triệu người bị bệnh tâm thần hoặc lệch lạc trong vấn đề tâm lý và thái độ
cư xử. Trung bình trên thế giới mỗi năm có 800.000 người tự sát, 86% số này
ở các nước có thu nhập thấp và trung bình, phân nửa nằm ở độ tuổi 15-44.
Nguyên nhân chính là do căn bệnh Rối loạn tâm thần, chứng bệnh có khả
năng phục hồi. Liên quan đến chủ đề về Người tâm thần có công trình của các
tác giả Macionic (1987), ALan Walker (1989), Jonathan Kenneth Burns
(2008) và một số tác giả khác.
Macionic (1987) đi vào phân tích các định nghĩa về Bệnh tâm thần, các
mô hình lý thuyết của rối lọan tâm thần cũng như các mô hình chăm sóc bệnh
nhân tâm thần, theo đó các bệnh nhân tâm thần thường phải gánh chịu những
kỳ thị cũng như cái nhìn gán ghép của xã hội. Bệnh tâm thần không chỉ bắt
nguồn từ những nguyên nhân sinh học mà còn có nguồn gốc từ yếu tố văn
hóa, xã hội và ảnh hưởng từ những người được xem là có quyền “gán nhãn”
cho người tâm thần.
ALan Walker (1989) cũng phân tích vấn đề chăm sóc sức khỏe tâm thần
dựa vào cộng đồng, nhưng vấn đề này lại đặt trong bối cảnh lớn hơn là thể
2
chế của nước Anh cuối thập kỷ 80 với việc cắt giảm chi phí cho lính vực
chăm sóc công mà chuyển hẳn vai trò cho nhóm tư nhân và dựa vào cộng
người. Trong đó số người tâm thần nặng, có hành vi nguy hiểm cho gia đình
và cộng đồng khoảng 200 ngàn người, đặc biệt số người tâm thần ở Việt Nam
đang có xu hướng gia tăng, nhất là ở trong các thành phố, đô thị lớn. Trong
khi đó mạng lưới cơ sở phòng và điều trị, bảo trợ xã hội, chăm sóc, phục hồi
chức năng cho người tâm thần rất thiếu về số lượng và yếu về chất lượng.
Hiện tại có khoảng 6.000 đối tượng tâm thần nặng đang được chăm sóc, phục
hồi chức năng trong 17 Trung tâm điều dưỡng phục hồi chức năng cho người
tâm thần tại 15 tỉnh, thành phố và một số cơ sở Bảo trợ xã hội, đáp ứng được
3% đối tượng có nhu cầu. Các phương pháp hỗ trợ đối với hầu hết người rối
loạn tâm thần chỉ mới được điều trị bằng liệu pháp Hóa dược. Liệu pháp tâm
lý, liệu pháp xã hội cũng đã được áp dụng nhưng hiệu quả còn hạn chế. Chính
vì vậy đưa các phương pháp khoa học vào thực tiễn với những cách tiếp cận
mới trong lĩnh vực này là rất quan trọng. Trong đó, tác giả tập trung vào việc
đưa các phương pháp kỹ năng Công tác xã hội nhóm vào thực tiễn công việc
điều dưỡng và phục hồi chức năng cho người tâm thần ở cơ sở, góp phần làm
sáng tỏ, rõ nét thêm các lý thuyết công tác xã hội trong thực tiễn chăm sóc,
trợ giúp người tâm thần.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu Lý luận và Thực trạng Công tác xã hội nhóm đối với người
tâm thần từ thực tiễn Trung tâm Điều dưỡng và Phục hồi chức năng Tâm thần
kinh tinh Thái Nguyên, trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp giúp cho công
tác xã hội nhóm đối với người tâm thần đạt kết quả tốt.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của Công tác xã hội nhóm đối với người tâm
thần.
4
- Nghiên cứu thực trạng Công tác xã hội nhóm đối với người tâm thần từ
thông tin. Tác giả đã tiến hành chọn 200 mẫu, người tâm thần tại đơn vị công
tác nhằm thu thập thông tin, số liệu về thực trạng đời sống cũng như những
khó khăn bệnh nhân tâm thần gặp phải và những mong muốn của họ, qua đó
so sánh được sự thay đổi trong đời sống hàng ngày và những khó khăn, trở
ngại của bệnh nhân tâm thần khi nhận được sự bảo trợ của nhà nước.
+ Phương pháp phân tích tài liệu: Là phương pháp thu thập thông tin trực
tiếp, và gián tiếp thông qua các bệnh nhân đang điều trị tại Trung tâm và gián
tiếp qua các nguồn tài liệu sẵn có, hoặc nguồn tài liệu đã có từ trước khi
nghiên cứu. Tác giả đã thu thập các thông tin từ nhiều nguồn khác nhau như
sách, báo mạng internet, tạp chí ... liên quan đến công tác chăm sóc và điều trị
cho người tâm thần.
+ Phương pháp phỏng vấn sâu: Mục đích sử dụng phương pháp này để
xem xét nghiên cứu một cách sâu sắc có căn cứ và cũng là hiểu sâu bản chất
nguồn gốc của vấn đề đang nghiên cứu. Những nguồn lực được sử dụng để
giúp đỡ người tâm thần , những hoạt động tổ chức để người tâm thần tham gia
có hiệu quả chưa? Chính sách pháp luật đã được người tâm thần tiếp cận hay
chưa? Và tiếp cận như thế nào ? Công tác xã hội nhóm được lồng ghép như
thế nào trong quá trình trợ giúp người tâm thần và việc thực hiện các chương
trình, chính sách đã đồng bộ hay chưa ?
+ Phương pháp quan sát: Quan sát là phương pháp thu thập thông tin
thực nghiệm mà thông qua các tri giác nghe, nhìn để thu thập thông tin về các
quá trình, các hiện tượng xã hội trên cơ sở nghiên cứu của đề tài và mục đích
của cuộc nghiên cứu. Trong quá trình thực hiện đề tài tác giả trú trọng quan
sát cách ứng xử, những hành động, hành vi của bệnh nhân và những thay đổi
hàng ngày của người bệnh để có cái nhìn khách quan, sinh động về vấn đề
nghiên cứu.
6
+ Và tác giả còn sử dụng hoặc kết hợp một số phương pháp khác như:
Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm về công tác xã hội
Theo từ điển công tác xã hội (1995): “ Công tác xã hội là một khoa học xã
hội ứng dụng, nhằm giúp con người hoạt động có hiệu quả về mặt tâm lý xã
hội và tạo ra những thay đổi trong xã hội để đem lại sự an ninh cao nhất cho
con người” [12].
Theo quan điểm của hiệp hội chuyên gia công tác xã hội Mỹ: công tác xã
hội là hoạt động chuyên môn nhằm giúp cá nhân, gia đình, cộng đồng phục
hồi hay tăng cường chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp
để giúp họ thực hiện được mục đích cá nhân [8].
Công tác xã hội được khẳng định là một khoa học, một hoạt động mang
tính chuyên môn, chuyên nghiệp và được xã hội thừa nhận là một nghề
chuyên nghiệp, độc lập với các nghề khác trong xã hội và không thể thiếu
trong đời sống xã hội.
Từ những khái niệm và phân tích trên, có thể nhận thấy:
- Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ
giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu
và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về
chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng
giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội, góp phần đảm bảo an sinh xã hội.
1.1.2. Khái niệm về công tác xã hội nhóm
Trong từ điển công tác xã hội của Barker ( 1995, tr.85), công tác xã hội
nhóm được định nghĩa là: “Một định hướng và phương pháp can thiệp công
tác xã hội, trong đó các thành viên chia sẻ những mối quan tâm và những vấn
8
đề chung họp mặt thường xuyên và tham gia vào các hoạt động được đưa ra
chuyên sâu về tâm lý, tâm lý trị liệu và tâm thần học” [10 tr.54].
Như vậy, dù được định nghĩa trên phương diện nào thì:
- Công tác xã hội nhóm là hoạt động có mục đích với các nhóm nhiệm vụ
và trị liệu, nhằm đáp ứng nhu cầu tình cảm xã hội và hoàn thành nhiệm vụ.
hoạt động này hướng tới các thành viên trong nhóm và tới toàn thể nhóm
trong hệ thống cung cấp dịch vụ. Công tác xã hội nhóm được xem như sự
định hướng, một phương pháp can thiệp của công tác xã hội, trong đó các
thành viên chia sẻ những mối quan tâm, giải quyết những vấn đề chung thông
qua các cuộc họp nhóm, các hoạt động của nhóm nhằm đạt được mục tiêu cụ
thể. Công tác xã hội nhóm không chỉ cho các cá nhân mà còn tạo nên môi
trường để họ trao đổi thông tin, phát triển kỹ năng xã hội, thay đổi định hướng
giá trị, làm chuyển biến những hành vi không mong muốn.
1.1.3. Khái niệm về người tâm thần
* Tâm thần phân liệt
Tâm thần phân liệt là một loại bệnh tâm thần nặng . Cứ trong 100 người
dân thì có 1 người mắc bệnh này. Bệnh có thể biểu hiện dưới nhiều dạng khác
nhau nhưng đều có chung đặc điểm là ảnh hưởng đến các hoạt động tinh thần
và về lâu dài có thể làm thay đổi nhân cách của bệnh nhân .
Các triệu chứng chính của bệnh là hoang tưởng, ảo thanh, rối loạn khả
năng suy nghĩ, mất đi ý muốn làm việc, giảm sự biểu lộ tình cảm và cách ly
xã hội. Bệnh thường bắt đầu ở tuổi trẻ và thường kéo dài suốt cả cuộc đời.
Bệnh thường khởi phát nhanh với các triệu chứng cấp tính xuất hiện trong vài
tuần hay có thể khởi phát chậm dần dần trong nhiều tháng, nhiều năm.
Trong thời gian bệnh, bệnh nhân thường trở nên xa lánh những người
khác, ít nói chuyện với người thân, trở nên trầm tư, lo âu hoặc hay sợ hãi.
10
* Rối loạn trầm cảm
suy giảm trí nhớ bệnh lý này khác với sự giảm trí nhớ nhẹ có thể gặp ở người
già bình thường. Dần dần trí nhớ người bệnh ngày càng giảm sút hơn. Họ
thường quên tên của món đồ mà họ muốn gọi, quên tên các bạn thân, không
hiểu các con số trên hóa đơn tính tiền, không hiểu những gì mình đọc trong
sách báo, không thể viết và không thể lập được kế hoạch làm việc hằng ngày.
Lúc này người bệnh bắt đầu khó hoà nhập vào môi trường xả hội chung quanh,
thường dễ nổi giận vô cớ, hay la lối, ăn mặc không phù hợp với hoàn cảnh.
Cuối cùng người bệnh trở nên lú lẫn, không biết ngày tháng năm, không nói
được tên địa danh nơi họ đang sống, nếu đi ra khỏi nhà thì thường hay đi lang
thang và không tìm được đường về, đêm khó ngủ, không thể nói chuyện mạch
lạc với người chung quanh, quên tên và không nhận ra con cái, không thể tự
làm những việc cơ bản hằng ngày như tắm rửa, ăn uống, làm vệ sinh cá nhân.
* Chứng chán ăn tâm thần
Chán ăn tâm thần là một loại rối loạn tâm thần được thể hiện dưới dạng
rối loạn ăn uống. Bệnh có đặc điểm là bệnh nhân từ chối duy trì một trọng
lượng cơ thể bình thường tối thiểu, rất sợ tăng cân và có nhận thức sai lầm về
trọng lượng hay hình dáng cơ thể bản thân.
Bệnh này dường như xuất hiện nhiều hơn ở các quốc gia công nghiệp hoá
và tỷ lệ bệnh thường rất cao trong những nghề nghiệp cần đến sự thon mảnh
như nghề người mẫu, diễn viên múa.
Thưòng gặp các triệu chứng sau: bệnh nhân từ chối duy trì trọng lượng cơ
thể bình thường tối thiểu so với tuổi và chiều cao, rất sợ tăng cân (dù đang ở
tình trạng trọng lượng cơ thể rất thấp), nhận thức sai lầm về hình dạng hay
trọng lượng cơ thể mình (thí dụ luôn cảm thấy mập, cảm thấy cơ thể bị biến
dạng hay phủ nhận sự quá gầy ốm của mình ) và các rối loạn cơ thể kèm theo
sự giảm cân quá mức có thể xuất hiện như suy kiệt (teo các bắp cơ, không còn
12
lớp mỡ duới da, dễ bị lạnh ), tim mạch ( nhịp tim chậm, huyết áp thấp) , tiêu
tất cả mọi người chung quanh về các triệu chứng trên cho đến khi bệnh quá
nặng ai cũng nhận thấy và khuyên họ đi điều trị.
* Rối loạn ám sợ
Ám sợ đưọc định nghĩa là toàn bộ các phản ứng tâm lý và cơ thể do một
đối tượng hay hoàn cảnh gây sợ gây ra. Đối tượng gây sợ có thể là một con
vật cụ thể như nhện, rắn, côn trùng… hoặc là một hoàn cảnh xã hội như trong
thang máy,khi đi máy bay hay trong xe bus, khi phải nói chuyện trước đám
đông… Bệnh này gây ra hậu quả làm giảm hiệu suất trong công việc và các
mối quan hệ xã hội (do bệnh nhân sợ hãi và tránh né các hoàn cảnh có thể gây
ra phản ứng sợ hãi như không dám đi máy bay hay xe bus , không dám bước
vào thang máy…).
Các đặc điểm của ám sợ là bất thình lình cảm thấy một nỗi sợ hãi, khiếp
đảm khi đang ở trong một tình huống thực sự vô hại; hoàn toàn nhận thức
rằng nỗi sợ hãi này là quá mức và vô lý; phản ứng sợ xuất hiện hoàn toàn tự
động, không thể kiểm soát được và xâm chiếm toàn bộ con người bệnh nhân
và kèm theo sự sợ hãi cực độ là các phản ứng cơ thể như: nhịp tim nhanh, thở
hụt hơi hoặc cảm giác nghẹt thở, run rẩy, toát mồ hôi , buồn nôn, cảm giác
khó chịu trong bụng, chóng mặt… và bệnh nhân chỉ có một mong muốn duy
nhất là thoát khỏi tình huống này. Sau khi thoát khỏi đối tượng hay tình
huống gây sợ bệnh nhân sẽ tìm cách tránh né chúng. Khi sự tránh né này gây
ảnh hưởng đến hiệu suất công việc hoặc các mối quan hệ xã hội thì bệnh nhân
cần phải được khám tâm thần và điều trị .
* Rối loạn lo âu lan toả
Đặc điểm của rối loạn này là bệnh nhân luôn cảm thấy lo âu và căng thẳng
quá mức hoặc không thực tế về mọi vấn đề của cuộc sống thí dụ họ luôn sợ
hết tiền dù họ vẫn còn nhiều tiền trong ngân hàng hoặc họ thường lo sợ mình
14
hoặc ngưòi thân sắp bị bệnh, bị tai nạn hay gặp chuyện không may mặc dù
Đây là các hoạt động mà nhân viên công tác xã hội sử dụng tiến trình sinh
hoạt nhóm, nhằm giúp các cá nhân tương tác lẫn nhau, tạo ra sự thay đổi về
thái độ, hành vi, tăng cường khả năng giải quyết vấn đề và thỏa mãn nhu cầu
của các thành viên trong nhóm. Ở đây nhân viên công tác xã hội đóng vai trò
điều phối, định hướng cho các hoạt động của nhóm.
Từ bản chất của công tác xã hội nhóm đối với người tâm thần, để tránh sự
xáo trộn trong việc đưa lý thuyết vào thực tiễn hoạt động theo chức năng
nhiệm vụ cụ thể của đơn vị và nâng cao hiệu quả chất lượng khi áp dụng các
hoạt động của Công tác xã hội nhóm đối với người tâm thần. Tác giả đưa ra
các nội dung chính như sau:
+ Tư vấn, tham vấn phát triển kỹ năng giao tiếp.
+ Quản lý, chăm sóc nuôi dưỡng phát triển giáo dục nhóm.
+ Chăm sóc y tế và hỗ trợ tiếp cận dịch vụ y tế phát triển giáo dục nhóm.
+ Phục hồi chức năng và dạy nghề phát triển lao động trị liệu và tâm lý
trị liệu.
+ Hỗ trợ pháp lý, kết nối, huy động nguồn lực và phát triển kỹ năng
giao tiếp.
Thứ nhất, về phát triển kỹ năng giao tiếp nhóm (Trong tư vấn,tham vấn và
Hỗ trợ pháp lý, kết nối, huy động nguồn lực): Thực chất hoạt động này giúp
cho người bệnh lắng nghe, quan sát và bắt chước và nhận thức được tốt, tiếp
thu học tập tốt. Để có phát triển được kỹ năng này thì cần cho người tâm thần
hình thành và phát triển kỹ năng lắng nghe và chú ý là chủ yếu vì các kỹ năng
này người bệnh phải huy động hoạt động của não bộ và hệ thần kinh để có thể
tập trung chú ý đồng thời điều phối tư thế làm sao cho phù hợp.
Hình thức thực hiện của hoạt động này là người bệnh phải luyện tập thực
hành nhiều lần có thể đưa cho bệnh nhân nhiều bài tập liên quan đến các kỹ
16
năng về giao tiếp sau đó xem mức độ chú ý của bệnh nhân, biệu hiện cảm xúc
giải quyết vấn đề, hoạt động giáo dục có thể qua việc cung cấp tài liệu, hoặc
lồng ghép vào các tiến trình trợ giúp. Không chỉ quan tâm đến cá nhân người
bệnh mà nhân viên công tác xã hội còn cung cấp thông tin, hướng dẫn cụ thể,
tham vấn cho gia đình người bệnh tâm thần những cách chăm sóc, ứng xử phù
hợp, những dấu hiệu bệnh tật… Để họ có thể phối hợp chăm sóc người bệnh
tốt hơn.
Thứ ba, về lao động trị liệu(Trong Phục hồi chức năng và dạy nghề):
Hoạt động lao động trị liệu là hình thức phục hồi chức năng giúp người bệnh
phục hồi những thói quen cũng như khả năng lao động và hướng nghề để họ
có thể làm công việc gần như trước khi mắc bệnh, để họ có thể có được đời
sống tự lập, có được tâm lý tự tin và tự khẳng định bản thân.
- Thông qua lao động, người bệnh phát huy các năng lực tâm thần của
mình (suy nghĩ, phân tích, tổng hợp, so sánh, cải tiến… để hoạt động có kết
quả tốt hơn).
- Lao động choán hết thời gian rảnh rỗi để người bệnh đỡ suy nghĩ lan
man, làm khuây đi các cảm giác khó chịu do bệnh tật.
- Lao động làm người bệnh gắn với tập thể, với xã hội, tạo ra thói quen và
ý thức kỷ luật lao động.
- Lao động đưa người bệnh từ hành vi ăn không ngồi rồi, đi lang thang,
phá phách vào các hoạt động có ích.
- Lao động làm cho người bệnh ăn ngon miệng, ngủ yên giấc. Kết quả lao
động làm cho người bệnh tự tin, khẳng định và cảm nhận phẩm giá của mình.
- Việc tổ chức phục hồi chức năng tâm lý xã hội và phục hồi chức năng
lao động trước kia chỉ diễn ra ở cơ sở nội trú (bệnh viện/ bệnh khoa tâm thần,
trung tâm điều dưỡng tâm thần). Ngày nay nhiều nước trên thế giới nhất là
các nước phát triển cũng có các hình thức lao động trị liệu tại cộng đồng (thu
dung người bệnh vào các cơ sở sản xuất, tạo việc làm có thu nhập).
18