i ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ĐINH THỊ THÚY HƢỜNG NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA MỘT SỐ NHÀ MÁY
SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP ĐẾN CHẤT LƢỢNG NƢỚC
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH PHÚ THỌ Chuyên ngành : Khoa học Môi trƣờng
Mã số : 60. 85. 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Đinh Thị Thúy Hường
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ii LỜI CẢM ƠN
Thực tập tốt nghiệp là việc hết sức cần thiết và quan trọng đối với mỗi
học viên, là quá trình vận dụng những kiến thức đã học vào công việc thực tế.
Được sự nhất trí của Đại Học Thái Nguyên, Khoa sau Đại học trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên và thầy giáo PGS.TS Nguyễn Thế Hùng
em thực hiện đề tài: "Nghiên cứu ảnh hƣởng của một số nhà máy sản
xuất công nghiệp đến chất lƣợng nƣớc trên địa bàn tại tỉnh Phú Thọ".
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này em đã nhận được sự giúp đỡ
tận tình của Đại học Thái Nguyên, Khoa sau Đại Học, khoa Tài nguyên
Chƣơng I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
6
1.1
Các khái niệm liên quan
6
1.1.1
Cơ sở lý luận
6
1.1.2
Cơ sở pháp lý
12
1.1.3
Cơ sở thực tiễn
14
1.2
Những nghiên cứu liên quan
26
Chƣơng II
NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
28
2.1
Đối tượng, địa điểm, thời gian
28
2.2
Nội dung cần nghiên cứu
28
2.3
Phương pháp nghiên cứu
29
Khái quát tình hình phát triển công nghiệp Phú Thọ giai
đoạn 2006-2010. Xu hướng phát triển giai đoạn 2010-
2015
41
3.2.2
Thu nhập từ hoạt động công nghiệp tại Phú Thọ
43
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
iv 3.2.3
Vốn đầu tư cho sản xuất công nghiệp – xây dựng tại
Phú Thọ từ năm 2006-2010
45
3.2.4
Công nghệ sản xuất và công nghệ xử lý nước thải của một
số đơn vị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
46
3.2.5
Lượng nước thải và giải pháp xử lý nước thải của các
đơn vị, nhà máy sản xuất công nghiệp
51
3.2.6
Áp lực đối với môi trường
53
3.3
3.4.3
Giải pháp công nghệ
75
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
78
1
Kết luận
78
2
Kiến nghị
79
TÀI LIỆU THAM KHẢO
80
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
v
DANH MỤC CÁC CỤM, TỪ VIẾT TẮT
BVMT
Bảo vệ môi trường
BVTV
Bảo vệ thực vật
BTNMT
Nồng độ oxy tự do hòa tan trong nước
NLN-TS
Nông lâm nghiệp – Thủy sản
PTKTXH
Phát triển kinh tế xã hội
QH
Quốc hội
QCVN
Quy chuẩn Việt Nam
QHPTCN
Quy hoạch phát triển công nghiệp
STT
Số thứ tự
SXCN
Sản xuất công nghiệp
TCCP
Tiêu chuẩn cho phép
TCVN
Tiêu chuẩn Việt Nam
WHO/UNICF
Tổ chức y tế và tổ chức nhi đồng thế giới
TSS
Tổng chất rắn lơ lửng
UBND
Ủy ban nhân dân
VD
Ví dụ
VLXD
Vật liệu xây dựng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Bảng 3.15: Chất lượng nước thải ra sông Hồng 62
Bảng 3.16: Chất lượng nước sông đầu (Mẫu 1) và cuối khu vực (Mẫu 2)
công ty 63
Bảng 3.17: Mẫu nước thải trước và sau khu xử lý của Công ty cổ phần
Giấy Việt Trì (thải ra sông Hồng) 64
Bảng 3.18: Chất lượng nước giếng khoan một số hộ gia đình tại khu vực
Công ty Cổ phần Thép Sông Hồng năm 2010 65
Bảng 3.19: Chất lượng nước giếng khoan khu vực Công ty Cổ phần Thép
Sông Hồng năm 2010 66
Bảng 3.20: Kết quả phỏng vấn hộ dân khu vực lân cận các nhà máy sản
xuất công nghiệp ………………………………………… 68
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
vii DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ SƠ ĐỒ
Hình 3.1: Số lượng nam, nữ tham gia phỏng vấn 33
Hình 3.2: Sơ đồ tỉnh Phú Thọ 35
Hình 3.3: Dân số và lao động tỉnh Phú Thọ 39
Hình 3.4: Cơ cấu lao động 40
Hình 3.5: Thu nhập theo thành phần kinh tế 43
Hình 3.6: Thu nhập phân theo huyện thị năm 2006-2010 44
Hình 3.7: Vốn đầu tư cho sản xuất công nghiệp 45
Hình 3.8: Sơ đồ công nghệ sản xuất axit sunphuric 46
Hình 3.9: Sơ đồ công nghệ sản xuất NPK 46
Hình 3.10: Sơ đồ công nghệ sản xuất Supe phốt phát 47
được coi là vĩnh cửu, không có nước thì không có sự sống trên hành tinh của
chúng ta [12], nước chi phối mọi hoạt động dân sinh, kinh tế của con người.
Nước được sử dụng rộng rãi trong hoạt động nông nghiệp, công nghiệp,
thủy điện, giao thông vận tải, chăn nuôi – thủy sản… Nước là nguồn động
lực cho mọi hoạt động kinh tế của con người, song nó gây hiểm họa to lớn,
không lường trước được đối với con người như: Những trận lũ lớn, ô nhiễm
môi trường nước, là nơi lây truyền dịch bệnh một cách nhanh nhất…
Nước trên hành tinh của chúng ta tồn tại dưới nhiều dạng, tồn tại trên mặt
đất, nước biển và đại dương, dưới đất và trong không khí dưới các dạng lỏng
(sông, suối, ao, hồ), rắn (băng, tuyết), khí (hơi nước).
Lượng nước trong thủy quyển theo UNESCO công bố, gồm: Nước ngọt:
35.10
6
km
3
chiếm 2,5%; Nước mặn: 1.351.10
6
km
3
chiếm 97,5% [12]. Trong đó
nước ngọt dạng rắn: 24,3.10
6
km
3
chiếm 69,4%; dạng lỏng: 10,7.10
6
km
3
chiếm
30,6% (chủ yếu là nước ngầm: 10,5.10
2 Sự phân bố nước trên thế giới không đều theo các đại dương, biển và lục
địa. Theo mức độ phát triển của mình, nhân loại tiếp nhận nước ngày càng
lớn, để thỏa mãn nhu cầu: Nước sinh hoạt, nước công nghiệp, tạo ra điện,
tưới tiêu, giao thông, ngư nghiệp… không có lĩnh vực nào của nền kinh tế
quốc dân mà không sử dụng nước [12].
Cùng với sự phát triển kinh tế ngành công nghiệp, mức sống của người
dân ngày càng được nâng cao, vấn đề ô nhiễm môi trường đất, nước, không
khí ngày càng phức tạp và đa dạng.
Khi dùng nước từ nguồn để tạo ra các sản phẩm công nghiệp, nông nghiệp
hoặc nhu cầu sinh hoạt của cư dân, sau đó hoàn trả vào môi trường nước. Lúc
này số lượng và chất lượng đã khác đi so với ban đầu, xuất hiện các chất có hại
trong nước, những chất có hại này vượt tiêu chuẩn cho phép dẫn đến vấn đề ô
nhiễm nước. Nhu cầu về nước của ngành công nghiệp dao động, phụ thuộc vào
lĩnh vực và công nghệ của quá trình sản xuất, hệ thống cung cấp nước (thải
thẳng hay quay vòng), phục thuộc vào điều kiện khí hậu.
Thế kỷ XX sự tăng trưởng chóng mặt của việc sử dụng nước, ví dụ: năm 1900
thế giới sử dụng 30km
3
nước cho sản xuất công nghiệp, năm 1950 là 100km
3
;
năm 1970 là 510km
3
, năm 2000 là 1.900km
3
[12]. Sản xuất công nghiệp phát triển
ngày càng gia tăng, đặc biệt nước thải từ các nhà máy sản xuất công nghiệp được
tạo ra ngày càng nhiều với những đặc điểm, thành phần ngày càng phức tạp và
đa dạng, diễn ra nghiêm trọng.
Do những đặc thù về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, công nghệ xử lý nước
của các nhà máy…, việc xả nước thải đạt tiêu chuẩn cho phép ra môi trường cần
có chính sách, hướng dẫn cụ thể của Nhà nước. Có sự phân công rõ trách nhiệm
giữa các cấp, đồng thời có cơ chế, hành lang pháp lý rõ ràng để khuyến khích các
cá nhân, doanh nghiệp, các nhà máy sản xuất công nghiệp trên địa bàn tham gia
xử lý môi trường nước thải và xả nước thải đạt tiêu chuẩn cho phép ra môi trường.
Để phát triển bền vững thì bài toán giữa phát triển kinh tế công nghiệp và
chất lượng môi trường ngày càng được quan tâm. Làm thế nào để nền kinh tế
công nghiệp tỉnh Phú Thọ ngày càng phát triển, nâng cao mức sống của người
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4 dân nhưng môi trường sống của con người nơi đây không bị ô nhiễm đặc biệt
là ô nhiễm nguồn nước? Được sự nhất trí của Khoa Sau Đại học - Trường Đại
Học Nông Lâm Thái Nguyên và Thầy giáo hướng dẫn Nguyễn Thế Hùng, tôi
tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số nhà máy sản
xuất công nghiệp đến chất lượng nước trên địa bàn tại tỉnh Phú Thọ”, từ
đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng môi trường nước thải đối với các
nhà máy sản xuất công nghiệp trên địa bàn tại tỉnh Phú Thọ.
Với mục tiêu nghiên cứu:
- Tìm hiểu được thực trạng nước thải của một số nhà máy sản xuất công
nghiệp trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
- Nghiên cứu về đặc điểm, thành phần nước thải của một số nhà máy sản
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Các khái niệm liên quan
1.1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1.1- Khái niệm môi trường nước:
Nước hay Thủy quyển là một trong 4 thành phần của môi trường, bao
gồm tất cả các loại nguồn nước, như: nước đại dương, nước sông hồ, nước
đóng băng, nước ngầm. Trong đó: 97% là nước ở các đại dương, 2% là nguồn
nước đóng băng ở các cực, 1% là nước ngọt ở các sông hồ, nước ngầm phục
vụ cho nhu cầu của con người và các nhu cầu khác[1].
Tuyên bố chung về quyền sử dụng nước của Hiệp hội quyền kinh tế, xã
hội và văn hoá (The covenant on Economic, Social and Cultural Rights,
CESCR) vào tháng 11/2002 đánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử nhân
quyền con người. Đây lần đầu tiên, quyền sử dụng nước được công nhận như
là quyền cơ bản và 145 quốc gia đã ký vào bản tuyên bố đó sẽ hợp tác và cố
gắng đảm bảo mọi cá nhân trên thế giới được cung cấp nguồn nước sạch công
bằng và không phân biệt đối xử [13].
Sau khi có Luật Bảo vệ môi trường (1/1994) và Nghị định 175/NĐ-CP
hướng dẫn thi hành luật (10/1994), Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường đã
ban hành các Tiêu chuẩn Môi trường (1995), trong đó có các tiêu chuẩn chất
lượng nước như: Tiêu chuẩn chất lượng nước mặt, tiêu chuẩn chất lượng nước
ven bờ, tiêu chuẩn chất lượng nước ngầm, tiêu chuẩn chất lượng nước thải.
Khi nói đến nước thải gây ô nhiễm người ta dùng thuật ngữ mức độ ô
nhiễm nước. Để xác định chất lượng nước hay mức độ ô nhiễm nước người ta
dùng các thông số chất lượng nước [15], như:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
+ Sắt và Mangan dạng keo hoặc dạng hoà tan làm nước có màu vàng đỏ, đen.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
8 Màu thực của nước là màu được tạo do các chất hoà tan hoặc chất keo có
trong nước. Màu biểu hiện của nước do các chất rắn lơ lửng trong nước gây
ra. Ngoài tác hại có thể có của chất gây màu trong nước, nước có màu còn
được xem là không đạt tiêu chuẩn về mặt cảm quan, gây trở ngại cho nhiều
mục đích sử dụng khác nhau.
- Tổng chất rắn lơ lửng (TSS): Chất rắn lơ lửng là các hạt rắn vô cơ hoặc
hữu cơ lơ lửng trong nước như khoáng sét, bùn, bụi quặng, mùn, sợi thực vật,
vi khuẩn, tảo,… Sự có mặt của chất rắn ơ lửng trong nước mặt do hoạt động sói
mòn, nước chảy tràn làm mặt nước bị đục, thay đổi màu sắc và các tính chất
khác. Chất rắn lơ lửng ít xuất hiện trong nước ngầm vì nước được lọc và các
chất rắn bị giữ lại trong quá trình nước thấm qua các tầng đất. Nước trong thì
cho phép ASMT chiếu tới các tần nước sâu. Khi nước chứa nhiều chất rắn lơ
lửng, các loại tảo, các chất hữu cơ… trở nên kém thấu quang ASMT. Từ đó các
sinh vật sống ở tầng dáy sâu phải chịu điều kiện kém ánh sáng trở nên kém linh
hoạt. Mặt khác, các chất rắn chứa trong nước làm hoạt động của các sinh vật
trong nước trở nên hoạt động kém linh hoạt.
- Độ cứng của nước do sự có mặt của các muối Ca và Mg trong nước. Độ
cứng của nước được gọi là tạm thời khi nó do các muối cacbonat hoặc
bicacbonat Ca và Mg gây ra: Loại nước này khi đun sẽ tạo ra kết quả CaCO
3
và MgCO
cần dùng để ôxy hoá các chất hữu cơ có trong nước thành CO
2
, nước, tế bào
mới và các sản phẩm trung gian.
- Nhu cầu hoá học (COD): Nhu cầu ôxy hoá học là lượng ôxy cần thiết
cho quá trình ôxy hoá các chất hữu cơ có trong nước thành CO
2
và nước.
Như vậy, COD là lượng ôxy cần thiết để ôxy hoá toàn bộ các hợp chất
hữu cơ trong nước, còn BOD chỉ là lượng ôxy cần thiết để ôxy hoá các chất
dễ phân huỷ sinh học.
- Kim loại nặng: Các kim loại như Hg, Cd, Pb, As, Cr, Cu, Zn, Fe… có trong
nước với nồng độ lớn đều làm nước bị ô nhiễm. Kim loại nặng không tham gia,
hoặc ít tham gia vào các quá trình sinh hoá và thường tích luỹ lại trong cơ thể
sinh vật, vì vậy chúng là các chất độc gây hại cho cơ thể sinh vật.
Các kim loại nặng này có mặt trong nước do nhiều nguồn như nước thải
công nghiệp, còn trong khai thác khoáng sản thì do nước mỏ có tính axit làm
tăng quá trình hoà tan các kim loại nặng trong thành phần khoáng vật.
- Các nhóm anion NO
3
-
, PO
4
3-
, SO
4
2-
: Các nguyên tố N, P, S ở nồng độ
thấp thì là chất dinh dưỡng cho tảo và các sinh vật dưới nước. Tuy nhiên, khi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
chứa nhiều hoá chất độc hại (kim loại nặng như Hg, As, Pb, Cd,…); các chất
hữu cơ khó phân huỷ sinh học (phenol, dầu mỡ ); các chất hữu cơ dễ phân
huỷ sinh học từ cơ sở sản xuất thực phẩm. Tuy nhiên nước thải công nghiệp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11 không có đặc điểm chung mà thành phần tính chất tuỳ thuộc vào quá trình sản
xuất cũng như quy mô xử lý nước thải. Nước thải của các cơ sở chế biến
lương thực thực phẩm có chứa nhiều chất phân huỷ sinh học; trong khi nước
thải công nghiệp lại chứa nhiều kim loại nặng.
Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên là do nhiễm mặn, nhiễm phèn, gió
bão, lũ lụt…nước mưa rơi xuống mặt đất, mái nhà, đường phố, đô thị, khu
công nghiệp kéo theo các chất bẩn
Ô nhiễm nhân tạo chủ yếu do xả nước thải từ các vùng dân cư, các khu
công nghiệp, hoạt động giao thông vận tải, thuốc BVTV, phân bón trong sản
xuất nông nghiệp.
Theo tác nhân gây ô nhiễm, ta phân biệt ô nhiễm vô cơ và ô nhiễm
hữu cơ, ô nhiễm hóa chất, ô nhiễm vi sinh vật, cơ học hay vật lý, ô nhiễm
phóng xạ.
Theo vị trí ta phân biệt ô nhiễm sông, hồ, biển, ô nhiễm nước mặt, nước
ngầm. Theo nguồn gây ô nhiễm phân biệt: Nguồn xác định là ta có thể xác
định được nguồn thải từ các nhà máy, các khu công nghiệp, khu đô thị. Nguồn
không xác định: là các chất gây ô nhiễm phát sinh từ những trận mưa kéo theo
bụi bẩn, xói mòn đất.
1.1.2. Cơ sở pháp lý
- Luật số 52/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của Quốc hội nước Cộng hoà
- Nghị định 117/2009/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực
bảo vệ môi trường.
- Quyết định số 35/2002/QĐ-BKHCNMT ngày 05/06/2000 của Bộ Khoa
học Công nghệ và Mội trường về việc ban hành các tiêu chuẩn môi trường
Việt Nam (31 tiêu chuẩn).
- Quyết định số 34/2004/QĐ-BKHCN ngày 09/10/2004 về việc ban hành
tiêu chuẩn Việt Nam.
- Quyết định số 22/2006/QĐ-BTNMT ngày 18/12/2006 của Bộ TNMT về
việc bắt bược áp dụng các tiêu chuẩn Việt Nam (5 tiêu chuẩn).
- Quyết định số 04/2008/QĐ-BTNMT ban hành ngày 18/07/2008 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường về việc ban hành 3 quy chuẩn môi trường (QCVN
01:2008/BTNMT, QCVN 02:2008/BTNMT và QCVN 03:2008 /BTNMT).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13 Một số TCVN, QCVN liên quan tới chất lượng nước:
- Tiêu chuẩn chất lượng nước thải công nghiệp TCVN 5945:
2005/BTNMT.
- Nghị định số 88/2007/NĐ-CP ngày 25/08/2007 của Chính phủ về thoát
nước đô thị và khu công nghiệp.
- QCVN 08:2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng
nước mặt.
- QCVN 09:2008/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng
nước ngầm.
- QCVN 24:2009/BTNMT: Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng
Nước thải công nghiệp
cơ sở sản xuất công nghiệp đang gây ô nhiễm môi trường nước do không có
thiết bị và công trình xử lý chất thải [13].
Ví dụ: Ở ngành công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy và bột giấy,
nước thải thường có độ pH trung bình từ 9 – 11; chỉ số nhu cầu ôxy sinh hóa
(BOD), Nhu cầu ôxy hóa học (COD) có thể lên đến 700mg/l và 2.500 mg/l;
hàm lượng chất rắn lơ lửng… cao gấp nhiều lần hạn cho phép. Hàm lượng
nước thải của các ngành này có chứa xyanua (CN
-
) vượt 84 lần, H
2
S vượt 4,2
lần, hàm lượng NH
3
vượt 84 lần TCCP nên đã gây ô nhiễm nặng nề các nguồn
nước mặt trong vùng dân cư. Mức độ ô nhiễm nước ở các khu công nghiệp, khu
chế xuất, cụm công nghiệp tập trung là rất lớn [13].
Ô nhiễm môi trường nước đang trở thành hiểm họa đối với đời sống của
sinh giới và cả đối với con người ở bất kỳ phạm vi nào, từ quốc gia, khu vực
đến toàn cầu. Ô nhiễm môi trường là sản phẩm của quá trình công nghiệp hóa
và đô thị hóa diễn ra trên 200 năm nay.
Hiện nay ô nhiễm đã lan tràn vào mọi nơi, từ đất, nước đến không khí, từ
bề mặt đến các lớp sâu của đại dương. Các hợp chất hữu cơ và vô cơ độc hại
trong nước thải công nghiệp như SO2, CO2, CO thông qua vòng tuần hoàn
nước vào môi trường không khí gây ra các bệnh liên quan đến đường hô hấp
và các bệnh nguy hiểm ở người.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
15
dụng để uống và sinh hoạt [18].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
16 Tổ chức Y tế và tổ chức Nhi Đồng thế giới (WHO/UNICF, 2000) [19] cho
biết 1,1 tỷ người trên thế giới không có được nguồn nước sạch và 2,4 tỷ người
sống trong điều kiện thiếu vệ sinh. Ước tính rằng 2/3 dân số thế giới sẽ phải
sống thiếu nước vào năm 2025. Ngày nay có tổng cộng 450 triệu người ở 29
quốc gia đang phải chịu cảnh thiếu nước sử dụng. Các mầm bệnh truyền
nhiễm có nguồn gốc từ phân người và nước tiểu vẫn đang là nguyên nhân to
lớn gây bệnh tật ở các nước đang phát triển. Ô nhiễm nguồn nước mặt đang
ảnh hưởng đến sức khoẻ của 1,2 tỷ người và là một nguyên nhân gây tử vong
khoảng 15 triệu trẻ em trên thế giới hàng năm [18]. Các chuyên gia nhận
định: hạn hán, ô nhiễm khiến tình trạng thiếu nước nghiêm trong đang diễn ra
ở các nước Châu á, có thể gây ra xung đột mới trên lục địa này (Báo nông
thôn ngày nay, số 205 – ngày 27/8/2012).
Người ta ước tính lượng nước hàng ngày đảm bảo nhu cầu tối thiểu của con
người là từ 20 đến 50 lít nước sạch không chứa chất ô nhiễm nào [18]. Ở các
nước đang phát triển nước tiêu thụ cho công nghiệp lớn gấp 6 lần, nhất là ở
những nơi khô nóng, nước cần cho cung cấp công nghiệp càng lớn. Bởi vậy
nhu cầu cần nước cho sự sống trong tương lai trên trái đất này càng tăng.
Cùng với sự gia tăng dân số, quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa
nhanh chóng làm cho nguồn nước mặt giảm về mặt chất lượng cũng như trữ
lượng. Tình trạng ô nhiễm nước đang xảy ra trên quy mô toàn cầu. Hoạt động
phát triển đã làm tăng khối lượng và thành phần của nước thải đổ thẳng ra
sông ngòi, ao hồ do đó ô nhiễm nước mặt càng trở lên phổ biến.
dạng sinh học của hệ sinh thái tự nhiên và có hại cho sức khỏe con người. Ở
Mỹ, hàng năm thải ra vịnh Mêhicô khoảng 10 tấn thuốc trừ sâu, đó là những
chất độc hại tiềm tàng cho môi trường nước [14].
Tầng nước ngầm hiện nay cũng đang bị đe dọa của nạn gây ô nhiễm môi
trường. Nguyên nhân chính là sự thấm qua của các kim loại nặng, hóa chất và
chất thải nguy hiểm khác, do thải không đúng nơi quy định. Đặc biệt lượng
chất thải từ các bãi thải công nghiệp xâm nhập vào nước ngầm làm cho nước
biển bị nhiễm bẩn ngày càng nặng nề hơn.
Theo đánh giá của Liên hợp quốc thì cuối thế kỷ 20 ở Châu Phi mức nước
cấp cho 1 người dân chỉ còn bằng 1/4 và một số người dân Châu Á, Nam Mỹ
cũng chỉ bằng 1/3 so với năm 1950 [16].
Đối với nguồn nước ngầm, nhiều vùng do khai thác quá mức cho phép đã
giảm lưu lượng và gây hiện tượng xâm thực mặn làm cho nước bị nhiễm mặn,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn