Xây dựng các mô hình cây trồng thích ứng với các hiện tượng thời tiết cực đoan và biến động của thời tiết khí hậu dựa vào kiến thức bản địa của các cộng đồng dân tộc thiểu số trong vùng xã Thanh Vận, Chợ Mới, Bắc Cạn - Pdf 27

1 | P a g e
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Miền núi phía Bắc là vùng rất quan trọng cho sự phát triển
kinh tế, quốc phòng an ninh và cân bằng hệ sinh thái cho Việt
Nam. Tuy nhiên đây là một trong những vùng nghèo nhất ở
nước ta. Có nhiều nguyên nhân gây ra tỷ lệ nghèo cao trong
vùng như sự ngăn cách về địa lý, sự bất bình đẳng về giới, sự
hạn chế trong sự tiếp cận các dịch vụ như khuyến nông, phát
triển giáo dục, y tế cũng như tiếp cận các cơ hội thị trường để
phát triển kinh tế (CARE international in Viet Nam, 2010) [27].
Nhưng những tác động bất lợi của hiện tượng thời tiết khí hậu
và biến đổi khí hậu trong những năm gần đây được xác định là
một nguyên nhân cản trở sự phát triển kinh tế xã hội của người
dân trong vùng. Đặc điểm của vùng đồi núi này là có hệ sinh
thái không đồng nhất và dễ bị thay đổi, nạn phá rừng nghiệm
trọng và suy giảm tài nguyên đất. Người dân đang phải sống
trong một môi trường đang ngày một biến đổi nhanh chóng gây
2 | P a g e
ra bởi những thay đổi đáng kể của khí hậu trong thời gian gần
đây. Các yếu tố vật lý của môi trường khu vực miền núi phía
bắc chẳng hạn như: khí hậu, đất, nước, địa hình và các yếu tố
sinh học, thảm thực vật và động vật, đang bị ảnh hưởng bởi
những thay đổi bất thường như sự tăng lên hoặc giảm nhiệt độ,
những trận bão bất thường, và những trận mưa lớn chưa từng có
(CARE international in Viet Nam, 2010) [27]. Chính vì vậy sản
phẩm nông lâm nghiệp của họ thường gặp phải nhiều rủi ro do
những biến đổi bất lợi của thời tiết khí hậu.
Bắc Kạn là một trong những tỉnh nghèo nhất nằm ở trung
tâm miền núi phía bắc Việt Nam đã và đang được tổ chức

đến sản xuất nông nghiệp của đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh
Bắc Kạn.
- Xác định các biểu hiện của biến đổi khí hậu và tác động
của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp.
- Xây dựng các mô hình cây trồng thích ứng với các hiện
tượng thời tiết cực đoan và biến động của thời tiết khí hậu dựa
vào kiến thức bản địa của các cộng đồng dân tộc thiểu số trong
vùng xã Thanh Vận, Chợ Mới, Bắc Cạn
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định các biểu hiện của biến đổi khí hậu và tác động
của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp.
- Tài liệu hóa các kiến thức và kỹ thuật bản địa của cộng
đồng trong dự đoán, ứng phó và thích ứng với các hiện tượng
thời tiết cực đoan (HTTTTCĐ) và biến động của thời tiết khí
hậu trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp.
- Phân tích sự hỗ trợ của chính quyền các cấp nhằm thích
ứng và giảm thiểu biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp ở
5 | P a g e
địa bàn nghiên cứu thông qua việc phân tích các chính sách liên
quan.
- Theo dõi khả năng thích ứng của các mô hình.
6 | P a g e
1.4. Yêu cầu của đề tài
- Số liệu thu thập phải trung thực, khách quan, chính xác.
- Xây dựng các mô hình có tính khả thi và phù hợp với
điều kiện hoàn cảnh địa phương.
1.5. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
+ Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra những kinh
nghiệm thực tế phục vụ cho công tác nghiên cứu sau này.

động khai thác quá mức các bể hấp thụ khí nhà kính như sinh
khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác. Nhằm
9 | P a g e
hạn chế sự biến đổi khí hậu, Nghị định thư Kyoto nhằm hạn chế
và ổn định sáu loại khí nhà kính chủ yếu bao gồm: CO
2
, CH
4
,
N
2
O, HFCs, PFCs và SF
6
.
- CO
2
phát thải khi đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (than,
dầu, khí) và là nguồn khí nhà kính chủ yếu do con người gây ra
trong khí quyển. CO
2
cũng sinh ra từ các hoạt động công nghiệp
như sản xuất xi măng và cán thép.
- CH
4
sinh ra từ các bãi rác, lên men thức ăn trong ruột
động vật nhai lại, hệ thống khí, dầu tự nhiên và khai thác than.
- N
2
O phát thải từ phân bón và các hoạt động công nghiệp.
- HFCs được sử dụng thay cho các chất phá hủy ôzôn

trường hợp.
Đối với IPCC (1996) cho rằng: Khả năng thích ứng đề cập
đến mức độ điều chỉnh có thể trong hành động, xử lý, cấu trúc
của hệ thống đối với những biến đổi dự kiến có thể xảy ra hay
thực sự đã và đang xảy ra của khí hậu. Sự thích ứng có thể là tự
phát hay được chuẩn bị trước. Như vậy, ở đây vấn đề thích ứng
được nói đến chính là mức độ điều chỉnh với biến đổi cả về tính
tự phát hay chuẩn bị trước.
Còn với nghiên cứu của Burton (1998) lại cho rằng: Thích
ứng với khí hậu là một quá trình mà con người làm giảm những
tác động bất lợi của khí hậu đến sức khỏe, đời sống và sử dụng
những cơ hội thuận lợi mà môi trường khí hậu mang lại. Ở đây
thích ứng là làm thế nào giảm nhẹ tác động biến đổi khí hậu, tận
dụng những thuận lợi nếu có thể.
Theo Thomas (2007), lại cho rằng: thích ứng có nghĩa là
điều chỉnh hoặc thụ động, hoặc phản ứng tích cực, hoặc có
phòng bị trước, được đưa ra với ý nghĩa là giảm thiểu và cải
thiện những hậu quả có hại của BĐKH.
12 | P a g e
Như vậy, thích ứng với BĐKH là sự điều chỉnh hệ thống
tự nhiên hoặc con người đối với hoàn cảnh hoặc môi trường
thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thương do dao
động và BĐKH hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội
do nó mang lại. Thích ứng với khí hậu hiện nay không đồng
nghĩa với thích nghi BĐKH trong tương lai.
2.1.2.2. Các hình thức thích ứng với biến đổi khí hậu
Có rất nhiều phương pháp thích nghi có khả năng được
thực hiện trong việc đối phó với biến đổi khí hậu. Bản báo cáo
đánh giá thứ 2 của nhóm công tác IPCC II đề cập và miêu tả 228
phương pháp thích nghi khác nhau. Vì thế sẽ có ích nếu phân

- Thay đổi địa điểm: cần nghiên cứu tính toán kỹ việc di
chuyển địa điểm sản xuất. Ví dụ, chuyển các cây trồng chủ chốt
và vùng nông trại ra khỏi khu vực khô hạn đến một khu vực ôn
hòa hơn.
- Nghiên cứu: Quá trình thích nghi có thể phát triển bằng
cách nghiên cứu trong lĩnh vực công nghệ mới và phương pháp
mới về thích nghi.
- Giáo dục, thông tin và khuyến khích thay đổi hành vi:
phổ biến kiến thức thông qua các chiến dịch thông tin công cộng
và giáo dục, dẫn đến việc thay đổi hành vi (Nguyễn Hồng
Trường, 2008) [18].
Như vậy, sự thích ứng diễn ra cả ở trong tự nhiên và hệ
thống kinh tế xã hội của con người. Thích ứng với BĐKH điều
quan trọng chính là sự phù hợp với điều kiện tự nhiên và khả
năng kinh tế, phong tục tập quán của con người ở mỗi vùng
miền khác nhau. Do đó nghiên cứu ở đây chủ yếu là những hoạt
15 | P a g e
động thực tiễn của nông hộ, những kiến thức bản địa được áp
dụng trong điều kiện của vùng nghiên cứu.
2.1.3 . Kiến thức bản địa
2.1.3.1. Khái niệm
Kiến thức bản địa là hệ thống kiến thức bao trùm kiến thức
kỹ thuật bản địa và kiến thức địa phương, nhưng được cụ thể
hóa trong khía cạnh liên quan đến sinh thái, đến quản lý và sử
dụng tài nguyên thiên nhiên: rừng, đất rừng, nguồn nước. Nó
phản ánh những kiến thức kinh nghiệm của từng nhóm cộng
đồng đang cùng sinh sống trong từng vùng sinh thái nhân văn,
đây là hệ thống kiến thức kết hợp các hiểu biết bên trong lẫn bên
ngoài, sự giao thoa kế thừa giữa kinh nghiệm của các dân tộc
đang chung sống, sự kiểm nghiệm các kỹ thuật mới du nhập và

- Kiến thức bản địa được hình thành và biến đổi liên tục
qua các thế hệ trong một cộng đồng địa phương nhất định.
- Kiến thức bản địa có khả năng thích ứng cao với môi
trường riêng của từng địa phương - nơi đã hình thành và phát
triển kiến thức đó.
- Kiến thức bản địa rất đơn giản, chi phí thấp và bền vững
đối với điều kiện tự nhiên địa phương.
- Kiến thức bản địa do toàn thể cộng đồng trực tiếp sáng tạo
ra qua lao động trực tiếp.
- Kiến thức bản địa không được ghi chép bằng văn bản cụ
thể mà được lưu giữ bằng trí nhớ và lưu truyền từ thế hệ này
sang thế hệ khác bằng truyền miệng, thơ ca, hò vè, tế lễ và nhiều
tập tục khác nhau.
- Kiến thức bản địa luôn gắn liền và hòa hợp với nền văn
hóa, tập tục địa phương.
18 | P a g e
- Kiến thức bản địa có giá trị cao trong việc xây dựng các
mô hình phát triển nông thôn bền vững.
- Tính đa dạng của kiến thức bản địa rất cao.
2.1.3.3. Các loại hình kiến thức bản địa
Kiến thức bản địa được phân chia theo các loại hình khác
nhau. Theo IIRR, 1999, kiến thức bản địa có thể phân ra các loại
hình như sau:
- Thông tin
Hệ thống thông tin về cây cỏ, thực vật có thể được trồng
trọt hay canh tác tốt cùng tồn tại với nhau trên cùng một diện
tích canh tác nhất định hay những chỉ số về thực vật. Các câu
chuyện, thông điệp được truyền lại bằng các vết đục, chạm khắc
hay viết trên các thẻ trúc (Trung quốc, Việt nam, Thái lan ),
các dạng lưu truyền dân gian, hệ thống trao đổi thông tin truyền

giống vật nuôi và các loại cây trồng.
- Tài nguyên nhân lực
Nhiều chuyên gia có chuyên môn cao như thầy lang, thợ
rèn có thể coi như đại diện của dạng kiến thức bản địa. Kiến
thức bản địa trong dạng này có thể thấy ở các tổ chức địa
phương như nhóm họ tộc, hội đồng già làng trưởng tộc, các
nhóm tổ chia sẻ hoặc đổi công.
- Giáo dục
Phương pháp truyền thụ kiến thức truyền thống, cách
truyền nghề cho các thợ học việc, học hỏi thông qua sự quan sát
và những thực nghiệm, thực hành tại chỗ.
2.1.3.4. Vai trò của kiến thức bản địa trong thích ứng với
BĐKH
Chương trình mục tiêu quốc gia nhằm ứng phó với BĐKH
đã chỉ rõ: Ứng phó với BĐKH là nhiệm vụ của toàn hệ thống
21 | P a g e
chính trị, của toàn xã hội, của các cấp, các ngành, các tổ chức,
mọi người dân; trong nội dung huy động mọi tiềm năng có thể,
thì việc khuyến khích áp dụng kiến thức bản địa trong thích ứng
với BĐKH là một trong những hoạt động trong chiến lược ứng
phó với BĐKH của các bộ ngành địa phương. Kiến thức bản địa
(KTBĐ) là một kho tri thức quý giá của các cộng đồng dân cư
bản địa tại một khu vực cụ thể nào đó; So với hệ thống kỹ thuật
hiện đại (tạm gọi là hệ thống kỹ thuật nhập từ bên ngoài) thì
KTBĐ có đặc điểm ưu việt không thể thay thế mà các hệ thống
kỹ thuật nhập từ bên ngoài không có được, đó là: KTBĐ có khả
năng thích ứng cao với môi trường của người dân bản địa- nơi
mà chính những KTBĐ đó đã được hình thành, trải nghiệm và
phát triển. Bởi KTBĐ là kết quả của sự quan sát, đúc rút kinh
nghiệm từ thực tế sinh hoạt và trong sản xuất nông lâm nghiệp,

gia cầm và 9 giống gia súc. Tác giả cũng cho rằng các cộng
đồng dân tộc thiểu số MNPB đang quản lý và sử dụng một tập
đoàn giống cây trồng và vật nuối rất phong phú và rất có giá trị
cho sản xuất nông nghiệp do có tính chống chịu cao với các điều
kiện bất lợi. Ví dụ cộng đồng người Tày ở Bắc Kạn đang sử
dụng tới 20 giống cây trồng và 3 giống vật nuôi bản địa phổ
biến, trong khi đó cộng đồng người Dao ở Bắc Kạn cũng đang
sử dụng tới 19 giống cây trồng và 4 giống vật nuôi bản địa trong
phát triển sinh kế của mọi gia đình. Các giống bản địa này đang
góp phần quan trọng giúp cho sản xuất của người dân tránh
được hiện tượng thời tiết cực đoan xẩy ra mấy năm gần đây.
Kiến thức bản địa còn được ứng dụng nhiều trong kỹ thuật
canh tác trong điều kiện thời tiết khí hậu cực đoan. Với điều
kiện canh tác chủ yếu trên đất dốc nhiều biên pháp kỹ thuật
truyền thống đã được áp dụng để han chế xói mòn đất do mưa to
24 | P a g e
như tạo ruộng bậc thang, xếp đá tạo đường đồng mức, để bang
cỏ tự nhiên theo đồng mức, trồng xen canh để che phủ mặt đất.
Đặc biệt kỹ thuật bản địa tưới nước và giữ nước trong điều kiên
địa hình đồi núi phức tạp đã được áp dụng rất phổ biến ở nhiều
cộng đồng dân tộc thiểu số như làm guồng, cọn tát nước, ống
bương dẫn nước. đào giếng tại ruộng giữ nước. đã giúp cho
cây trồng tránh được khô hạn. Đặc biệt những kiến thức về thời
vụ gieo trồng và dự báo thời tiết khi hậu bất lợi đã giúp cho các
cộng đồng dân tộc thiểu số giảm thiệu thiệt hại do thiên tai. Ví
dụ người Dao cho biết “khi thấy trâu đang thả trong rừng mà
chạy bỏ về nhà là trời sắp có mưa to chuẩn bị tránh lũ. Hay mặt
nước ao đang bình thường chuyển sang màu xanh rêu 2-3 ngày
là trời sẽ mưa to ” Kiến thức bản địa thực sự giúp cho việc sản
xuất nông nghiệp của cộng đồng các dân tộc thiểu số được phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status