ii
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC HÌNH v
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN 3
1.1. Tổng quan về đồng bằng sông Cửu Long 3
1.1.1. Điều kiện tự nhiên 3
1.1.2. Hiện trạng kinh tế - xã hội 7
1.1.3. Tổng quan tác động của biến đổi khí hậu 10
1.1.3.1. Tác động tới môi trường tự nhiên 10
1.1.3.2. Tác động tới kinh tế - xã hội 14
1.2. Tổng quan về một số làng sinh thái trên thế giới và Việt Nam 19
1.2.1. Khái niệm làng sinh thái 19
1.2.2. Tổng quan một số làng sinh thái trên thế giới và Việt Nam 19
1.2.2.1. Trên thế giới 19
1.2.2.2. Việt Nam 22
1.2.2.3. So sánh mô hình LST của Thế Giới và Việt Nam 24
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 25
2.1. Đối tượng nghiên cứu 25
2.2. Phương pháp tiếp cận 25
2.3. Phương pháp nghiên cứu 25
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
3.1. Đánh giá đặc điểm dân cư nông thôn khu vực nghiên cứu 29
3.1.1. Đánh giá tổng quan quá trình hình thành và phát triển dân cư nông thôn29
3.1.2. Đánh giá tập quán cư trú trước đây và hiện nay của cư dân ĐBSCL 30
3.1.3. Đặc điểm điều kiện sống khu vực khảo sát 32
3.2. Cơ sở để xây dựng các tiêu chí cho làng sinh thái 35
3.2.1. Cơ sở xác định tiêu chí 35
Bảng 7. Các chỉ tiêu về giao thông 40
Bảng 8. Các chỉ tiêu về năng lượng 41
Bảng 9. Các chỉ tiêu về nhà sinh hoạt cộng đồng tránh, trú bão 42
Bảng 10. Các chỉ tiêu về cây xanh 43
Bảng 11. Điểm số chỉ tiêu đảm bảo có đủ nước cấp cho sinh hoạt 44
Bảng 12. Điểm số chỉ tiêu đa dạng hóa nguồn cấp nước cho sinh hoạt 45
Bảng 13. Điểm số chỉ tiêu có biện pháp sử dụng tiết kiệm nước 45
Bảng 14. Điểm số chỉ tiêu có công trình xử lý nước thải 46
Bảng 15. Điểm số chỉ tiêu tái sử dụng nguồn nước sau xử lý 47
Bảng 16. Điểm số chỉ tiêu phân loại rác tại nguồn 48
Bảng 17. Điểm số chỉ tiêu xử lý CTR đúng kỹ thuật, an toàn và hợp vệ sinh 49
Bảng 18. Điểm số chỉ tiêu đảm bảo giao thông thuận lợi 49
Bảng 19. Điểm số chỉ tiêu đường giao thông có tính đến kịch bản BĐKH và nước
biển dâng 50
Bảng 20. Điểm số chỉ tiêu chất lượng đường đảm bảo bền vững, an toàn 51
Bảng 21. Điểm số chỉ tiêu sử dụng nguồn năng lượng tái tạo 52
Bảng 22. Điểm số chỉ tiêu thông gió và chiếu sáng tự nhiên 53
Bảng 23. Điểm số chỉ tiêu không gian sinh hoạt 53
Bảng 24. Điểm số chỉ tiêu bảo đảm phòng chống lụt bão và nước biển dâng 54
Bảng 25. Điểm số chỉ tiêu trồng cây xanh khu vực công cộng 55
Bảng 26. Điểm số chỉ tiêu trồng cây xanh trong các hộ gia đình 55
Bảng 27. Lượng hóa đánh giá LST theo từng chỉ tiêu 56
Bảng 28. Lượng hóa đánh giá LST áp dụng tại khu vực ấp Hiệp Dư 63
v
DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Vị trí địa lý khu vực đồng bằng sông Cửu Long 3
Hình 2: Nguy cơ ngập ĐBSCL ứng với mực nước biển dâng 1m [Bộ TN&MT] 11
Hình 3: Tác động của biến đổi khí hậu đối với nông nghiệp 14
Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu
LST
Làng sinh thái
NBD
Nước biển dâng
PTBV
Phát triển bền vững
PTNT
Phát triển nông thôn
TN&MT
Tài nguyên và Môi trường
XLNT
Xử lý nước thải
1
MỞ ĐẦU
Biến đổi khí hậu (BĐKH) mà trước hết là sự nóng lên toàn cầu và nước biển
dâng hiện nay, là thách thức nghiêm trọng nhất đối với nhân loại trong thế kỷ XXI.
BĐKH tác động trực tiếp tới các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ và được coi là
thách thức lớn cho phát triển bền vững (PTBV) [IPCC, 2007]. Nó đã và đang tác
động trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội và môi trường toàn cầu; trong những
năm qua nhiều nơi trên thế giới đã phải chịu nhiều thiên tai nguy hiểm như bão lớn,
lũ lụt, nước biển dâng và khí hậu khắc nghiệt.
Việt Nam là một trong những quốc gia bị tổn thương nặng nề nhất do biến
đổi khí hậu; đặc biệt đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong ba đồng
bằng trên thế giới dễ bị tổn thương nhất bởi nước biển dâng [WB, 2007; Bộ
TN&MT, 2008, 2009, 2011]. ĐBSCL là vùng hạ lưu cuối cùng của lưu vực sông
Mekong trước khi chảy ra biển; đây là vùng đất thấp, được xem là vùng đất ngập
cạnh tự nhiên lẫn xã hội. Trên cơ sở đó, việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu xây
dựng tiêu chí làng sinh thái thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng
dân cư nông thôn đồng bằng sông Cửu Long” là hết sức cần thiết. Kết quả xây
dựng làng sinh thái, sẽ làm căn cứ để các nhà quản lý và các cấp chính quyền đánh
giá tiêu chí xây dựng làng sinh thái thích ứng với BĐKH ở địa phương mình, đồng
thời có thể xây dựng mô hình LST theo các tiêu chí mẫu đề ra nhằm hướng tới một
mô hình sống bền vững có tính thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
Mục tiêu: xây dựng tiêu chí làng sinh thái thích ứng với biến đổi khí hậu dựa
vào cộng đồng dân cư nông thôn đồng bằng sông Cửu Long.
Để đạt được mục tiêu đề tài thực hiện các nội dung sau:
- Tổng hợp các nghiên cứu liên quan đến đề tài, đặc biệt là các tài liệu về mô
hình làng sinh thái trên thế giới và Việt Nam.
- Tìm hiểu đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của khu vực nghiên cứu.
- Đề xuất tiêu chí làng sinh thái dựa vào cộng đồng dân cư nông thôn khu
vực đồng bằng sông Cửu Long; nghiên cứu áp dụng tại ấp Hiệp Dư, xã Nguyễn
Huân, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Tổng quan về đồng bằng sông Cửu Long
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
a). Vị trí địa lý
Đồng bằng sông Cửu Long, còn được gọi là miền Tây Nam Bộ, nằm ở hạ lưu
châu thổ sông Mê Kông có diện tích 3,96 triệu ha [16]. Giới hạn địa lý của vùng này
được xác định từ vĩ độ 8
o
30’N - 10º40’N và kinh độ 104º26’E - 106
o
40’E; phía
đông, đầu mùa hè.
Bức xạ tổng cộng trung bình năm khoảng (150-160) kcal/cm
2
, số giờ nắng
trung bình năm khoảng (2.200-2.800) giờ [14].
Khu vực có nền bức xạ khá cao, địa hình khá bằng phẳng nên nhiệt độ phân
bố tương đối đều trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, theo Đài khí tượng thủy
văn khu vực Nam Bộ (năm 2013) nhiệt độ không khí trung bình năm biến đổi trong
phạm vi (26-29)
o
C.
Độ ẩm tương đối trung bình năm khoảng (70-80)% [14].
5
Lượng mưa năm trung bình nhiều năm biến đổi trong phạm vi từ dưới 1.400
mm ở khu vực giữa sông Tiền - sông Hậu ở các tỉnh Đồng Tháp, An Giang, Vĩnh
Long tăng lên trên 2.400 mm ở bán đảo Cà Mau. Mùa mưa xuất hiện các tháng V-
XI, trong đó 3 tháng có lượng mưa trung bình tháng lớn nhất xuất hiện vào các
tháng VII-IX; lượng mưa mùa mưa chiếm khoảng (88-95)% lượng mưa năm.[14]
d). Đặc điểm thủy văn
Hệ thống sông ngòi, kênh rạch [5]
Chế độ thủy văn của ĐBSCL chịu sự chi phối hoàn toàn của sông Mê Kông;
phần lưu vực sông Mê Kông chảy ngang qua Việt Nam được gọi là sông Lớn, sông
Cái, hay sông Cửu Long. Hệ thống sông Cửu Long gồm nhiều con sông lớn nhỏ,
bao gồm:
Sông Hậu: chảy qua tỉnh An Giang (Châu Đốc, Long Xuyên), làm ranh giới
tự nhiên giữa các tỉnh Đồng Tháp và Cần Thơ, Vĩnh Long và Cần Thơ, Hậu Giang
và Vĩnh Long, Trà Vinh và Sóc Trăng và đổ ra biển trước kia bằng 03 cửa, bao gồm
cửa Định An, cửa Ba Thắc, cửa Tranh Đề. Cửa Ba Thắc khoảng thập niên 1970 đã
bị bồi lấp nên sông Hậu chỉ còn hai cửa biển ngày nay. Đoạn rộng nhất của con
tục có dòng chảy nhỏ nhất xuất hiện vào các tháng II-IV [14].
Chế độ nước sông ở vùng đồng bằng ven biển còn chịu chi phối bởi thuỷ
triều Biển Đông và vịnh Thái Lan với chế độ triều tương ứng là bán nhật triều
không đều và nhật triều không đều. Hai loại triều với chế độ khác nhau này xâm
nhập vào trong sông ngòi kênh rạch, tạo nên bức tranh thuỷ triều rất phức tạp. Tuy
nhiên, thủy triều Biển Đông chiếm ưu thế so với thủy triều từ vịnh Thái Lan xâm
nhập vào.
Thủy triều: Thủy triều có ảnh hưởng sâu sắc đến dòng chảy vùng ven biển
ĐBSCL. Vùng ven biển phía Đông từ Cần Giờ đến mũi Cà Mau chịu ảnh hưởng
của thuỷ triều biển Đông; vùng ven biển phía Tây từ mũi Cà Mau đến Hà Tiên chịu
ảnh hưởng của thủy triều biển Tây.
Thủy triều vùng ven biển Đông có chế độ bán nhật triều không đều, mỗi
ngày nước lên xuống 2 lần, có 2 đỉnh và 2 chân. Hai đỉnh triều chênh lệch nhau ít
nhưng 2 chân chênh lệch nhau nhiều. Với dạng triều này sẽ có tác dụng đưa nước
vào nội đồng nhiều hơn. Xu thế thuỷ triều ven biển Đông là từ Vũng Tàu đến Gành
Hào biên độ triều tăng lên nhưng thời gian xuất hiện đỉnh triều chậm dần.
7
Thủy triều ven biển Tây thuộc loại hỗn hợp thiên về nhật triều. Trong ngày
có 2 đỉnh, 2 chân nhưng những dao động lớn hoàn toàn chiếm ưu thế và thiên về
nhật triều. Có nghĩa là 2 đỉnh chênh lệch nhau đáng kể nhưng 2 chân xấp xỉ nhau.
Dạng triều này có thời gian duy trì mức nước thấp dài nên tạo ra việc tiêu tháo nước
thuận lợi.[14]
1.1.2. Hiện trạng kinh tế - xã hội
a). Dân số
Dân số 13 tỉnh/ thành phố thuộc khu vực ĐBSCL là 17.390,5 nghìn người.
Tỉnh có dân số đông nhất hiện nay trên toàn khu vực là An Giang với 2.153,7 nghìn
người, tỉnh có số dân ít nhất là Hậu Giang, chỉ có 769,7 nghìn người. Diện tích và
dân số các tỉnh được cụ thể như dưới đây:
Bảng 1. Diện tích và dân số các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long
2.359,5
1.262,0
5,9
10,04
89,96
535
Trà Vinh
2.341,2
1.027,5
6,6
16,23
83,77
439
Vĩnh Long
1.520,2
1.040,5
7,6
15,57
84,43
684
Đồng Tháp
3.378,8
1.680,3
8,5
17,76
82,24
497
An Giang
3.536,7
2.155,3
66,01
395
Bạc Liêu
2.468,7
876,8
9,9
27,26
72,74
355
Cà Mau
5.294,9
1.219,9
8,7
21,56
78,44
230
Tổng cộng
40.572
17.478,9
-
-
-
490
Nguồn: [19]
8
Dân số ở các tỉnh trên toàn khu vực chủ yếu tập trung ở các vùng nông thôn,
chỉ có Cần Thơ là thành phố có 66,32% dân số tập trung ở thành thị. Bến Tre là tỉnh
có tỷ lệ dân cư tập trung ở nông thôn cao nhất khu vực với gần 90%. Mật độ dân số
trung bình ở các tỉnh ĐBSCL là 490 người/km²; cao gấp 1,6 lần mật độ dân số trung
sản phát triển mạnh với hơn 60 chủng loại mặt hàng cung cấp khoảng 60% sản
lượng và giá trị kim ngạch xuất khẩu góp phần giải quyết công ăn việc làm cho
khoảng 6 triệu lao động.
Đã hình thành các khu công nghiệp tập trung cấp vùng và cấp quốc gia; toàn
vùng hiện nay có 78.931 cơ sở kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực công thương.
Đến nay đã hình thành 51 khu công nghiệp và chế xuất, thu hút 366 doanh nghiệp, tỷ
lệ lấp đấy cao và tạo việc làm cho khoảng 61.000 lao động [19].
- Dịch vụ:
Là một khu vực kinh tế phát triển ngành, đóng góp ngày càng lớn trong tỷ
trọng nền kinh tế. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng từ 43,5
nghìn tỷ đồng năm 2001 lên 279 nghìn tỷ đồng năm 2010, đạt 428,877 nghìn tỷ
đồng năm 2012, mức tăng bình quân hàng năm giai đoạn 2001-2010 đạt 20,8%.
Toàn vùng có 1.857 chợ, trong đó có 1.797 chợ hạng 3, 51 siêu thị, 09 trung tâm
thương mại.[19]
ĐBSCL là nơi hội tụ, giao thoa các dòng văn hóa của dân tộc Kinh, Khơme,
Chăm, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch sinh thái và du lịch văn hóa mang
nét đặc trưng riêng của vùng; đóng vai trò quan trọng đối với môi trường sinh thái
của cả khu vực Nam Bộ và hạ lưu sông Mê Kông. Du lịch phát triển đa dạng và
phong phú về loại hình du lịch sinh thái, sông nước miệt vườn
Các điểm du lịch tại đất mũi Cà Mau, du lịch biển Kiên Giang, Trà Vinh, Bạc
Liêu, Tiền Giang, Bến Tre, du lịch sinh thái ở Đồng Tháp, Cần Thơ, Hậu Giang, du
lịch di tích văn hóa ở An Giang và du lịch biển đảo ở Phú Quốc là những thế mạnh
của vùng. Cơ sở vật chất của ngành được đầu tư phát triển đặc biệt tại Vùng Kinh tế
trọng điểm ĐBSCL. Năm 2012 toàn vùng thu hút 21,8 triệu lượt khách du lịch,
trong đó có 2 triệu lượt khách quốc tế, doanh thu đạt 4.456 tỷ đồng [19].
10
1.1.3. Tổng quan tác động của biến đổi khí hậu
Biến đổi khí hậu sẽ tác động trực tiếp đến tài nguyên nước, năng lượng, sức
khỏe con người, nông nghiệp, an ninh lương thực, đa dạng sinh học, cơ sở hạ tầng,
- Đất bị ngập úng: Những năm gần đây thiên tai, lũ lụt, hiện tượng triều
cường xảy ra liên tiếp đã làm cho vấn đề ngập úng đất ở khu vực ĐBSCL ngày càng
trở nên nghiêm trọng. Từ năm 2004-2007, đỉnh triều cường trên sông Hậu tại thành
phố Cần Thơ mỗi năm tăng thêm 4 cm, gây nên tình trạng ngập lụt thường xuyên ở
một số tuyến đường phố trung tâm Thành phố Cần Thơ. Giả thuyết mực nước biển
dâng 1m thì vùng toàn vùng ĐBSCL có bản đồ ngập như dưới đây.
Hình 2: Nguy cơ ngập ĐBSCL ứng với mực nước biển dâng 1m [Bộ TN&MT]
- Sạt lở đất: Tình trạng sạt lở bờ biển, bờ sông trong nhiều năm qua đã gây
thiệt hại không nhỏ tại Đồng bằng sông Cửu Long. Đoạn đê biển đi qua huyện U
Minh, Trần Văn Thời, Phú Tân của Cà Mau và huyện Hòn Đất của Kiên Giang,
thuộc tuyến biển Tây, dài khoảng 260km kéo dài từ Cà Mau đến Kiên Giang hiện bị
xói lở nghiêm trọng. Đoạn đê ở rạch Tiểu Dừa thuộc huyện U Minh, Cà Mau, bị sạt
lở gần 200m. Hiện có gần 150 đoạn bờ sông thuộc 10 tỉnh ven sông Tiền, sông Hậu
với diện tích hàng trăm ngàn mét vuông có thể bị sạt lở bất cứ lúc nào, hàng ngàn
hộ sống trong khu vực nguy hiểm cần được di dời
1
. Nghiêm trọng nhất là tại An
Giang, thời gian qua, hàng trăm hecta đất đã bị nước nhấn chìm. 1
Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam
12
b). Môi trường nước
ĐBSCL sẽ là vùng bị ảnh hưởng mạnh nhất, nước biển dâng cao hơn sẽ làm
cho nhiều vùng đồng bằng nước ngọt hiện nay trở thành vùng nước lợ, làm thay đổi
chế độ thủy văn dòng chảy và gây áp lực đến 90% diện tích ngập nước. Vì theo dự
báo, trong vài chục năm tới, nước biển sẽ dâng cao làm ngập lụt phần lớn ĐBSCL
sâu từ 10 – 30 cm. Quốc lộ 53 thuộc địa phận thị trấn huyện Long Hồ cũng bị ngập
trên chiều dài 200 m, sâu 15 cm. Hàng trăm nhà dân chưa kịp tôn nền cũng bị ngập.
Trước đó, đợt triều cường kết hợp mưa nhiều thời điểm giữa tháng 12 năm 2008
làm 100.000 ha nằm ngoài các đê bao tại ĐBSCL bị ngập từ 10 – 40 cm, chủ yếu là
vườn cây ăn trái. Nước ngập xảy ra ngay trong mùa khô gây trở ngại trong sản xuất,
sinh hoạt của người dân sống ngoài vùng đê bao [15].
c). Đa dạng sinh học
Sự tăng lên của nhiệt độ tác động đến các hệ sinh thái tự nhiên, làm dịch
chuyển các ranh giới nhiệt của các hệ sinh thái lục địa và hệ sinh thái biển, làm thay
đổi cơ cấu các loài thực vật và động vật ở một số vùng. Nước mặn sẽ xâm nhập sâu
vào nội địa giết chết nhiều loài động, thực vật nước ngọt của hệ sinh thái thủy sinh
và ảnh hưởng đến nguồn nước ngọt cho sinh hoạt cũng như hệ thống canh tác, cơ
cấu cây trồng của nhiều vùng. Các hệ sinh thái địa cầu sẽ phải đối mặt với hai mối
đe dọa là sự gia tăng CO
2
khí quyển trên toàn cầu và những biến động khí hậu vùng
liên quan. Sự thích nghi không tốt với BĐKH đã khiến đa dạng sinh học suy giảm
nghiêm trọng.
Hệ sinh thái biển cũng sẽ bị tổn thương do BĐKH. Các rạn san hô là hệ rừng
nhiệt đới của biển, nơi sinh sống của nhiều loài hải sản quan trọng và nhiều loài
sinh vật biển khác, là lá chắn chống xói mòn bờ biển và bảo vệ rừng ngập mặn, sẽ
bị suy thoái do nhiệt độ nước biển tăng, đồng thời mưa nhiều làm cho nước ven
biển bị ô nhiễm phù sa và có thể cả các hóa chất nông nghiệp từ cửa sông đổ ra.
Tóm lại, các biến động của hệ sinh thái có thể đưa đến một sự thoái hóa về tính đa
dạng của chủng loại sinh vật của vùng đất liền ĐBSCL và biển ven bờ của 8 tỉnh
Bắc và Nam sông Hậu.
14
1.1.3.2. Tác động tới kinh tế - xã hội
a). Nông nghiệp
2
TSKH Trương Quang Học, năm 2009.
BĐKH
Khí hậu nông nghiệp
Kỹ thuật nông nghiệp
Năng suất tiềm năng
Sản lượng thực thu
Kinh tế nông nghiệp
15
xuất cũng như trong quá trình bảo quản, sơ chế lương thực, thực phẩm; nhiều loại
cây trồng bị thoái hóa làm giảm sản lượng và năng suất.
b). Thủy hải sản
Biến đổi khí hậu làm nhiệt độ tăng, gia tăng bão và áp thấp nhiệt đới, nước
biển dâng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn lợi thủy sản cũng như diện tích nuôi
trồng thủy hải sản. Sự tăng nhiệt độ có thể làm suy giảm sản lượng thủy sản trong
các ao, vuông tôm. Dưới ảnh hưởng trực tiếp từ việc giảm mưa trong mùa khô,
đồng thời cùng với sự tăng nhiệt độ không khí sẽ làm tăng lượng bốc hơi tại các
đầm nuôi vì vậy sẽ làm tăng độ mặn trong các đầm này. Theo dự báo Trung tâm
Bảo tồn sinh vật biển và Phát triển cộng đồng như trong bảng dưới đây.
Bảng 2. Dự báo diện tích đầm tôm do tác động của việc độ mặn tăng theo kịch bản
nước biển dâng 0,5m
Tỉnh
Đơn
vị
Sự tăng nước mặn, ppt
Tổng
<0
0-1
1-2
Kiên Giang
ha
27.059
747
1.776
29.583
Sóc Trăng
ha
2.652
14.613
4.300
31.565
Tiền Giang
ha
2.559
1.201
3.760
Trà Vinh
ha
12.848
16 Hình 4: Xu hướng suy giảm nguồn lợi thủy sản do biến đổi khí hậu [FAO]
Theo dự báo của tổ chức nông nghiệp thế giới, BĐKH sẽ làm giảm sản lượng
thủy hải sản trên toàn thế giới nói chung và tại vùng biển của tỉnh nói riêng. Từ năm
1950 đến nay, sản lượng nguồn lợi thủy hải sản tại các vùng biển đã giảm khoảng
trên 20% và dự đoán sẽ tiếp tục giảm đến 100% vào năm 2050.
Ngoài ra, sự gia tăng của bão, áp thấp nhiệt đới do BĐKH gây ra sự biến
động ngư trường, các cơ sở hạ tầng nuôi trồng thủy sản bị phá hoại, giảm năng suất
nuôi và đánh bắt, gây thiệt hại mùa vụ.
c). Giao thông
Giao thông đường bộ ở nông thôn ĐBSCL phát triển ở mức thấp, chậm,
chất lượng kém và còn nhiều cầu thô sơ. Giao thông giữa các tỉnh ven biển Đông
như Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng còn bị đứt quãng, một số xã vùng sâu vùng
xa chưa có đường ô tô tới trung tâm (Hậu Giang còn 10 xã, Bạc Liêu còn 18 xã).
Mật độ đường bộ ở ĐBSCL đạt 0,2km/km
2
, thấp hơn so với toàn quốc
(0,342km/km
2
), mật dộ dân số được sử dụng đường bộ là 0,52km/1vạn
dân. Khi xảy ra BĐKH, nước biển dâng một phần diện tích vùng bị ngập nước;
điều đó cũng có nghĩa hệ thống đường bộ trên địa bàn tỉnh sẽ bị tác động mạnh
mẽ. Ví dụ như các tuyến đường liên huyện, liên xã, tuyến đường nông thôn cũng
xảy ra tình trạng ngập nặng trong những đợt mưa to kết hợp với triều cường.
Tiêu biểu như tuyến đường dẫn từ huyện Cái Nước vào huyện Trần Văn Thời,
huyện Đầm Dơi… (Cà Mau).[14]
Giao thông thủy ở ĐBSCL có lợi thế phát triển, mật độ đường thủy là
0,68km/km
thông số
nhạy cảm có
thể là số
ngày nóng
liên tục có
Các bệnh liên
quan đến
sự thay đổi nhiệt độ, ví
dụ: Sốt cao do quá nóng
(hyperthermia), mất
nhiệt do quá lạnh.
Tăng nguy cơ bệnh tật, tử vong do các đợt nắng
nóng
kéo dài, xảy ra đối với những người làm
việc ngoài trời, người già, trẻ em, người nghèo,
người vô gia cư. Tình trạng bệnh tật cũng sẽ
trầm trọng thêm do nắng nóng tăng cường, mưa
ít dẫn đến hạn hán, thiếu nước.
Các bệnh dị ứng (viêm
mũi dị ứng, hen,
suyễn…)
Gia tăng các bệnh dị ứng do nhiệt độ và độ ẩm
tăng, do gia tăng nồng độ ozone ở tầng đối lưu;
đặc biệt là ở trẻ em, người có sức đề kháng yếu.
18
Các yếu tố
khí hậu
Đối tượng tác động
Tác động
lan truyền dịch bệnh do sự lây nhiễm giữa
người – người, động vật – người (như cúm).
Tăng diện tích vùng nhiễm bệnh đối với bệnh
lan truyền qua đường nước như dịch tả (Vibrio
Cholera), đặc biệt ở những nơi không có khả
năng tiếp cận nguồn nước sạch, vùng thấp, có
nguy cơ ngập.
Tăng một số bệnh liên quan đến đường tiêu hóa
do nhiệt độ và độ ẩm tăng. Tạo điều kiện thuận
lợi cho các loài nấm mốc phát triển.
Sự thay đổi
về nhiệt độ
và lượng
mưa.
Các bệnh do
ô nhiễm
không khí.
Tăng nguy cơ bị viêm đường hô hấp, viêm
phổi, và
đột tử do gia tăng lượng khí oxit axit
(NO
2
,
SO
2
…)
và bụi; đặc biệt là trẻ em, người
làm việc ngoài trời, người già, người bệnh hô
hấp. Tăng nguy cơ ung thư đường hô hấp.
Các hiện
vững cả về sinh thái, kinh tế, xã hội và văn hóa nhằm cải tạo môi trường tự nhiên và
xã hội (GEN-Global ecovillage network) [25].
Theo GS.TS. Nguyễn Văn Trương - Viện trưởng Viện Kinh tế sinh thái đưa ra
khái niệm “Làng sinh thái là một hệ sinh thái có một không gian sống của một cộng
đồng người nhất định. Hệ sinh thái này vừa có chức năng sản xuất ra những thứ cần
thiết cho nhu cầu của cộng đồng mà không phá vỡ cân bằng sinh thái. Trong hệ, con
người có vai trò trung tâm để điều hòa các mối quan hệ nhằm sử dụng tối ưu các
nguồn tài nguyên sẵn có, hướng tới một sự cân bằng ổn định, bền vững cả khía cạnh
tự nhiên lẫn khía cạnh xã hội”.
Các nghiên cứu về làng sinh thái tại Việt Nam cho thấy làng sinh thái là mô
hình sống bền vững, hình thành bởi cộng đồng dân cư sống ở các vùng ngoại ô,
nông thôn, qua đó giảm các tác động tiêu cực đến vấn đề môi trường, kết hợp phát
triển kinh tế dựa trên các yếu tố sinh thái.
1.2.2. Tổng quan một số làng sinh thái trên thế giới và Việt Nam
1.2.2.1. Trên thế giới
a). Làng sinh thái ở Hà Lan
Làng sinh thái Zaanse Schans nằm cách thành phố Amsterdam khoảng 15
km về phía Tây Bắc. Ngôi làng sinh thái với tiêu chí xanh, sạch và tự sản xuất
thực phẩm tiêu dùng, phương tiện giao thông phổ biến nhất của làng là xe đạp,
không chỉ có không khí trong lành nơi đây còn có những kiểu nhà đặc trưng với
20
mái ngói và ống khói cao cùng phong cách sống giản dị và chân tình của người
dân nông thôn.[5]
Làng sinh thái Het Carre nằm giữa Roterdam và Hague, được xây dựng năm
2003, ngôi làng điển hình về sử dụng năng lượng sạch. Những ngôi nhà hiện đại ở đây
có hệ thống sưởi ấm dựa trên nguồn năng lượng mặt trời, các thiết bị cấp nhiệt, bơm
nhiệt, tấm pin mặt trời và máy nước nóng năng lượng mặt trời là sản phẩm phổ biến.
b). Làng sinh thái BedZED (London, Anh)
Dự án Làng sinh thái BedZED nằm ở khu Wallington, phía Nam London