ĐẠIHUỆ
HỌC THÁI NGUYÊN
DƯƠNG THỊ KIM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ MÔ HÌNH
SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ
HỘ NÔNG DÂN TẠI THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN,
TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
DƯƠNG THỊ KIM HUỆ
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ MÔ HÌNH
SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ
HỘ NÔNG DÂN TẠI THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN,
TỈNH THÁI NGUYÊN
Ngành: Phát triển nông thôn
Mã số: 60 62 01 16
LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. TRẦN VĂN ĐIỀN
3
LỜI CAM ĐOAN
Dương Thị Kim Huệ
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NTM :
Nông thôn mới
CNH :
Công nghiệp hóa
CN-TTCN :
Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp
DTTN :
Diện tích tự nhiên
HĐH :
Hiện đại hóa
KH-CN :
Khoa học công nghệ
năng áp dụng tiến bộ kỹ thuật mới vào thực tế sản xuất..
đoạn hiện nay, khi
chương
Đặc
trình xây dựng
biệt
trong
giai
nông
thôn mới của Đảng và Nhà nước đang được triển khai thì việc áp dụng các thành tựu khoa
học công nghệ trong phát triển nông nghiệp và nông thôn được coi là giải pháp có hiệu quả
và thực sự cần thiết.
Xây dựng nông thôn mới (NTM) không chỉ là xây dựng cơ sở hạ tầng, những công
trình công cộng...mà phải tạo được sự thay đổi ở mỗi hộ gia đình từ nhà cửa, vườn tược
thậm chí thay đổi cả từ nhà vệ sinh của người dân nông thôn. Khi đó, chúng ta sẽ thay đổi
được nếp sống của mỗi gia đình, mỗi xóm bản theo hướng tích cực. Nhìn tổng thể, xây
dựng NTM không chỉ làm thay đổi về hạ tầng cơ sở mà còn tạo sự chuyển biến trong tư
duy, nhận thức của người dân, đó chính là vấn đề lâu dài và rất quan trọng. Phát triển nông
nghiệp trong điều kiện hiện nay không thể theo cách thức đã làm trong quá khứ, mà cần có
những nghiên cứu đưa ra giống mới, phù hợp với tái cơ cấu cây trồng, vật nuôi. Bên cạnh
đó những biện pháp canh tác mới cũng cần phải tương thích với những thay đổi trong quy
trình công nghệ.
2.2.
-
Mục tiêu cụ thể
Đánh giá được kết quả triển khai các mô hình sản xuất nông nghiệp ở một số xã, phường
có sản xuất nông nghiệp tại Thành phố Thái Nguyên.
-
Đánh giá được
mức độ ảnh hưởng của một số mô hình
sản xuất nông
nghiệp đến phát triển kinh tế hộ nông dân trên địa bàn thành phố Thái Nguyên
-
Đề xuất một số giải pháp phát triển mở rộng các mô hình sản xuất nông nghiệp có hiệu quả
góp phần xây dựng phát triển nông thôn mới.
3. Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của đề tài
3.1.
Ý nghĩa khoa học
tạp, người ta có thể sử dụng nhiều công cụ và phương pháp nghiên cứu có những ưu thế
riêng được sử dụng trong điều kiện và hoàn cảnh cụ thể. Mô hình là một trong những
phương pháp nghiên cứu được sử dụng rộng rãi, đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu khoa
học theo cách tiếp cận khác nhau thì mô hình có những quan niệm, nội dung và cách hiểu
riêng, góc độ tiếp cận về mặt vật lý thì mô hình là vật cùng hình dạng nhưng thu nhỏ lại.
Theo Trung tâm từ điển học (1997)[17] khi tiếp cận sự vật để nghiên cứu thì coi mô hình là
sự mô phỏng cấu tạo và hoạt động của một vật thể trình bày và nghiên cứu. Theo Paul và
Wiliam (1989)[18] khi mô hình hóa đối tượng nghiên cứu thì mô hình sẽ được trình bày
đơn giản về một vấn đề phức tạp giúp cho ta sẽ nhận biết được đối tượng nghiên cứu. Mô
hình còn được coi là ảnh quy ước của đối tượng nghiên cứu và còn là kiểu mẫu về một hệ
thống các mối quan hệ hay tình trạng kinh tế.
Như vậy mô hình có thể có các quan niệm khác nhau, sự khác nhau đó tùy thuộc
vào góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu, nhưng khi sử dụng mô hình người ta đều có
chung một quan điểm là dùng để mô phỏng đối tượng nghiên cứu. Dương Văn Hiểu (2011)
[5] Mô hình là hình mẫu để mô phỏng hoặc thể hiện đối tượng nghiên cứu,
diễn đạt hết
sức ngắn gọn,
được
phản ánh những đặc trưng cơ
bản nhất và giữ nguyên được bản chất của đối tượng nghiên cứu.
1.1.1.2.
Khái niệm về mô hình sản xuất nông nghiệp
Mô hình sản xuất: Sản xuất là một hoạt động có ý thức, có tổ chức của con người
mọi ngành, mọi lĩnh
yếu tố tác động đến quá trình sản xuất, kinh
vực sản xuất, kinh doanh thì các
yếu tố như
điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, trình độ kỹ thuật, lực lượng lao động, các yếu tố đầu vào,
đầu ra... là những yếu tố tác động trực tiếp đến kết quả, hiệu quả kinh tế của quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh. Với sản xuất nông nghiệp c ũ ng v ậ y, các yếu tố tác động đến
việc phát triển mô hình sản xuất được thể hiện:
-
Yếu
tố
về con
người: Đây là nhân tố quan trọng bậc
nhất ảnh hưởng đến
hoạt động sẩn xuất nông nghiệp. Họ sẽ quyết định đến việc có tiếp thu những tiến bộ của
khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất để mang lại hiệu quả kinh tế, cũng như hiệu quả xã
hội cao nhất.
-
lao động. Tuy nhiên, lao
động của các
nông hộ có đông về số lượng nhưng về cơ bản vẫn là lao động thủ công, năng suất lao động
thấp, trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật và kiến thức kinh doanh theo cơ chế thị trường
vẫn còn hạn chế. Để phát triển sản xuất nông nghiệp yêu cầu trước mắt và lâu dài là phải
bồi dưỡng một đội ngũ lao động có chất lượng cao phù hợp với tình hình mới.
Trình độ kinh nghiệm của người dân trong sản xuất nông nghiệp. Đối với các giống
cây trồng đòi hỏi sự chăm sóc kịp thời và đúng quy trình kỹ thuật mới làm năng suất tăng,
chất lượng tốt. Nếu hộ dân có trình độ, nhận thức, có kinh nghiệm sẽ lựa chọn được giống
cây trồng, biện pháp canh tác, sử dụng phân bón một cách hợp lý. Ngược lại hộ dân có trình
độ, nhận thức tấp, thiếu kinh nghiệm trong sản xuất sẽ không nắm bắt được kỹ thuật áp
dụng sẽ cho kết quả và hiệu quả thấp.
+Yếu tố thị trường:
Thị trường luôn là khâu cuối cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đặc điểm
của sản xuất nông nghiệp nên yếu tố này ngày càng quan trọng, nó ảnh hưởng đến quyết
định có sản xuất nữa hay không của người sản xuất, hay nó tác động trực tiếp đến hiệu quả
kinh tế của ngành
- Nhóm yếu tố kỹ thuật
Giống: Giống là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sản xuất. Ngày
nay, với trình độ khoa học phát triển, ngày càng có nhiều giống tốt đưa vào sản xuất. Tuy
nhiên, ngoài việc được hướng dẫn cụ thể về quá trình sản xuất thì người dân cũng cần phải
có một trình độ nhất định để khai thác có hiệu quả các loại giống tốt, thích nghi với điều
kiện sản xuất cụ thể.
Thời vụ: Đối với các loại cây trồng đều có đặc điểm sinh trưởng và quy luật phát
triển riêng. Thời vụ gieo trồng được xác định trong quá trình sản xuất. Lịch gieo trồng được
nghiên cứu trên cơ sở kết hợp giữa quy luật sinh trưởng và phát triển của cây trồng. Như
vậy để nâng cao hiệu quả của mô hình sản xuất nông nghiệp, người nông dân không chỉ biết
đình làm nông nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử dụng chủ
yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống
kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có
xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”.
Trần Đức Viên (1995) [24]cho rằng: “Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổn định”
và ông coi
“hộ nông dân là
đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển
nông nghiệp”.
Luận điểm trên của ông đã được áp dụng rộng rãi trong chính sách nông nghiêp tại
nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển.
Chính vì vậy, cải cách kinh tế ở một số nước những thập kỷ gần đây đã thực sự coi
hộ nông dân là đơn vị sản xuất tự chr và cơ bản, từ đó đã đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh
trong sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn.
Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm nông dân. Theo Lê Đình Thắng
(1993) [10] cho rằng: Nông hộ là tế bào kinh tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông
nghiệp và nông thôn. Đào Thế Tuấn (1997) [12]cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ
yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá, và hoạt động
phi nông nghiệp ở nông thôn”. Theo Nguyễn Sinh Cúc (2001) [4] cho rằng: “Hộ nông
nghiệp là những hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc
gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất, thủy nông,
giống cây trồng, bảo vệ thực vật...) và thông thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nông
nghiệp”.
Như vậy có thể khái quát khái niệm hộ nông dân:
người làm kinh tế khác trong một nền kinh tế thị trường là: Thứ nhất, đất đai: Người nông
dân với ruộng đất chính là một yếu tố hơn hẳn các yếu tố sản xuất khác vì giá trị của nó; nó
là nguồn đảm bảo lâu dài đời sống của gia đình nông dân trước những thiên tai. Thứ hai, lao
động: Sự tín nhiệm đối với lao động của gia đình là một đặc tính kinh tế nổi bật của người
nông dân. Người “lao động gia đình” là cơ sở của các nông trại, là yếu tố phân biệt chúng
với các xí nghiệp tư bản. Thứ ba, tiền vốn và sự tiêu dùng: Người ta cho rằng: “người nông
dân làm công việc của gia đình chứ không phải làm công việc kinh doanh thuần túy” nó
khác với đặc điểm chủ yếu của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là làm chủ vốn đầu tư vào tích
lũy cũng như khái niệm hoàn vốn đầu tư dưới dạng lợi nhuận. Từ những đặc trưng trên có
thể xem kinh tế hộ gia đình nông dân là một cơ sở kinh tế có đất đai, các tư liệu sản xuất
thuộc sở hữu của hộ gia đình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất và
thường là nằm trong một hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu được đặc trưng bởi sự
tham gia cục bộ vào các thị trường có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao.
Tóm lại trong nền kinh tế hộ gia đình nông dân được quan niệm trên các khía cạnh: Hộ gia
đình nông dân (nông hộ) là đơn vị xã hội làm cơ sở cho phân tích kinh tế; các nguồn lực
(đất đai, tư liệu sản xuất, vốn sản xuất, sức lao động...) được góp thành vốn chung, cùng
chung một ngân sách; cùng chung
sống dưới
một
mái nhà,
ăn
chung,
mọi người đều hưởng
phần thu nhập và mọi quyết định đều dựa trên ý kiến chung của các thành viên là người lớn
Nội dung phát triển kinh tế hộ
Quan điểm để phát triển kinh tế nông hộ mang tính bền vững là khái niệm động,
gắn liền với phạm vi thời gian và không gian nhất định. “Phát triển kinh tế nông hộ không
tách rời phát triển bền vững nông thôn, cần đảm bảo nhu cầu hiện tại không làm giảm khả
năng đáp ứng nhu cầu của thế hệ sau”. Đứng trên quan điểm tiếp cận hệ thống trong phát
triển nông thôn có những chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững, hợp lý.
Phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong một thời kỳ
nhất định. Trong đó bao gồm cả sự tăng lên về quy mô sản lượng và tiến bộ mọi mặt của xã
hội hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý. Kinh tế hộ nông dân là một thành phần của kinh tế
nông nghiệp, do đó có thể hiểu rằng phát triển kinh tế hộ
nông dân chính là quá trình tăng trưởng về sản xuất, gia tăng về thu nhập, tích lũy của kinh
tế hộ nông dân, làm cho kinh tế nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế quốc dân nói chung đi
lên.
a. Phát triển qui mô các yếu tố sản xuất của kinh tế hộ nông dân Các yếu tố sản xuất chủ yếu
của kinh tế hộ nông dân bao gồm: đất đai, vốn, lao động. Phát triển các yếu sản xuất là
nhằm gia tăng qui mô đất đai tính trên hộ nông dân (hoặc tính trên 1 lao động); gia tăng vốn
đầu tư cho sản xuất của hộ, gia tăng số lượng lao động.
b. Nâng cao trình độ
sản xuất của chủ hộ - Trình độ
của chủ hộ bao gồm
trình độ học vấn và kỹ năng lao động. Người lao động phải có trình độ học vấn và kỹ năng
Chỉ tiêu phản ánh các yếu tố sản xuất chủ yếu của hộ nông dân bao gồm: Đất đai
bình quân l hộ, l lao động, 1 nhân khấu; vốn sản xuất bình quân 1 hộ và cơ cấu vốn theo
tính chất vốn; lao động bình quân 1 hộ, lao động bình quân/người tiêu dùng bình quân.
Chỉ tiêu đánh giá trình độ sản xuất của hộ nông dân bao gồm các chỉ tiêu phản ánh
về chủ hộ, về điều kiện sản xuất, phương hướng sản xuất.
Chỉ tiêu
môn nghiệp vụ,
phản ánh về chủ hộ nông dân: Trình độ
kinh nghiệm
học vấn, trình độ chuyên
sản xuất, khả năng tiếp thu khoa
học kỳ thuật,
khả
năng tiếp cận thị trường, độ tuổi bình quân, giới tính.
Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất của hộ nông dân: Sản lượng hàng hóa; gía trị sản
xuất; giá trị sản lượng hàng hóa; doanh thu...
Chỉ tiêu phản ánh thu nhập, đời sống và tích lũy của hộ nông dân bao gồm: tổng thu
nhập của hộ, thu nhập bình quân người/ tháng; tổng chi tiêu trong năm; cơ cấu chi tiêu
trong năm; chi đời sống; chi tiêu bình quân người / tháng; chi đời sống bình quân người
/tháng. tỷ lệ thặng dư và tích luỹ của hộ.
1.1.4.
-
Khuyến nông là làm việc với nông dân, lắng nghe những khó khăn, nhu cầu và giúp họ tự
quyết định giải quyết vấn đề chính của họ.
Tóm tắt và hiểu khuyến nông theo 2 nghĩa:
+ Theo nghĩa rộng, khuyến nông là khái niệm chung để chỉ tất cả những hoạt động
hỗ trợ sự nghiệp xây dựng và phát triển nông thôn. Nghĩa là hướng dẫn cho nông dân tiến
bộ kỹ thuật mới, giúp họ liên kết với nhau để chống thiên tai, tiêu thụ sản phẩm, hiểu biết
các chính sách pháp luật, giúp nông dân phát triển khả năng tự quản lý, điều hành, tổ chức
các hoạt động xã hội cho ngày càng tốt hơn.
+ Theo nghĩa hẹp, khuyến nông là một tiến trình giáo dục không chính thức mà đối
tượng của nó là nông dân, nhằm đem đến những thông tin và lời khuyên cho nông dân, giúp
họ giải quyết những vấn đề khó khăn trong cuộc sống. Khuyến nông hỗ trợ phát triển các
hoạt động sản xuất, nâng cao hiệu quả canh tác, cải thiện chất lượng cuộc sống của nông
dân. Khuyến nông giúp phổ biến, mở rộng các kết quả nghiên cứu tới nông dân để họ có thể
áp dụng nhằm thu được nhiều sản phẩm hơn.
Trên cơ sở đúc kết hoạt động khuyến nông ở Việt Nam, chúng ta có thể định nghĩa
về khuyến nông như sau:
Khuyến nông là cách đào tạo và rèn luyện tay nghề cho nông dân, đồng thời giúp
cho họ hiểu được những chủ trương, chính sách về nông nghiệp, những kiến thức về kỹ
thuật, kinh nghiệm quản lý, những thông tin thị trường, để họ có đủ khả năng giải
quyết được các vấn đề
của gia đình và
cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản
Dân chủ, công khai, có sự giám sát của cộng đồng.
-Nội dung, phương pháp khuyến nông phù hợp với từng vùng, miền, địa bàn và
nhóm đối tượng nông dân, cộng đồng dân tộc khác nhau.
Như vậy, để hoạt động có hiệu quả, cần chú ý một số nguyên tắc chung
Khuyến nông là cùng làm với dân, không làm thay cho dân, không áp đặt, không
mệnh lệnh
Chỉ có bản thân người nông dân mới có thể quyết định được phương thức canh tác
trên mảnh đất của họ, cán bộ khuyến nông không thể quyết định thay cho nông dân. Cán bộ
khuyến nông cần cung cấp thông tin, trao đổi, thảo luận, hướng dẫn, bàn bạc với nông dân
trên cơ sở điều kiện cụ thể của nông trại, từ đó khuyến khích họ tự đưa ra quyết định cho
mình. Cán bộ khuyến nông cần tìm hiểu cặn kẽ những yêu cầu, nguyện vọng của người dân
trong sản xuất nông nghiệp, đưa ra những kỹ thuật, phương pháp canh tác phù hợp để họ tự
cân nhắc, lựa chọn. Vụ này chưa áp dụng vì họ thấy chưa đủ điều kiện, chưa thật tin tưởng
nhưng đến vụ sau, thông qua một số hộ đã áp dụng mô hình khuyến nông thành công, lúc
đó họ sẽ tự áp dụng.
Khuyến nông là một công việc đầy trách nhiệm
Một mặt, khuyến nông phải tuân theo đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng
và nhà nước trong khi thực hiện nhiệm vụ. Mặt khác, khuyến nông phải có trách nhiệm với
dân trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, là người phục vụ tận tụy của nông dân. Nông
dân có quyền đánh giá hiệu quả của hoạt động khuyến nông. Tính hiệu quả của hoạt động
khuyến nông trước hết được đánh giá trên cơ sở đường lối, chính sách phát triển nông thôn
hoặc chương trình khuyến nông của nhà nước có được thực hiện tốt hay không, thu nhập và
cuộc sống của nông dân có phải nhờ công tác khuyến nông mà được cải thiện hay không?
Do đó, các chương trình khuyến nông phải xuất phát từ nhu cầu thực tế của nông dân nói
riêng và nhu cầu phát triển nền kinh tế nông thôn nói chung. nhiệm vụ của người cán bộ
khuyến nông là thỏa mãn hài hòa hai nhu cầu đó.
Khuyến nông là nhịp cầu cho thông tin hai chiều
-
Chính quyền địa phương: chính quyền và lãnh đạo địa phương rất nhiệt tình
với công tác khuyến
nông. Do đó, khuyến nông
cần hợp tác để dễ dàng tiếp cận
nông dân và đạt được hiệu quả cao hơn.
-
Các tổ chức dịch vụ: khuyến nông cần phối hợp các tổ chức dịch vụ nông nghiệp để tạo
điều kiện cho những dịch vụ đó được cung cấp đầy đủ, đúng lúc, đúng chỗ theo nhu cầu của
nông dân.
-
Các cơ quan y tế: mục đích làm cho các chương trình khuyến nông luôn phù hợp với nhu
cầu y tế của địa phương.
-
Các tổ
chức
quần chúng như Hội phụ nữ,
nông duy nhất cho tất cả mọi người.
Cần xác định những nhóm nông dân có tiềm năng và lợi ích khác nhau để phát triển những
chương trình khuyến nông phù hợp với điều kiện của từng nhóm (Nguyễn Văn Long (2006)
[7].
1.1.4.3.
-
Mục tiêu của khuyến nông
Nâng cao nhận thức về chủ trương, chính sách, pháp luật, kiến thức, kỹ năng về khoa học
kỹ thuật, quản lý, kinh doanh cho người sản xuất.
-
Góp
phần thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn;
nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, phát triển sản xuất theo hướng bền vững, tạo việc
làm, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo, góp phần thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa nông nghiệp và nông thôn.
-
-
Giám sát và đánh giá hoạt động khuyến nông: đây là một nội dung rất quan trọng, nếu làm
tốt được công việc giám sát đánh giá, có nghĩa là chúng ta đã cụ thể hóa được quan điểm
của Đảng và Nhà nước về công tác dân chủ ở cơ sở: "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm
tra, dân quản lý và hưởng thụ".
-
Phối hợp với nông dân tổ chức các thử nghiệm phát triển kỹ thuật mới, hoặc thử nghiệm
kiểm tra tính phù hợp của kết quả nghiên cứu trên hiện trường, từ đó làm cơ sở cho việc
khuyến khích lan rộng.
-
Hỗ trợ nông dân về kinh nghiệm quản lý kinh tế hộ gia đình, phát triển sản xuất quy mô
trang trại.
-
Tìm kiếm và cung cấp cho nông dân các thông tin về giá cả, thị trường tiêu thụ sản phẩm.
1.1.4.5.
-
Nội dung của hoạt động khuyến nông
Thông tin, tuyên truyền: chủ trương, chính sách, pháp luật, tiến bộ khoa học công nghệ,
thông tin
-
Hợp tác quốc tế về khuyến nông: tham gia các chương trình khuyến nông trong các hợp tác
quốc tế và trao đổi kinh nghiệm khuyến nông (Nguyễn Văn Long (2006) [7].
1.2.
1.2.1.
-
Cơ sở thực tiễn
Quá trình phát triển các mô hình sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
Thời kỳ Pháp thuộc: Ở thời kỳ này tuyệt đại bộ phận nông dân đi theo làm thuê cho địa chủ,
một bộ phận rất ít nông dân sản xuất hàng hoá nhỏ theo kiểu cổ truyền với kinh nghiệm và
kỹ thuật thô sơ.
-
Từ năm 1955-1959: Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng Đảng và Nhà nước ta đã thực
hiện chính sách cải cách ruộng đất với mục đích: “ Người cày có ruộng”. Chính nhờ cải
cách ruộng đất cùng với công tác khuyến nông đã làm cho kinh tế nông hộ có điều kiện phát
triển.
-
Từ 1981-1987: Chỉ thị 100 CT/TW được Ban bí thư Trung ương Đảng ban hành, quyết định
thực hiện chế độ khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động, đời sống nhân
dân phần nào được cải thiện, tích luỹ cho hợp tác xã. Đây có thể nói là bước đầu cho sự đổi
mới.
mặt hàng xuất khẩu trong lĩnh vực nông nghiệp như cao su, cà phê, gạo,.. .Trong những
năm qua kim ngạch xuất khẩu nông sản chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng kim ngạch xuất
nhập khẩu của Việt Nam (Dương Công Tùng (2012), [13].
1.2.2.
Thực trạng phát triển các mô hình sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam
Ngày 5 tháng 12 năm 2014, tại Hà Nội, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia tổ chức
Hội nghị giao ban khuyến nông toàn quốc năm 2014 với chủ đề "Đổi mới hoạt động khuyến
nông phục vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới". Hội nghị nhằm
đánh giá công tác khuyến nông giai đoạn 2011 - 2014 và định hướng đổi mới khuyến nông
giai đoạn 2015 - 2020.
Phan Huy Thông (2014) [11] báo cáo trình bày tại hội nghị đã khái quát tình hình
hoạt động khuyến nông sau 20 năm xây dựng và phát triển hệ thống khuyến nông đã không
ngừng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng; tích lũy nhiều kinh nghiệm, phương pháp
hoạt động tốt; lực lượng khuyến nông ngoài nhà nước, bao gồm khuyến nông của các doanh
nghiệp... cũng từng bước phát triển góp phần đa dạng hóa nguồn lực và phương pháp
khuyến nông. Nhiều kỹ thuật công nghệ, mô hình quản trị nông nghiệp tiên tiến, các
phương pháp khuyến nông hiện đai được giới thiệu và ứng dụng nhanh vào sản xuất, tạo
điều kiện đổi mới nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động khuyến nông. Trong giai đoạn
2011 - 2014, Trung tâm Khuyến nông Quốc gia đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan nghiên
cứu, đào tạo ở trung ương và hệ thống khuyến nông địa phương đẩy mạnh hoạt động đào
tạo, tập huấn với các hình thức đa dạng, phong phú, bình quân mỗi năm tổ chức khoảng 250
- 300 lớp tập huấn ToT;
tổ chức bồi dưỡng
sự chuyển biến
có sức
triển sản xuất
giống lúa lai F1 trong nước; Dự án cơ giới hóa đồng bộ trong sản xuất lúa; Dự án áp dụng 3
giảm 3 tăng và kỹ thuật canh tác lúa cải tiến (SRI) nhằm nâng cao hiệu quả và góp phần
giảm phát thải khí nhà kính; Dự án phát triển kỹ thuật thụ tinh nhân tạo và vỗ béo bò; Dự án
phát triển chăn nuôi trâu sinh sản, chăn nuôi lợn gia cầm, thủy cầm an toàn...;
phát
triểnnuôi tôm nước lợ,
cá rô phi đơn
Dự án
tính đực theo
VIETGAP; ứng dụng thiết bị khai thác và công nghệ bảo quản sản phẩm tiên tiến trên tàu
đánh bắt xa bờ...
Năm 2015 và những năm tiếp theo, hệ thống khuyến nông cả nước cần quán triệt,
bám sát chủ trương và định hướng tái cơ cấu ngành, các chương trình, đề án trọng điểm của
ngành nông nghiệp và Phát triển nông thôn để tham mưu, đề xuất các nội dung, dự án
khuyến nông phục vụ trực tiếp cho các chương trình, đề án đó (Phan Huy Thông (2014)
[11].
1.2.3.
1.2.3.1.
quyết Trung
ương 6 lần 1 (khoá VIII) với chủ trương tiếp tục đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước,