Phát triển cộng đồng trong giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số từ thực tiễn 2 xã la ngâu và măng tố, huyện tánh linh, tỉnh bình thuận - Pdf 38

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ THỊ NGỌC THỦY

PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG TRONG GIẢM NGHÈO
ĐỐI VỚI NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TỪ THỰC TIỄN
2 XÃ LA NGÂU VÀ MĂNG TỐ, HUYỆN TÁNH LINH,
TỈNH BÌNH THUẬN

Chuyên ngành : CÔNG TÁC XÃ HỘI
Mã số
: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN MINH TUẤN

HÀ NỘI, 2016
1


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan tất cả những số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài
luận văn Thạc sĩ Công tác xã hội về "Phát triển cộng đồng trong giảm nghèo đối với
người dân tộc thiểu số từ thực tiễn 2 xã La Ngâu và Măng Tố, huyện Tánh Linh,
tỉnh Bình Thuận" là hoàn toàn trung thực và không trùng lắp với bất kỳ đề tài nào
khác trong cùng lĩnh vực nghiên cứu.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn

đồng này có nhiều cơ hội phát triển, được phát huy khả năng và được bảo vệ thông
qua mạng lưới an sinh xã hội an toàn, bền vững. Tuy nhiên, sự phân hóa ngay trong
quá trình phát triển cũng làm xuất hiện những cộng đồng dân cư nghèo, các nhóm
yếu thế tại vùng sâu, vùng xa, nơi có điều kiện tự nhiên không thuận lợi cùng một
bộ phận dân cư ngay trong lòng các đô thị phát triển. Cộng đồng nghèo thường gắn
liền với các đặc điểm: Cơ sở hạ tầng, dịch vụ xã hội thiếu hoặc yếu kém; kinh tế
không phát triển; nhu cầu cơ bản của người dân chưa được đáp ứng đầy đủ; thiếu cơ
hội tiếp cận khoa học – kỹ thuật, tâm lý thiếu tự tin hoặc trông chờ, ỷ lại vào Nhà
nước và không được tham gia vào các quá trình ra quyết định.
Chính vì vậy, việc giúp đỡ, phát triển các cộng đồng nghèo là hết sức cần
thiết và việc lựa chọn các phương pháp phù hợp để phát triển cộng đồng có ý nghĩa
khoa học và thực tiễn to lớn.
Phát triển cộng đồng là một phương pháp của công tác xã hội được xây dựng
trên những nguyên lý, nguyên tắc và giả định của nhiều ngành khoa học xã hội khác
như: Tâm lý xã hội, xã hội học, chính trị học, nhân chủng học…, được áp dụng ở
nhiều nước và đã phát huy vai trò trong việc giải quyết các vấn đề của các nhóm
cộng đồng nghèo, các nhóm yếu thế trong thời gian qua. Đó là phương pháp giải
quyết một số vấn đề khó khăn, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng, hướng tới sự phát
triển không ngừng về đời sống vật chất và tinh thần của người dân thông qua việc
nâng cao năng lực, tăng cường sự tham gia, đoàn kết, phối hợp chặt chẽ giữa người

4


dân với nhau, giữa người dân với các tổ chức và giữa các tổ chức với nhau trong
phạm vi một cộng đồng.
Tánh Linh là một huyện miền núi có tỷ lệ hộ nghèo cao nằm ở phía Tây Nam
của tỉnh Bình Thuận. Hiện nay, dân số huyện Tánh Linh là 104.510 người, trong đó
đồng bào dân tộc thiểu số 3.378 hộ/15.282 khẩu, chiếm tỷ lệ khoảng 14,6% dân số
toàn huyện. La Ngâu và Măng Tố là 02 trong 14 xã, thị trấn của huyện Tánh Linh,

hành vào năm 1993, “Xây dựng cộng đồng từ trong ra ngoài”, họ đã phác thảo một
cách tiếp cận thay thế cho phương pháp tiếp cận dựa trên nhu cầu sử dụng bởi các
cộng đồng nghèo. Quá trình này trao quyền cho cộng đồng để tập hợp sức mạnh của
người dân vào các kết hợp mới, cấu trúc mới của cơ hội, nguồn thu nhập mới, kiểm
soát, và thấy được khả năng mới trong quá trình sản xuất [4,123].
Các chương trình phát huy nội lực của cộng đồng đã được tìm hiểu và bắt
đầu vận dụng từ năm 1993 ở Savannah, Grudia, rồi sau đó lan rộng đến Chicago,
Canada, Brazil, Ecuador, Mexico, Ai Cập, Ấn Độ, Trung Quốc, Ethiopia,
Botswana... Với sự trợ giúp của Quỹ Ford, công việc gây dựng tài sản ở một số nơi
đã giúp giảm nghèo khổ và bất công, với hàng loạt các chiến lược cải thiện điều
kiện gây dựng tài sản và trực tiếp tham gia gây dựng tài sản cho nhiều người và
nhiều cộng đồng có thu nhập thấp.
Một số trường hợp dưới đây minh hoạ được khả năng của những con người
và những tổ chức đã làm nên những khác biệt lớn trong việc tạo dựng, phân phối và
sử dụng những tài sản then chốt của cộng đồng, trong mục tiêu giảm bớt nghèo khổ
và bất công.


Trường hợp 1: Ở Braxin, là câu chuyện của vùng rừng mưa và chính

quyền bang Acre xây dựng năng lực bảo vệ và phát huy tài nguyên thiên nhiên vì sự
phát triển bền vững.


Trường hợp 2: Ở Nam Phi, là câu chuyện thiết lập liên minh giữa 10 tổ

chức cộng đồng và 20 doanh nghiệp tư nhân để hình thành nên tập đoàn liên doanh
giáo dục cùng (JET) để phục vụ những nhóm người thiệt thòi, cải thiện bức tranh về
việc làm và thay đổi căn bản hệ thống giáo dục-đào tạo của quốc gia.




Trường hợp 7: Ở Hàn Quốc, mô hình Saemaul Undong, phong trào "làng

mới" (Saemaul Undong) nhấn mạnh đến yếu tố quan trọng nhất tạo động lực cho
phát triển là “phát triển tinh thần của nông dân”, lấy kích thích vật chất nhỏ và
chính sách để kích thích mạnh tinh thần và qua đó phát huy nội lực tiềm tàng to lớn
của nông dân. Tạo ra công ăn việc làm cho người lao động nông thôn, vừa kích cầu
tiêu thụ sản phẩm cho công nghiệp vừa xây dựng được cơ sở hạ tầng ở nông thôn
trong thời gian ngắn, giá thành hạ, tạo ra thế và lực mới cho phát triển nông nghiệp.
Thông qua các câu chuyện minh họa trên cho thấy phát triển cộng đồng có
thể được ứng dụng trong nhiều hoàn cảnh khác nhau đem lại những thành công và
lợi ích khác nhau cho mỗi cộng đồng. Đó là một quá trình đòi hỏi sự nỗ lực của các
thành viên cùng tham gia, cùng hợp tác để tạo ra sự thay đổi.
2.2.

Một số nghiên cứu trong nước

Một số nghiên cứu của tác giả Hoàng Anh Dũng (2013) Phát triển cộng
đồng dựa vào nguồn lực và tài sản cộng đồng, đã làm nổi bật phát triển cộng
đồng được xem như là một trong những lựa chọn các phương pháp tiếp cận dựa vào
nhu cầu để phát triển. Chìa khóa của phát triển cộng đồng dựa vào sự kết nối cộng
đồng (cá nhân, tổ chức, hội, …) chứ không phải được thúc đẩy bởi những ảnh
hưởng bên ngoài. Bên cạnh đó tác giả cũng chỉ rõ quy trình được tiến hành qua 6

7


bước. Tác giả Võ Hoàng Yến (2007), “Xây dựng nội lực của cộng đồng”, cũng đề
cập đến ảnh hưởng và vai trò của việc xây dựng nội lực của cộng đồng. Tác giả


3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng phát triển cộng đồng trong công tác

giảm nghèo đối với người dân tộc thiểu số từ thực tiễn 2 xã La Ngâu và Măng Tố,
huyện Tánh Linh, đề xuất một số ý kiến nhằm vận dụng và phát huy tối đa vai trò
của phát triển cộng đồng trong công tác giảm nghèo cũng như việc áp dụng phát
triển cộng đồng trong giảm nghèo mang tính công tác xã hội hơn.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu


Nghiên cứu cơ sở lý luận chung về phát triển cộng đồng trong công tác

giảm nghèo.

Tìm hiểu thực trạng phát triển cộng đồng trong công tác giảm nghèo
đối với người dân tộc thiểu số từ thực tiễn 2 xã La Ngâu và Măng Tố, huyện Tánh
Linh, tỉnh Bình Thuận.

Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả phát triển cộng đồng trong
công tác giảm nghèo từ thực tiễn 2 xã La Ngâu và Măng Tố, huyện Tánh Linh, tỉnh
Bình Thuận.
4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động phát triển cộng đồng trong công tác giảm nghèo.
4.2. Khách thể nghiên cứu


Cán bộ lãnh đạo tại xã La Ngâu, Măng Tố.

- Phương pháp phỏng vấn sâu: nghiên cứu thực hiện các cuộc phỏng vấn sâu
với các cá nhân tại xã La Ngâu và Măng Tố bao gồm những người có kinh nghiệm,
lớn tuổi, những người nằm trong ban lãnh đạo, có tiếng nói, có ảnh hưởng tích cực
đến sự phát triển của xã. Chủ đề của các cuộc phỏng vấn sâu tập trung vào tìm hiểu
nhận thức của ban lãnh đạo địa phương, người dân về áp dụng phương pháp PTCĐ
trong công tác giảm nghèo.
- Phương pháp vãn gia: tới thăm trực tiếp các hộ nghèo tại xã La Ngâu, Măng
Tố để nắm bắt, thu thập những thông tin cần thiết.
- Phương pháp quan sát: Đối tượng và nội dung quan sát của đề tài là các mô
hình, dự án PTCĐ đã được triển khai thực hiện trong cộng đồng xã La Ngâu và
Măng Tố, huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận. Chúng tôi sử dụng phương pháp này
trong suốt quá trình thực hiện đề tài để có cái nhìn khách quan và cụ thể nhất về vấn
đề cần nghiên cứu
6.

Ý nghĩa nghiên cứu

10


6.1. Ý nghĩa lý luận
Bổ sung cho hệ thống những kiến thức chuyên ngành về phát triển cộng
đồng trong công tác giảm nghèo nhằm góp phần tích cực vào công tác giảm nghèo
bền vững tại địa phương.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Những kết quả, giải pháp trong luận văn có thể là những tài liệu, nguồn
thông tin cho những người nghiên cứu tiếp theo về tình hình tổ chức thực hiện
chính sách giảm nghèo tại huyện Tánh Linh nói riêng và các địa phương còn lại của
tỉnh Bình Thuận nói chung.
Góp phần nâng cao hiệu quả trong việc xây dựng kế hoạch hoạt động, ban

Trong xã hội nguyên thủy đã có thị tộc, Bộ lạc. Những thành viên trong thị tộc gắn bó
với nhau bằng quan hệ huyết thống. Bộ lạc bao gồm những người cùng họ và những
người khác họ, cùng sinh sống trên một địa bàn. Sản xuất phát triển thì bản thân con
người cũng phát triển theo, cùng với những đặc trưng như ngôn ngữ, văn hóa vật chất
(thể hiện trong phương thức sản xuất, phương thức sinh hoạt) và văn hóa tinh thần (thể
hiện thành ý thức và các hình thái ý thức). Hình thức của cộng đồng người cũng có sự
tiến hoá: từ phân tán đến tập trung, từ thấp đến cao, kết quả là hình thành nên
những tộc người và những dân tộc khác nhau như chúng ta thấy hiện nay.
Có thể quan niệm dân tộc là cộng đồng những người cùng chung một lịch sử
(lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc), nói chung một ngôn ngữ, sống chung
trên một lãnh thổ, có chung một nền văn hóa hiểu theo nghĩa rộng nhất của từ này là
tổng hợp các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, tiêu biểu cho
trình độ văn minh đã đạt được. Văn hóa của các dân tộc có những nét chung giống
nhau (thí dụ như đều trải qua nền văn minh nông nghiệp tiến lên nền văn minh công
nghiệp), nhưng cũng có những nét đặc thù gọi là tính cách dân tộchay bản sắc dân
tộc (các phong tục, tập quán sinh hoạt và ứng xử, các nếp tâm lý và tư duy, các ưu
thế phát triển về mặt này hay mặt khác) tạo ra tính đa dạng, vô cùng phong phú của
văn hóa nhân loại.
Về mặt xã hội, khái niệm dân tộc không phải bao giờ cũng trùng hợp với
khái niệm quốc gia theo nghĩa là một cộng đồng chính trị - xã hội được quản lý
bằng bộ máy nhà nước. Có quốc gia chỉ gồm một dân tộc (hiếm có, như trường hợp
Triều Tiên trước khi bị chia cắt), song phần lớn là những quốc gia nhiều dân tộc
(nhiều dân tộc nhỏ quy tụ xung quanh một dân tộc chủ yếu, thường là đông hơn và

12


phát triển hơn trong lịch sử). Cũng có tình hình là những người cùng một dân tộc
nhưng sống phân tán ở những quốc gia khác nhau. Trong lịch sử, các dân tộc hình
thành và phát triển rất không đồng đều cả về thời gian, quy mô, sức sống lẫn trình

- Có truyền thống đoàn kết, gắn bó với nhau trong cuộc kháng chiến chống
ngoại xâm cũng như công cuộc đổi mới ngày nay.
- Thủy chung, son sắt với nhau, với Nhà nước.
- Có nền văn hóa cực kỳ đặc sắc và hấp dẫn.
- Đa số sống ở vùng miền núi (ngoại trừ người Chăm, Khơ me, Hoa).
- Có trình độ phát triển kinh tế - xã hội còn lạc hậu.
- Một số đồng bào các dân tộc thiểu số có tính tự ty, mặc cảm. Một số khác
lại sống trông chờ, ỷ lại vào thiên nhiên và hỗ trợ của Nhà nước.
1.1.1.2. Nhu cầu
- Nhu cầu sinh học: Người DTTS có nhu cầu được hưởng các hỗ trợ tối thiểu
về dinh dưỡng, y tế.
- Nhu cầu an toàn: Được hỗ trợ sản xuất, dạy nghề, tạo việc làm, tăng thu
nhập, hỗ trợ về giáo dục và đào tạo, hỗ trợ về nhà ở.
- Nhu cầu xã hội: Họ có nhu cầu được học tập nâng cao trình độ, trao đổi
kinh nghiệm.
- Nhu cầu được tôn trọng, tiếp tục giữ vững và phát huy bản sắc văn hóa của
dân tộc.
- Nhu cầu về tự thể hiện bản thân - muốn sáng tạo, được thể hiện khả năng,
thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công nhận là thành đạt.
1.2. Lý luận về phát triển cộng đồng trong công tác giảm nghèo
1.2.1. Một số khái niệm
1.2.1.1. Khái niệm nghèo và các vấn đề có liên quan
* Theo quan điểm của Thế giới
“Nghèo là tình trạng của một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn
những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ
phát triển kinh tế – xã hội , phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục
ấy được xã hội thừa nhận” [Hội nghị về chống đói do ủy ban kinh tế–xã hội khu vực
Châu Á –Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại BangKok, Thái Lan 9/1993].
Nhà kinh tế học Mỹ Galbraith quan niệm: “Con người bị coi là nghèo khổ
khi mà thu nhập của họ, ngay dù khi thích đáng để họ có thể tồn tại, rơi xuống rõ rệt

quán của từng vùng từng quốc gia.
Các quan niệm trên phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của người nghèo:

15


+ Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho
con người.
+ Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư.
+ Thiếu cơ hội lựa chọn, tham gia vào quá trình phát triển cộng đồng.
1.2.1.2. Khái niệm giảm nghèo và giảm nghèo bền vững
- Giảm nghèo được hiểu là giảm tỷ lệ hộ nghèo hay giảm số hộ nghèo trên
một địa bàn, hay giảm mức độ nghèo của một cộng đồng, hoặc giảm khoảng cách
nghèo của cộng đồng dân cư. Bản chất giảm nghèo là cải thiện hay nâng cao mức
độ thỏa mãn các nhu cầu cơ bản và đích là hộ nghèo thoát nghèo, có nghĩa là thỏa
mãn các nhu cầu cơ bản ở mức độ cao.
- Giảm nghèo bền vững là sự bảo đảm hay duy trì kết quả giảm nghèo một
cách lâu dài, bền vững hay nói cách khác giảm nghèo bền vững là tình trạng đạt
được mức thỏa mãn những nhu cầu cơ bản/mức thu nhập cao hơn mức chuẩn và duy
trì được mức thỏa mãn những nhu cầu cơ bản/mức thu nhập trên mức chuẩn đó ngay
cả khi gặp phải các cú sốc hay rủi ro; giảm nghèo bền vững có thể được hiểu với
nghĩa đơn giản là thoát nghèo bền vững, hay không bị tái nghèo.
1.2.1.3. Phát triển cộng đồng
Theo quan điểm của chính phủ Anh, khái niệm phát triển cộng đồng được
sử dụng lần đầu tiên năm 1940: “PTCĐ là một chiến lược phát triển nhằm vận động
sức dân trong các cộng đồng nông thôn cũng như đô thị nhằm phối hợp cùng những
nỗ lực của nhà nước để cải thiện hạ tầng cơ sở và tăng khả năng tự lực của cộng
đồng” [24, tr.35].
Theo Murray G.Ross (1955): “PTCĐ là một diễn tiến qua đó cộng đồng
nhận rõ nhu cầu hoặc mục tiêu phát triển của cộng đồng; biết sắp xếp ưu tiên các

và cải thiện cuộc sống.
- Huy động được các tiềm năng và khuyến khích sự tham gia của các cơ quan,
tổ chức, người dân, tài nguyên cộng đồng để cải thiện đời sống mọi mặt của họ.
- Tạo cơ hội phát triển cho các nhóm trong xã hội trên cơ sở củng cố công
bằng, bình đẳng và nhân quyền; tăng cường mối quan hệ đoàn kết trong cộng đồng
với mục đích chung.
- Cải thiện cơ sở vật chất của cộng đồng góp phần điều chỉnh chính sách xã hội
phù hợp với tình hình thực tế của cộng đồng qua đó đảm bảo trật tự an toàn xã hội.

17


Thứ hai, nội dung của phát triển cộng đồng bao gồm:
- Quản lý tài nguyên cộng đồng: quản lý môi trường cộng đồng, xử lý các
thảm họa do thiên tai, phát triển các cơ sở kinh doanh sản xuất.
- Giáo dục cộng đồng: giúp trang bị các kiến thức, sự hiểu biết và kỹ năng
làm việc, lao động cho người dân.
- Tổ chức cộng đồng: củng cố các tổ chức có sẵn như các đoàn thể, tổ chức
chính trị, xã hội tại cộng đồng; thành lập các nhóm nhỏ, nhóm mới hoặc câu lạc bộ;
tổ chức các ngành nghề như các tổ sản xuất, câu lạc bộ nghề nghiệp trong cộng
đồng; mở rộng liên kết với các nhóm khác, tiến đến lập hiệp hội, hợp tác xã,…
Ba lĩnh vực trong nội dung phát triển cộng đồng được dùng như điểm xuất
phát của một dự án. Các dự án phát triển cộng đồng được tiến hành tùy theo lĩnh
vực chuyên môn của các tổ chức phát triển và nhu cầu của cộng đồng.
1.2.1.4. Phát triển cộng đồng trong giảm nghèo
Từ các khái niệm về giảm nghèo và phát triển cộng đồng đã phân tích ở trên,
chúng ta có hiểu phát triển cộng đồng trong giảm nghèo là tổng thể các biện pháp
chính sách của nhà nước và xã hội hay là của chính những đối tượng thuộc diện
nghèo đói, thông qua một chuỗi những hoạt động tác động tích cực lên một cộng
đồng dân cư, khiến cho cộng đồng đó nhận thức về vấn đề của mình, phát huy khả

Ở Việt Nam, một số định nghĩa về quyền con người được nêu ra, tuy nhiên ở
góc độ chung quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên,
vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc
gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế [18, tr.38].
Như vậy, quyền con người là những quyền vốn có của con người, không
phân biệt quốc tịch, nơi cư trú, giới tính, nguồn gốc quốc gia hay dân tộc, màu da,
tôn giáo, ngôn ngữ hay bất kỳ một thân phận nào khác. Mọi người được hưởng các
quyền của mình một cách bình đẳng và không có sự phân biệt đối xử.
Dù xem xét ở góc độ nào thì quyền con người cũng được xác định như là
những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và phải khẳng định một điều
rằng quyền con người là những giá trị cao cả cần được tôn trọng, bảo vệ trong mọi
xã hội và trong mọi giai đoạn lịch sử.

19


Quyền con người có các tính chất cơ bản là: tính phổ biến, tính không thể
chuyển nhượng, tính không thể phân chia, tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau [18,
tr.41].
Quyền con người bao gồm: quyền tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, tự do đi
lại, tự do tôn giáo, tự do lập hội,...các quyền về sức khỏe, quyền giáo dục, quyền về
nhà ở và quyền về bảo trợ xã hội.
Vận dụng lý thuyết về quyền con người trong phát triển cộng đồng:
Tiếp cận dựa trên thuyết về quyền con người nhằm hướng đến việc cải thiện
hoàn cảnh của cộng đồng, tập trung vào nhu cầu và tiềm năng vốn có của họ. Nói
cách khác, tiếp cận dựa trên quyền quan tâm đến những vấn đề được xem là quan
trọng nhất đối với sự phát triển của con người nói chung và người dân trong cộng
đồng nói riêng như thực phẩm, nước, y tế, nhà ở,...
Với cách tiếp cận này, tác viên PTCĐ là người thực hiện vai trò biện hộ cho
người dân trong cộng đồng, ngay cả khi họ đã nhận thức được hoặc chưa nhận thức

tổ chức, các chính sách, các cộng đồng, nhóm, gia đình ảnh hưởng lên các cá nhân
sống trong một cộng đồng cụ thể. Lý thuyết hệ thống sinh thái cho phép phân tích
thấu đáo sự tương tác giữa người dân với nhau, giữa người dân với cán bộ địa
phương và giữa các đối tượng sinh sống trong một hệ thống sinh thái – môi trường
xã hội cụ thể. Mỗi cá nhân người dân đều có một môi trường sống và một hoàn
cảnh sống, chịu tác động của các yếu tố trong môi trường sống và cũng tác động,
ảnh hưởng ngược lại môi trường xung quanh.
Khi làm việc với người dân, nhân viên CTXH cần xem xét cộng đồng là một
hệ thống, hệ thống này nằm trong hệ thống lớn hơn là hệ thống xã hội. Các hệ thống
này đều có sự tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau. Khi xác định vấn đề của cộng đồng
thì cần đặt trong mối quan hệ tương tác giữa các hệ thống này để phân tích và tìm
hiểu đặc biệt là tìm hiểu về các tiềm năng, tài sản trong cộng đồng. Vì vậy, nhiệm
vụ của nhân viên CTXH là tìm ra các hệ thống bên trong và bên ngoài cộng đồng để
có thể có cái nhìn đầy đủ về tiềm năng cộng đồng. Ngoài ra áp dụng thuyết hệ thống
sinh thái sẽ giúp nhân viên CTXH:
- Sử dụng và phát huy tối đa khả năng của cộng đồng trong sự tương tác với
các hệ thống khác để giải quyết vấn đề.

21


- Xây dựng mối quan hệ giữa các đối tượng trong cộng đồng với các hệ
thống trợ giúp trong xã hội.
- Giúp tăng cường khả năng tương tác giữa cộng đồng và các hệ thống.
- Giúp phát triển và thay đổi hệ thống chính sách xã hội một cách phù hợp.
- Cung cấp trợ giúp thực tế khi cần thiết.
Trên cơ sở lý thuyết hệ thống sinh thái, chúng tôi nhận thấy việc tim kiếm
các tài sản/tiềm năng trong cộng đồng là một việc làm cần thiết. Trong cộng đồng
có rất nhiều tài sản/tiềm năng và nó chịu sự chi phối vởi các hệ thống khác nhau.
Cộng đồng xã La Ngâu, Măng Tố có rất nhiều hệ thống trong đó bao gồm các tiểu

thứ nhất cho rằng quá trình xã hội hóa chính là quá trình xã hội áp đặt các khuôn
mẫu vai trò cho các thành viên trong đó. Khuynh hướng thứ hai giải thích việc học
“đóng vai” ngoài đời giống như học theo một thứ kịch bản gợi ý, một thứ kịch bản
mở. Loại kịch bản này buộc các “diễn viên” phải linh hoạt với hoàn cảnh thực tế
hoặc tạo ra những chi tiết thích hợp để biết rằng mình cần phải làm gì, làm thế nào,
làm cho ai [20, tr.86].
Vận dụng lý thuyết vai trò trong nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy mỗi một bộ
phận trong cộng đồng bao gồm: cán bộ địa phương, già làng, trưởng thôn, người
dân... tất cả họ đều có những vai trò nhất định. Mỗi một vai trò thể hiện qua những
công việc, nhiệm vụ cũng như trách nhiệm của mình, mỗi người đóng một vai trò
riêng nhưng cùng góp sức vào sự phát triển chung của cả cộng đồng nhằm đem lại
sự phát triển/
1.2.2.4. Lý thuyết nhu cầu
Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow là một trong những học thuyết được
ứng dụng nhiều trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống, xã hội.
Maslow sắp xếp nhu cầu của con người theo một trật tự phân cấp từ thấp đến
cao theo hình kim tự tháp và được chia thành hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản (nhu
cầu cấp thấp) và nhu cầu cấp cao. Những nhu cầu ở cấp cao hơn sẽ được thỏa mãn
khi nhu cầu cấp thấp hơn được đáp ứng.
Tháp nhu cầu của Maslow

23


(Nguồn: Trương Phúc Hưng (2005), Các trường phái lý thuyết trong tâm lý học
xã hội, NXB ĐHQGHN, Hà Nội)
Tầng thứ nhất, nhu cầu sinh học, đó là các nhu cầu thuộc "thể lý" - thức ăn,
nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi.
Tầng thứ hai, nhu cầu an toàn - cần có cảm giác yên tâm về an toàn thân thể,
việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo.

luận cho phép nghiên cứu, phân tích, lý giải mối quan hệ tương hỗ giữa các thành
phần, bộ phận, chức năng liên quan đến hoạt động phát triển cộng đồng; các chức
năng của mỗi thành phần, bộ phận ấy tác động, ảnh hưởng lẫn nhau trong sự hài hòa
của cấu trúc tổng thể; và mỗi thành phần, bộ phận đều có những vai trò cụ thể khi
tham gia vào các mối quan hệ trong cùng hệ thống hoặc với hệ thống khác xung
quanh. Ngoài ra, việc thể hiện nhu cầu và đáp ứng các nhu cầu của người dân cần
được quan tâm bởi hơn ai hết người dân ở xã La Ngâu và Măng Tố là những xã
nghèo của huyện Tánh Linh rất cần sự quan tâm và rất cần sự tác động của tác viên
cộng đồng để họ nhìn ra các thế mạnh, tiềm năng vốn có của chính mình từ đó xây
dựng niềm tin, lòng tự hào để phát triển cộng đồng một cách bền vững, hiệu quả.
1.2.3. Các hoạt động trong phát triển cộng đồng
1.2.3.1. Triển khai các hoạt động
Nâng cao chất lượng đời sống cho các cộng đồng ở nông thôn là mục tiêu đầu
tiên của các chương trình phát triển. Trong khi có nhiều sự nỗ lực, như là phổ biến
cho nông dân các giống ưu thế lai, kỹ thuật áp dụng phân bón, thuốc trừ sâu bệnh
hoặc xây dựng các hệ thống thủy lợi đã đem lại hiệu quả ở một số nơi, giúp ích cho
người dân nhưng thật không may mắn, những tiến bộ kỹ thuật này không đến được

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status