BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
TRẦN THỊ BÍCH HÀ
NGHIÊN CỨU
ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOÀI VI TẢO LÀM THỨC ĂN
ĐẾN SỰ SINH TRƯỞNG, TỶ LỆ SỐNG, SỨC SINH SẢN VÀ
CHẤT LƯỢNG CỦA Artemia franciscana Kelloge, 1906. LUẬN VĂN THẠC SỸ NÔNG NGHIỆP
Ngành Nuôi trồng Thủy sản
Mã số : 60 62 70 HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. HOÀNG THỊ BÍCH MAI Nha Trang - 2010
i
LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Nha Trang, Phòng
Đào tạo Sau Đại học, Khoa Nuôi trồng Thủy sản, Ban quản lý Dự án Hợp phần hỗ
trợ phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững – SUDA đã tạo điều kiện thuận lợi về
Trần Thị Bích Hà iii
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Lời cam đoan ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng v
Danh mục các hình vi
Danh mục ký hiệu và chữ viết tắt vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Vai trò của Artemia trong NTTS 3
1.2 Phân loại và đặc điểm sinh học của Artemia 4
1.2.1 Hệ thống phân loại 4
trưởng, sức sinh sản và chất lượng Artemia sinh khối 29
3.1.1 Diễn biến một số yếu tố môi trường 29
3.1.2 Thành phần loài tảo tạp trong ao nuôi tảo 31
3.1.3 Ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến tốc độ tăng trưởng
của Artemia 33
3.1.4 Ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến tỷ lệ sống của
Artemia 36
3.1.5 Ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến sức sinh sản của
Artemia 39
3.1.6 Ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến chất lượng của
Artemia sinh khối 41
3.2 Thử nghiệm nuôi Artemia sinh khối bằng tảo Chaetoceros sp. trong bể xi
măng 43
3.2.1 Diễn biến một số yếu tố môi trường 43
3.2.2 Tốc độ tăng trưởng của Artemia nuôi bằng tảo Chaetoceros sp. trong bể
xi măng 45
3.2.3 Tỷ lệ sống của Artemia nuôi bằng tảo Chaetoceros sp. trong bể xi măng. 47
3.2.4 Sức sinh sản của Artemia nuôi bằng tảo Chaetoceros sp. trong bể xi
măng 49
3.2.5 Chất lượng của Artemia sinh khối nuôi bằng tảo Chaetoceros sp. trong
bể xi măng 51
CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 53
4.1 Kết luận 53
4.2 Đề xuất ý kiến 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55
PHỤ LỤC
vvi
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ
Trang
Hình 1.1: Artemia là vật trung gian chuyển các thành phần đặc thù vào ấu trùng
nuôi 3
Hình 1.2: Vòng đời phát triển của Artemia 5
Hình 1.3: Giai đoạn bung dù và hình thái ấu trùng của Artemia 6
Hình 1.4: Hiện tượng bắt cặp của Artemia 9
Hình 1.5: Trứng bào xác của Artemia 10
Hình 2.1: Sơ đồ mô tả các nội dung nghiên cứu của đề tài 18
Hình 2.2: Hệ thống nuôi tảo sinh khối chuẩn bị cho thí nghiệm 1 21
Hình 2.3: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu Ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm
thức ăn đến tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống, sức sinh sản và chất lượng sinh khối
Artemia 22
Hình2.4: Bố trí thí nghiệm 1 23
Hình 2.5: Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu ở thí nghiệm 2 23
Hình 2.6 : Bố trí thí nghiệm 2 24
Hình 2.7: Máy đo đa yếu tố YSI 26
Hình 2.8: Vị trí thu mẫu Artemia 26
Hình 3.1: Ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến sự tăng trưởng về
chiều dài (mm) của Artemia 35
Hình 3.2: Ảnh hưởng của một số loài vi tảo làm thức ăn đến tỷ lệ sống của
Artemia 37
Hình 3.3: Giải phẫu buồng trứng của Artemia cái dưới kính hiển vi 39
Hình 3.4: Sự tăng trưởng về chiều dài (mm) của Artemia nuôi bằng tảo
Chaetoceros sp. trong bể xi măng 46
Hình 3.5: Tốc độ tăng trưởng (%ngày) của Artemia nuôi bằng tảo Chaetoceros sp.
1
MỞ ĐẦU
Artemia thuộc nhóm giáp xác nhỏ có tập tính ăn lọc không chọn lựa và có
thể sử dụng được nhiều loại thức ăn khác nhau như: vi tảo, bột đậu nành, cám gạo,
phân gà…Với giá trị dinh dưỡng cao, nên từ lâu ấu trùng Artemia lúc mới nở đã là
loại thức ăn rất quan trọng và không thể thiếu trong sản xuất giống thủy sản. Bên
cạnh đó, Artemia ở giai đoạn tiền trưởng thành và trưởng thành là thức ăn có giá trị
dinh dưỡng cao hơn ở giai đoạn ấu trùng và là thức ăn rất được ưa thích của rất
nhiều loài cá và giáp xác, nên được sử dụng phổ biến trong nuôi thương phẩm các
đối tượng thủy sản (Sorgeloos, 1980; Nguyễn Văn Hòa và ctv., 2007).
Ở Việt Nam Artemia được du nhập vào từ đầu thập niên 80 dưới dạng trứng
bào xác để làm thức ăn cho tôm càng xanh. Artemia franciscana có nguồn gốc từ
Mỹ nhưng sau thời gian thích nghi gần như đã trở thành dòng bản địa của Việt Nam
và có đặc điểm khác xa với tổ tiên của chúng. Hiện nay, những sản phẩm trứng bào
xác và sinh khối Artemia đã được sử dụng một cách đại trà trong ương nuôi tôm, cá,
giáp xác…
Là loài có tập tính ăn lọc không chọn lựa nên trong ao nuôi, thức ăn cho
Artemia chủ yếu dựa vào việc bón phân gây màu tảo trực tiếp hoặc gián tiếp (ao
gây màu) (Rothuis, 1986; Van der Zanden, 1987, 1988, 1989). Tuy nhiên, giá trị
dinh dưỡng của các loài tảo là khác nhau nên ảnh hưởng tới tỷ lệ sống, tăng trưởng
và chất lượng sinh khối Artemia cũng khác nhau.
Trong khi đó tại Khánh Hòa, một số thử nghiệm nuôi thu sinh khối Artemia
ở các khu ruộng muối đã được thực hiện nhưng năng suất và chất lượng chưa cao,
có thể do chưa xác định được cũng như điều khiển sự ảnh hưởng của thức ăn đến
sinh trưởng, tỉ lệ sống và chất lượng Artemia nuôi sinh khối đặc biệt là ảnh hưởng
của các loài vi tảo làm thức ăn cho Artemia.
Tuy nhiên những công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của các loài vi tảo tại
Khánh Hòa đến năng suất và chất lượng của Artemia còn rất ít và chưa có dẫn liệu
đầy đủ để áp dụng vào việc nuôi sinh khối Artemia. Vì vậy, để nâng cao năng suất
1.1 Vai trò của Artemia trong nuôi trồng thủy sản:
Với giá trị dinh dưỡng cao, nên từ lâu ấu trùng Artemia lúc mới nở đã là loại
thức ăn rất quan trọng và không thể thiếu được trong sản xuất giống thủy sản.
Theo Trecce, 2000 thì hàm lượng HUFA có trong Artemia sinh khối đóng
vai trò quan trọng trong ương nuôi các loài thủy sản, nó quyết định tới sự thành
công của mẻ nuôi, nếu hàm lượng HUFA trong Artemia thấp thì mẻ ương nuôi tôm
cá cho ăn bằng Artemia sẽ đạt tỉ lệ sống và tốc độ tăng trưởng giảm [4].
Nauplii của Artemia là loài có kích thước nhỏ, vận động trong nước nên
được xem là loại thức ăn lý tưởng cho ấu trùng của tôm cá. Hiện nay, ấu trùng của
Artemia được sử dụng rộng rãi ở các trại sản xuất giống bởi nhiều lý do sau:
- Giá trị dinh dưỡng cao: Như protein và các acid béo không no cao, hàm
lượng HUFA có trong Artemia đóng vai trò quan trọng trong ương nuôi các loài
thủy sản, nó quyết định đến thành công trong mẻ nuôi [6].
- Với đặc điểm không phụ thuộc vào mùa vụ, thời tiết và có thể thu với số
lượng lớn (trứng bào xác nở sau 18÷20 giờ ấp với độ mặn khoảng 30÷35‰) nên có
thể xử lý ấu trùng Artemia trước khi cho ăn hoặc sử dụng chúng như một bao sinh
học để chứa dinh dưỡng đặc biệt là phòng trị bệnh chuyển tới ấu trùng nuôi [8].
Hình 1.1: Artemia là vật trung gian vận chuyển các thành phần đặc thù vào ấu trùng nuôi [9].
Bên cạnh đó, giá trị dinh dưỡng của Artemia cũng thay đổi theo các giai
đoạn phát triển của nó. Artemia tiền trưởng thành và trưởng thành được gọi là sinh
4
khối có giá trị dinh dưỡng cao hơn Artemia mới nở từ trứng và được sử dụng phổ
5
1.2.2 Đặc điểm sinh học của Artemia
1.2.2.1. Vòng đời của Artemia
Artemia có vòng đời ngắn (ở điều kiện tối ưu có thể phát triển thành con
trưởng thành sau 7-8 ngày nuôi), sức sinh sản cao (Sorgeloos, 1980; Jumalon, et
al.,1982).
Hình 1.2: Vòng đời phát triển của Artemia (Jumalon et al.,1982)(trích
theo Nguyễn Văn Hòa, 2002) [6].
Trong một vòng đời, Artemia trải qua 4 giai đoạn phát triển là: Giai đoạn
trứng bào xác, giai đoạn ấu trùng, giai đoạn tiền trưởng thành và giai đoạn trưởng
thành. Ở mỗi giai đoạn phát triển Artemia có đặc điểm hình thái và sinh trưởng
khác nhau.
1.2.2.2 Đặc điểm sinh trưởng.
Trứng bào xác khi gặp môi trường nước biển sẽ hấp thụ nước và trở nên
căng tròn (trương nước). Lúc này bên trong trứng bắt đầu diễn ra quá trình trao
đổi chất, phôi bắt đầu phát triển. Trứng ngậm nước và tiêu thụ oxy để hoàn tất quá
trình chuyển hóa carbohydrate. Trứng trương nước và sau khoảng 18 – 20 giờ
màng nở bên ngoài sẽ nứt ra phôi xuất hiện và phôi vẫn được bao quanh bởi màng
nở.
6
Trong khi phôi đang treo bên dưới vỏ trứng (giai đoạn bung dù) sự phát
triển của ấu trùng được tiếp tục và một thời gian ngắn sau đó màng nở bị phá vỡ
(giai đoạn nở) và ấu thể Artemia được phóng thích ra ngoài [8].
- Giai đoạn trưởng thành:
Nauplius trải qua 15 lần lột xác trở thành Artemia trưởng thành. Artemia
trưởng thành trong quần thể có cá thể đực và cái dài khoảng 1 cm. Chúng có cơ thể
kéo dài với hai mắt kép, ống tiêu hóa thẳng, một đôi râu cảm giác và có 11 đôi chân
ngực. Chận ngực có dạng bản rộng gồm lá trong, lá ngoài và lá quạt tạo thành. Giữa
lá quạt và lá ngoài có một mảnh nhỏ mềm mại đó là mang (cơ quan hô hấp của
Artemia). Chân ngực phát triển và có 3 chức năng: Bơi lội, lọc thức ăn và hô hấp
[5].
Phần bụng có 8 đốt không có chân phụ (ở con cái đốt 1 và 2 của phần bụng
kết hợp với nhau hình thành nang trứng, ở con đực hình thành cơ quan giao cấu),
đốt cuối phần bụng có chẽ đôi dẹt và bằng. Xung quanh có nhiều tiêm mao, đuôi
lớn hay nhỏ tiêm mao nhiều hay ít thay đổi theo sự biến đổi của độ mặn (độ mặn
càng cao đuôi càng thu nhỏ lại) [6].
Trong giai đoạn Artemia trưởng thành con đực có đôi gai giao phối ở phần
sau của vùng ngực và có đôi càng hình móc rất đặc thù ở vùng đầu. Đối với con cái
rất dễ nhận dạng nhờ vào túi ấp hoặc tử cung nằm ngay sau đôi chân ngực thứ 11,
chúng thường có kích thước lớn hơn con đực. Artemia ở giai đoạn này bắt đầu kết
cặp và tiến hành sinh sản [4].
Tuổi thọ trung bình của cá thể Artemia trong các ao nuôi ở ruộng muối
khoảng 40-60 ngày tùy thuộc điều kiện môi trường (Nguyễn Văn Hòa và ctv,
1994). Tuy nhiên, quần thể Artemia trong ruộng muối vẫn tiếp tục duy trì ngay
cả trong mùa mưa khi độ mặn trong ao nuôi giảm thấp (60‰) nếu ruộng nuôi
không bị địch hại (tôm, cá) tấn công và vẫn cung cấp đầy đủ thức ăn ( Brand et al.,
1995)[13]. 81.2.2.3 Đặc điểm về dinh dưỡng
Trong nghề nuôi Artemia trên ruộng muối nông dân thường sử dụng phối hợp
phân chuồng (chủ yếu là phân gà) kết hợp với phân vô cơ (Urea, DAP ) để gây
màu trực tiếp (trong ao nuôi Artemia) hoặc gián tiếp (ngoài ao bón phân) trước khi
cấp nước nước tảo vào ao nuôi. Phân gà khi được bón trực tiếp vào ao nuôi, ngoài
việc cung cấp dinh dưỡng kích thích tảo phát triển, còn là nguồn thức ăn trực tiếp
cho Artemia. Ngoài ra, khi lượng nước tảo cung cấp vào ao hàng ngày bị thiếu hụt,
nông dân còn sử dụng cám gạo, bột đậu nành hoặc các loại phụ phẩm nông nghiệp
khác để duy trì quần thể Artemia[8].
1.2.2.4 Đặc điểm sinh sản
Artemia phát triển thành con trưởng thành sau 2 tuần nuôi và bắt đầu tham
gia sinh sản với sức sinh sản tối đa 300 Nauplii hoặc trứng bào xác trong vòng 4
ngày [13]. Artemia sinh sản ở 2 dạng: đơn tính (trinh sản không có sự tham gia của
cá thể đực) và hữu tính (có sự tham gia của cá thể đực và cái).
Đối với Artemia sinh sản hữu tính khi trưởng thành con đực dùng đôi càng
ôm phần bụng của con cái gọi là “hiện tượng bắt cặp”: Hình 1.4: Hiện tượng bắt cặp của Artemia [25]
Quá trình giao cấu diễn ra khi bơi lội, trong tư thế bắt cặp con đực sẽ cong
mình và dùng một trong hai gai sinh dục chuyển sản phẩm sinh dục vào buồng
trứng của con cái và trứng sẽ được thụ tinh [13].
10
Biên độ giao động Oxy cao
Thức ăn giàu sắt
Độ mặn thấp
Hàm lượng Oxy cao
Biên độ giao động Oxy thấp
Thức ăn nghèo sắt
1.2.2.5 Khả năng thích nghi với điều kiện môi trường và nơi phân bố:
Nhiệt độ, thức ăn và nồng độ muối là những yếu tố chính ảnh hưởng đến sự
gia tăng mật độ của quần thể Artemia hoặc cả sự vắng mặt tạm thời của chúng
(Sorgeloos, 1980) [15].
Trong tự nhiên, Artemia thường hiện diện ở các thủy vực có nồng độ muối
cao, vì ít có sự hiện diện của các loài cá, tôm dữ và các động vật cạnh tranh thức
ăn khác như luân trùng, giáp xác nhỏ ăn tảo. Mặc dù Artemia có thể phát triển tốt
ở nước biển tự nhiên nhưng chúng không thể di chuyển từ nơi này sang nơi khác
qua đường biển do chúng không có cơ chế bảo vệ để chống lại sinh vật dữ (cá,
tôm) và cạnh tranh với các sinh vật ăn lọc khác. Sự thích nghi về sinh lý của
chúng ở độ mặn cao giúp chúng chống lại sinh vật đó một cách hiệu quả, cơ chế
này bao gồm:
- Hệ thống điều hoà áp suất thẩm thấu rất tốt.
- Khả năng tổng hợp các sắc tố hô hấp cao nhằm thích nghi với điều
kiện có hàm lượng oxy thấp ở nơi có độ mặn cao.
Đối với ao nuôi, độ mặn thấp (< 70‰) thường xuất hiện Copepoda là địch
hại của ấu trùng Artemia. Ngược lại, độ mặn quá cao ( > 120‰ ) có thể gây chết
cho Artemia. Độ mặn cao còn là dẫn xuất tốt cho nhiệt độ vì vậy trong ao nuôi
thích hợp nhất là duy trì ở mức 80-100‰. Theo Wear và Haslett (1986), khi độ
mặn thấp sẽ có nhiều địch hại và nhiều loài tảo không thích hợp xuất hiện; Ở độ
12
o
C
- Oxy hoà tan: không thấp hơn 2 mg/l
- pH từ trung tính đến kiềm (7.0 - 9.0).
1.3 Tình hình nghiên cứu về Artemia trong nước và trên thế giới:
1.3.1 Trên thế giới :
Từ những năm 1930, Artemia đã được biết đến là một nguồn thức ăn lý tưởng
13
trong ương nuôi ấu trùng tôm, cá [18]. Trong khoảng những năm 1950, trứng bào
xác của Artemia được thu từ các ruộng muối ven biển và các hồ nước mặn tự nhiên
đã có giá trị thương mại trên thị trường thế giới (Sorgeloos, 1980). Năm 1950 –
1960, nền công nghiệp khai thác trứng bào xác Artemia ở Mỹ phát triển mạnh mẽ.
Trong những năm 1970 – 1980, nhu cầu về trứng bào xác Artemia tăng rất nhanh và
nhiều quốc gia đã nghiên cứu thu trứng bào xác Artemia từ tự nhiên (Argentina,
Australia, Canada, Colombia, Pháp, Trung Quốc,…)[7]. Cuối những năm 1980,
Trường Đại học Ghent ở Bỉ đã có các chương trình nghiên cứu quốc tế về nuôi và
sử dụng sinh khối Artemia. Trong những năm gần đây nghề nuôi tôm, cá biển ở
nhiều nước trên thế giới phát triển mạnh (Thái Lan, Trung Quốc, Philipine,
Indonesia,…) nên nhu cầu về trứng bào xác và sinh khối Artemia ngày càng tăng
[6]. Do đó nhiều quốc gia đã bắt đầu quan tâm nghiên cứu về Artemia.
Các nước Đông Nam Á thường chọn dòng San Francisco Bay (SFB) vì khả
năng thích nghi với nhiệt độ cao và có chất lượng tốt hơn so với các dòng khác. Tại
Philipine năm 1977, từ 80g trứng bào xác dòng SFB ấp nở và nuôi ở độ mặn 140‰,
đến cuối năm 1978 đã thu được 35 kg trứng bào xác khô đạt chất lượng[18].
Bên cạnh đó, Artemia với tập tính ăn lọc không chọn lựa, chúng có khả năng
lọc các vật chất lơ lửng trong nước (mùn bã hữu cơ, vi khuẩn, tế bào tảo đơn bào)
ở phạm vi kích thước hạt nhỏ hơn 50 µm (Sorgeloos et al., 1986). Do vậy, một số
nghiên cứu về sử dụng vi tảo làm thức ăn trong nuôi sinh khối Artemia đã được
Chaetoceros muelleri và Chlorella capsulata làm thức ăn cho Artemia, sau 7
ngày nuôi thấy rằng Artemia khi được cho ăn với liều lượng 11.7, 23.4 và 46.8
mg/lít/ngày với 2 loại tảo nêu trên thì tỉ lệ sống giữa các nghiệm thức là như nhau,
sai biệt không có ý nghĩa thống kê, tỉ lệ sống đạt trên 80% [8].
Sử dụng tảo trong nuôi sinh khối Artemia cũng được thực hiện tiếp tục vào
những năm tiếp theo, Lora-Vilchis et al., (2004) đã sử dụng hai loài tảo
Isochrysis sp. và Chaetoceros muelleri làm thức ăn trong giai đoạn đầu của
Artemia. Kết quả cho thấy sau 7 ngày nuôi tỉ lệ sống của Artemia không khác biệt
có ý nghĩa, ở nghiệm thức Artemia cho ăn bằng tảo Isochrysis sp., tỉ lệ sống là 85%
trong khi Artemia cho ăn tảo Chaetoceros muelleri có tỉ lệ sống là 93% [7].
1.3.2. Trong nước.
Artemia không phân bố tự nhiên ở Việt Nam, nhưng do có giá trị dinh dưỡng
cao và là loại thức ăn không thể thiếu được trong sản xuất giống thủy sản nên đã
15
được nhiều đơn vị nghiên cứu trong nước quan tâm và đến năm 1982 Artemia được
du nhập vào Việt nam thông qua bước đầu thử nghiệm nuôi Artemia ở Nha trang từ
dòng San Francisco Bay, Mỹ (Vũ Đỗ Quỳnh và Nguyễn Ngọc Lâm ,1987). Năm
1984, Khoa Thủy sản Trường Đại học Cần Thơ đã tiến hành thí nghiệm nuôi
Artemia thu trứng bào xác ở vùng ven biển Vĩnh Châu (Sóc Trăng) và Bạc Liêu và
đã trở thành 2 vùng trọng điểm cung cấp trứng bào xác Artemia có chất lượng cao
cho thị trường trong và ngoài nước (Hòa và ctv, 1994, Anh và ctv, 1997). Đến nay
quy trình nuôi Artemia thu trứng bào xác được trường Đại học Cần Thơ nghiên cứu
thành công và triển khai sản xuất đại trà tại hai địa phương trên. Tuy nhiên, nuôi
Artemia thu sinh khối đến nay chưa phát triển và thị trường sử dụng sinh khối
Artemia còn rất hạn chế (Nguyễn Văn Hòa và ctv., 2007) [7].
Trước đó Lê Thị Ngọc Anh và Dương Thị Thuận (1978) đã tiến hành thử
nghiệm nuôi Artemia trong phòng thí nghiệm, sử dụng thức ăn là lòng đỏ trứng gà
và cám sấy nghiền nhỏ rây kỹ pha theo tỷ lệ 1gram/ Lít môi trường. Điều kiện nhiệt
mật độ 300 nau/mL trước khi sử dụng để ương nuôi ấu trùng cua biển (Scylla
paramamosain) cho kết quả cao [7].
Qua nhiều năm thực hiện thí nghiệm cho thấy một số yếu tố môi trường đã
ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của quần thể như nhiệt độ có ảnh hưởng rất nhiều
đến sinh trưởng và sinh sản của Artemia. Nhiệt độ quá thấp (< 20
o
C) Artemia sẽ
sinh trưởng chậm hoặc chết rải rác và ngược lại ở nhiệt độ quá cao (> 36
o
C) gây ra
hiện tượng chết, có khi chết hàng loạt, giảm khả năng sinh sản và quần thể phục hồi
rất chậm (Ngô Thị Thu Thảo, 1992; Nguyễn Thị Ngọc Anh et al., 1997; Nguyễn
Thị Ngọc Anh và Nguyễn Văn Hòa, 2004) [7].
Nguyễn Văn Hòa và ctv (2005) [7] nghiên cứu nâng cao hiệu quả của việc
nuôi sinh khối Artemia trên ruộng muối. Công trình nghiên cứu cho kết quả rằng:
Khi thu hoạch sinh khối Artemia với nhịp độ 3 ngày/lần (hay 90 kg/ha/lần)
sẽ giúp duy trì quần thể tối đa trong 12 tuần (thời gian thí nghiệm) và đạt năng suất
cao nhất (1391± 152 kg/ha) [10].
Sử dụng tảo Chaetoceros sp. phân lập tại Vĩnh Châu nuôi Artemia cho kết
quả tốt nhất so với các loài tảo khác (Nitzschia sp., Oscillatoria sp.) mặt khác khi so
sánh hoạt động sinh sản của Artemia nuôi bằng tảo Chaetoceros sp. và tảo tạp, kết
quả cho thấy Artemia tham gia sinh sản lâu hơn (>28 ngày) cũng như tổng số phôi
cao hơn (661 ± 406 phôi/con mẹ) so với Artemia nuôi bằng tảo tạp (284 ± 99
phôi/con mẹ). Ngoài ra, hàm lượng HUFA của sinh khối Artemia khi sử dụng tảo
Chaetoceros sp. là khá cao: 26,63 mg/trọng lượng khô đặc biệt là hàm lượng EPA
17
chiếm 22,2 mg/g trọng lượng khô trong tổng hàm lượng axit béo so với sinh khối
Artemia nuôi bằng tảo tạp [7].