Trường ĐH Nông Nghiệp Hà Nội Khoa Nông Học
nTên đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số giá thể, chế phẩm dinh
dưỡng đến sinh trưởng và phát triển cuả giống hoa Hồng môn Alabama
trồng chậu”.
PHẦN I
MỞ ĐẦU
I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cây hoa Hồng môn (Anthurium sp) là giống cây lớn nhất thuộc họ
ráy (Aracea), với khoảng 600 loài, phân bố ở Trung và Nam mỹ. Đây là
một loài hoa đẹp ,sang trọng và đa dạng về mầu sắc cũng như hình thái của
hoa. Hồng môn được trồng trong chậu để trang trí nội thất, trồng trong
công viên, hoặc trồng sản xuất hoa cắt cành trong thương mại. Các loài
hồng môn được tìm thấy ở các vùng có điều kiện khí hậu rất khác nhau, từ
miền khô hạn tây Mehico đến vùng mưa nhiệt đới Nam Mỹ. Ngoài ra còn
tìm thấy một số loài ở miền tây Ấn Độ (Mayo et al, 1997).
Sự phân bố theo độ cao còn tùy thuộc vào loài nhưng thường phân
bố ở độ cao từ 0-300 m. Hiện nay hồng môn được trồng rộng rãi ở nhiều
nước như: Hà Lan, Mỹ, Nhật Bản, Đài Loan, Philippine, Các vùng có độ
cao từ 600-1000m so với mực nước biển rất thích hợp cho cây hồng môn
Ở Việt nam từ trước đến nay việc trồng và sử dụng hoa hồng môn chủ
yếu là dưới hình thức cắt cành và chỉ tập chung ở những vùng có khí hậu ôn đới
như Đà lạt. Việc trồng và sử dụng hoa chậu chiếm tỷ lệ nhỏ, trong khi đó trên
thế giới hiện nay việc trồng và sử dụng hoa chậu chiếm tỷ lệ rất cao, đặc biệt
một số vùng có khí hậu nóng (Quảng Châu, Trung Quốc). Cây hồng môn đã
được trồng ở miền Bắc, tuy nhiên số lượng còn rất ít, hình dáng hoa và mầu sắc
của hoa chưa được phong phú, đa dạng.
Nguyễn Thị Vẻ Chuyên đề tốt nghiệp
1
Trường ĐH Nông Nghiệp Hà Nội Khoa Nông Học
Hiện nay các nghiên cứu về giá thể cũng như việc sử dụng các loại
chế phẩm dinh dưỡng vẫn chưa phù hợp và chưa mang lại tính hiệu quả
scherzerianum thì được tìm thấy ở Costa Rica và Guatamala. Nguồn gốc và
mối quan hệ của các loài này trong tự nhiên với các giống cây trồng ngày
này không thật sự rõ ràng. Theo Birdsey (1951) cho rằng các giống cây
trồng ngày nay có nguồn gốc là dạng lai giữa các loài khác nhau trong bộ
sưu tập lớn nhất về Anthurium.
Theo Mayoetal, (1997), hoa hồng môn có 800 loài được tìm thấy ở
vùng nhiệt đới từ Mêhico đến vùng Bắc Achentina và Urugoay. Nó cũng có
nguồn gốc ở Tây Ấn độ. Mặc dù giống này không có nguồn gốc từ đảo Ha
Oai, song nhiều người vẫn nghĩ đó là loài hoa của đảo Ha Oai. Giống này
có nguồn gốc từ các khu rừng ẩm ướt ở sườn phía tây của dãy Andes cao từ
400m đến 1.300m ở phía nam Colombia và phía Bắc Urugoay. Ở đó loại
này phát triển nhanh chóng [5].
Theo Mandison (1980), Edonard Andre phát hiện ra loài hoa này
năm 1876, ở Colombia, Andre gửi giống hoa này đến Jean Linden ở Bỉ. Từ
đó nó được đưa vào trồng trong vườn của hoàng gia Anh [5]
Theo Marie Neal (1948) giống hoa này được giới thiệu ở đảo Haoai
vào năm 1889 bởi Sammuel Millsdamon (Bộ trưởng bộ tài chính cộng hòa
Haoai) [5].
Theo Bown, 2000, giống này được nhập từ Luân đôn và được lai tạo
với các cây hoang dại đề tạo ra giống màu hồng, màu cam và được trồng ở
nhiều nơi [5].
Từ những năm 1940 trở về trước người ta đã không hiểu cách lai tạo
giống. Sau đó thì con người đã hiểu ra vấn đề này và từ đó số lượng cây và
loài tăng lên rất nhanh. Các loài hoa này được bày bán ở khắp các cửa hàng
hoa ở Ha Oai sau năm 1940. Công nghiệp hoa cắt được bắt đầu ở các trang
trại, cây này được trồng ở dưới tán những cây to.
Nguyễn Thị Vẻ Chuyên đề tốt nghiệp
3
Trường ĐH Nông Nghiệp Hà Nội Khoa Nông Học
Birdsey (1951) cho rằng các giống trồng trọt là Anthurium cultorum,
ngày và 13-16
o
C vào ban đêm
- Ánh sáng: Anthurium andreanum có nhu cầu ánh sáng phụ thuộc
vào độ tuổi, và giống cây. Điều kiện ánh sáng được đề nghị cho giống cây
này là 75% bóng râm, tương đương với 32-38kilo lux. Đối với các cây
Nguyễn Thị Vẻ Chuyên đề tốt nghiệp
4
Trường ĐH Nông Nghiệp Hà Nội Khoa Nông Học
được gieo từ hạt thì yêu cầu ánh sáng còn thấp hơn. Vì nếu có quá nhiều
ánh sáng có thể làm phai màu thậm chí có thể làm cháy lá, ảnh hưởng đến
sự phát triển của lá và hoa.
I.2. Phân loại
Trong hệ thống phân loại thực vật, Hồng môn được xếp vào ngành
hạt kín (Angiospermae), thuộc lớp một lá mầm (Monocotynedone), phân
lớp cau (Arecidae), bộ ráy (Aralep), họ ráy (Araceae). Họ ráy được chia
thành 8 phân họ phụ, tiểu Hồng môn thuộc họ phụ Pothoideae và tộc
Anthureae. Trong họ Araceae, Tiểu hồng môn là chi lớn nhất bao gồm
nhiều loài có khả năng phân bố rộng, một số loại được trồng làm cảnh, một
số loài có giá trị thương mại cao, trong đó nổi lên hai loại đang được ưa
chuộng là Anthurium andreanum Lind dùng sản xuất hoa cắt và Anthurium
Sherzerianum Lind chủ yếu sản xuất hoa trồng chậu.
II. Giá trị thương mại của cây hoa hồng môn
Tại thị trường châu Âu, năm 2006, các nhà sản xuất hoa Hồng
môn Hà Lan đã bán đấu giá trên 84.000.000 cành đạt tổng giá trị thương
mại gần 46.500.000 €, tăng 8% so với năm trước.
Cùng với hoa lan, hoa Hồng môn chiếm tới 90% của tất cả các hoa
nhiệt đới nhập khẩu vào Hoa Kỳ. Thị phần tại Mỹ được mở rộng đáng kể từ
giữa năm 2006 đến 2009 do vùng sản xuất chính của Mỹ là Hawai sụt giảm
năng xuất do vi khuẩn Xanthomonas phá hoại đến 60% so với thời gian
- Cũng năm 1975, Pierik và cộng sự đã nghiên cứu cải tiến điều kiện
kích tạo chồi từ callus, tăng hệ số nhân chồi và khả năng ra rễ từ chồi.
- Năm 1976, Pierick nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ NH4
+
đến
sự hình thành chồi [16]
- Năm 1978-1979, Lefffring và Soede nghiên cứu cải tiến phương
pháp vi nhân giống bằng cách nhân chồi phát sinh từ mô lá[16]
- Năm 1991, Rosario và Lapitan nghiên cứu khả năng tái sinh cây từ
phôi với nguồn nguyên liệu ban đầu là hạt giống[16]
- Năm 1986, Finnie và Staden nghiên cứu ảnh hưởng của môi
trường, ánh sáng tới sự tái sinh chồi từ mô lá, rễ, cuống lá[16].
Nguyễn Thị Vẻ Chuyên đề tốt nghiệp
6
Trường ĐH Nông Nghiệp Hà Nội Khoa Nông Học
Chi Anthurium gồm khoảng 1500 loài nhiệt đới, là những cây hoa
quan trọng và thường được nhân giống bằng hạt (Dufour và Guerin, 2003).
Các phương pháp nhân giống vô tính được áp dụng với hồng môn vẫn chưa
đưa ra những kết quả tốt và kĩ thuật nuôi cấy mô xuất hiện như một sự thay
thế để tăng sản xuất (Pierik et al., 1974; Chen et al., 1997) [16]. Sự tái sinh
cây của Anthurium andreanum đã đạt được thông qua sự hình thành các
chồi bất định từ mô sẹo (Pierik et al, 1974; Pierik và Steegmans, 1976) và
sự tái sinh chồi trực tiếp từ những cây vi cắt (Martin et al., 2003) [14]
Teng (1997) đã thiết lập 1 sự thật là trong nuôi cấy lỏng hoặc màng
nổi, phần lớn các chồi Anthurium bất định được tái sinh riêng rẽ hoặc trong
những tập hợp lỏng, đây là một ưu điểm vượt trội so với nuôi cấy đặc [18]
Geier (1986) đã kết luận rằng tuổi của cây và kiểu gen của cây có
ảnh hưởng tới sự tái sinh cây của Anthurium andreanum, và đã phân tích
ảnh hưởng của NH
4
trình nhân giống vô tính cây Hồng Môn trong phòng thí nghiệm và ngoài
đồng góp phần làm đa dạng và phong phú loài hoa này ở Việt Nam, (Chu
Bá Phúc, 2003) [1].
Các tác giả Dương Tấn Nhựt, Đinh Văn Khiêm, Đỗ Năng Vịnh và
các CTV đã nghiên cứu ảnh hưởng của nuôi cấy lỏng trong vi nhân giống
cây hoa hồng môn (Anthurium spp), các tác giả cho rằng cây con khi được
chuyển ra vườn ươm, có sức sống rất tốt với tỷ lệ sống tối đa 100%, sau 45
ngày [2].
Nhìn chung các kết quả nghiên cứu về hoa hồng môn ở Việt Nam
chưa nhiều, đặc biệt là công nghệ nhân giống hoa hồng môn bằng nuôi cấy
mô tế bào vẫn chưa có nhiều công trình nghiên cứu, do vậy hệ số nhân
giống thấp, giá thành còn cao, thời gian vườn ươm kéo dài, chất lượng cây
giống chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường.
IV. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ GIÁ THỂ VÀ CHẾ PHẢM
DINH DƯỠNG TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
IV.1. Các nghiên cứu về giá thể cho Hồng môn
Các nhà khoa học trên thế giới và Việt Nam đã tìm hiểu, nghiên cứu
và áp dụng từng loại giá thể phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nơi:
Nguyễn Thị Vẻ Chuyên đề tốt nghiệp
8
Trường ĐH Nông Nghiệp Hà Nội Khoa Nông Học
Để trồng Hồng môn trong giai đoạn phát triển biểu sinh sơ khởi,
công ty Anthura sử dụng giá thể rỗ tổ ong. Công ty này cho rằng rỗ tổ ong
khi làm giá thể sẻ rất tốt cho việc tiêu nước và phần vụn nhuyễn giúp cho
duy trì, điều phối nước và dinh dưỡng. Thông thường giá thể gồm 50 - 60%
mảnh rỗ tổ ong, 40- 50% phần vụn nhuyễn. Những mảnh rỗ tổ ong gồm
những vật liệu như: mùn Ireland, vỏ cây, những hạt nhỏ tán vụn. Phần vụn
nhuyễn có thể là đá trân châu, mùn hoặc vỏ cây xay nhuyễn.
Ở Hawaii, giá thể trồng Hồng môn là giá thể hữu cơ tổng hợp gồm:
mùn cưa, cây dương xỉ băm nhỏ, vỏ quả bồ đào, tro núi lửa, cây khoai sọ
chất lượng kém, lá bị vàng, cuống hoa nhỏ. Thừa đạm cây sinh trưởng thân
lá mạnh nhanh vóng, mềm, yếu, dễ bị đổ, ra hoa muộn cũng có thể không
ra hoa, tạo điều kiện cho sâu bệnh phát triển mạnh. Cây Hồng môn cần
nhiều đạm vào giai đoạn sinh trởng sinh dưỡng tức là từ lúc cây còn nhỏ
đến khi phân hoá mầm hoa.
Lân: Lân tham gia chính vào sự hình thành chất nucleoprotein của
nhân tế bào do vậy toàn bộ bộ phận của cây: rễ, thân, lá, hoa, quả, hạt đều
cần lân. Lân giúp cho bộ rễ sinh trưởng phát triển mạnh, cây con khoẻ, tỷ lệ
sống cao, thân cứng, hoa bền, màu sắc đẹp. Thiếu lân đường trong lá tăng,
lá già tăng, lá xanh tím, màu tím từ mép lá lan dần vào phía trong mặt lá,
hoa nhỏ, cuống hoa ngắn, ít hoa, hoa chóng tàn, màu sắc nhợt nhạt, khả
năng chống chịu kém. Trong quá trình sinh trưởng Hồng môn cần nhiều lân
vào giai đoạn sinh trưởng sinh thực tức là thời kỳ hình thành nụ và hoa,
ngoài ra giai đoạn cây con cũng rất cần.
Kali: Kali tham gia vào các quá trình vận chuyển các chất trong cây,
kali làm tăng tính thấm của màng đối với nhiều chất, ảnh hưởng mạnh tới
quá trình trao đổi gluxit, trạng thái nguyên sinh chất của tế bào. Kali có tác
dụng làm tăng tính chống chịu của cây như: tính chịu hạn, chịu rét, chịu sâu
bệnh. Thiếu kali đầu chóp lá vàng già, bắt đầu vàng chết khô, sau đó cả
phần thịt lá giữa các gân lá cũng như vậy, cuống hoa mềm, màu sắc hoa
nhợt nhạt, cánh mềm, hoa chóng tàn. Trong quá trình sinh trưởng Hồng
Nguyễn Thị Vẻ Chuyên đề tốt nghiệp
10
Trường ĐH Nông Nghiệp Hà Nội Khoa Nông Học
môn cần kali vào thời kỳ kết hạt và nở hoa.
Canxi: Canxi rất cần cho quá trình phân chia tế bào và cho sự sinh
trưởng giai đoạn giãn, canxi cũng rất cần cho sự sinh trưởng của bộ rễ.
Thiếu canxi trên lá non xuất hiện những vết đốm màu xanh nhạt, lá non và
đỉnh sinh trưởng có thể bị chết khô, nhưng lá già vẫn duy trì được trạng
thái bình thường, cuống lá cuống hoa bị mềm. Canxi cũng giúp cho Hồng
hoá rất nhanh và có mặt trong các hợp chất hữu cơ (Weigl và Ziegler,
1962). Cũng thí nghiệm tương tự với NH
3
, NH
3
cũng được đồng hoá nhanh
và tạo thành các hợp chất hữu cơ. Hàng ngày, sự hấp thụ NH
3
qua lá
khoảng 100 – 450 g/ha ( Cowlinh và Lockyer, 1981). ở các vùng công
nghiệp sự sinh trưởng của cây bị ức chế do cây hút SO
2
qua lá nhiều (có thể
gây độc cho cây) và hút cả nitơ ở dạng NO và N
2
O (Mohr, 1983). Trong
trường hợp này ức chế các mối liên kết với CO
2
do ảnh hưởng đến hoạt tính
của Ribulosediphophat cacboxilase là enzim chủ yếu tham gia khử CO
2
trong chu trinh calvin.
Sự hấp thụ chất hoà tan qua lá phụ thuộc vào cấu tạo của lá, lớp
cutin, số lượng và sự phân bố khí khổng tế bào lá cũng như tế bào rễ hấp
Nguyễn Thị Vẻ Chuyên đề tốt nghiệp
11
Trường ĐH Nông Nghiệp Hà Nội Khoa Nông Học
thụ các chất phụ thuộc vào nhiều nhân tố bên trong và ngoài – yếu tố bên
ngoài như nồng độ dung dịch và hoá trị, nhiệt độ; nhân tố bên trong như
quá trình trao đổi chất. Mức độ hấp thụ các nguyên tố khoáng qua lá
Trong những năm gần đây nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Nhật,
Anh, Đức, Thái Lan, Trung Quốc đã sản xuất nhiều chế phẩm dinh dưỡng
bón qua lá có tác dụng làm tăng năng suất, phẩm chất nông sản, nhưng
không làm ô nhiễm môi trường: YoGen, Atonik (Nhật Bản), Organic,
Cheer (Thái Lan), Bloom Plus, SoluSpray – N – Grow (Hoa Kì), Đặc đa
thu, Đặc phong thu, Diệp lục tố, (Trung Quốc). Nhiều chế phẩm đã được
khảo nghiệm và cho phép sử dụng trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam.
Ở Việt Nam cũng đã sản xuất được một số chế phẩm dinh dưỡng phun
qua lá đang được ưa chuộng như Thiên Nông, Đầu Trâu 502
Theo Đoàn Thị Thuỳ Vân (2006) bổ sung tổ hợp GA
3
và α-NAA nồng
độ 50ppm hoặc hỗn hợp dinh dưỡng Komix 0,3% hoặc Atonik 0,2% định
kỳ phun một tuần một lần thì cây sẽ sinh trưởng phát triển tốt.
Ở thí nghiệm phun chế phẩm dinh dưỡng chúng tôi sử dụng Atonik
1.8DD, chế phẩm Thiên nông, Đầu trâu 502.
+ Chế phẩm Atonik 1,8DD: Do công ty cổ phần thuốc sát trùng Cần
Thơ sản xuất có chứa hợp chất Nitro thơm là 1,8gam/lít, Mg (0,1%), S
(0,05%), Zn, Cu, Mo, Ni, Co, Mn và một số chất điều hoà sinh trưởng như
GA
3
, α-NAA
+ Chế phẩm đầu trâu 502: Do Công ty phân bón Bình Điền (Vệt Nam)
sản xuất. Có thành phần dinh dưỡng như sau:
N : 30% Ca : 0,05% Cu : 0,05% Mn : 0,01%
P
2
O
5
: 12% Mg : 0,05% B : 0,02% Mo : 0,001%
cây cảnh - Viện Nghiên cứu Rau quả.
1. Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của các loại giá thể đến sinh
trưởng, phát triển của giống Hồng môn Alabama trồng chậu.
Thí nghiệm được tiến hành với 5 công thức, bố trí theo kiểu ngẫu nhiên
hoàn toàn với 3 lần nhắc lại, mỗi công thức 10 chậu.
CT1: đất phù sa + trấu hun + phân chuồng, tỷ lệ 1:1:1 (đ/c)
CT2: xơ dừa + trấu hun + phân chuồng, tỷ lệ 1:1:1
CT3: trấu hun + xơ dừa + phân chuồng, tỷ lệ 1:1:1
CT4: đất phù sa + phân chuồng, tỷ lệ 1:1
CT5: xơ dừa + phân chuồng, tỷ lệ 1:1
Nguyễn Thị Vẻ Chuyên đề tốt nghiệp
14
Trường ĐH Nông Nghiệp Hà Nội Khoa Nông Học
2. Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chế phẩm dinh dưỡng
phân bón lá đến sinh trưởng và phát triển của cây hoa hồng môn Alabama.
CT1: Không phun (đ/c)
CT2: Phun Atonik
CT3: Phun Komix
CT4: Đầu trâu 902
Giống hồng môn Alabama được trồng trong chậu có đường kính 5 cm, đặt
trong nhà lưới, được che một lớp lưới đen, các chế độ chăm sóc khác là
như nhau.
Atonik 1.8EC, Đầu trâu 902, Komix: phun nồng độ 10ml/bình 10 lít, định
kì phun 7 ngày/lần.
IV. Các chỉ tiêu theo dõi
- Các chỉ tiêu về sinh trưởng phát triển thân lá:
+ Chiều cao cây (cm) = Tổng chiều cao cây/ Tổng cây theo dõi
+ Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây (cm/ngày) =
H2 – H1
25
∑
số lá
+ Số lá trung bình/ cây (lá): =
∑
số cây theo dõi
+ Tốc độ hình thành chồi mới (chồi/cây) = T2 – T1
Trong đó: T1 là số chồi đếm được lần trước
T2 là số chồi đếm được lần sau
+ Diện tích lá (cm
2
): Được đo bằng phương pháp hệ số K
Để tính được hệ số K của Hồng môn chúng tôi dùng phương pháp
cân gián tiếp: Ngắt lá Hồng môn in trên một tờ giấy, cân miếng giấy hình lá
Hồng môn vừa được in cho khối lượng P
1
. Cân 1cm
2
giấy (cùng loại) được
khối lượng P
2
. Diện tích của miếng giấy hình lá là: S = P
1
/P
2
. Đo chiều dài
(D) và chiều rộng (R) của miếng giấy hình lá Hồng môn. Mà S = D* R* K,
như vậy K = S/ D*R. Áp dụng cách làm này với 3 lá ở 3 tầng lá lần lượt
thu được các giá trị K
1
, K
đợt xuất hiện.
Đo cuống lá(cm): Dùng thước nhựa 20 cm đo từ gốc cuống đến gốc lá.
Đo chiều dài lá(cm): Dùng thước nhựa 20 cm đo từ gốc lá đến chóp lá.
Đo chiều rộng lá(cm): Dùng thước nhựa 20 cm đo chiều rộng của lá
ở vị trí có kích thước lớn nhất.
VI. Xử lý số liệu
Số liệu được xử lý theo phương pháp Excell
Nguyễn Thị Vẻ Chuyên đề tốt nghiệp
17
Trường ĐH Nông Nghiệp Hà Nội Khoa Nông Học
PHẦN III
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
I. THÍ NGHIỆM 1: NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA GIÁ THỂ ĐẾN
SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN CỦA HỒNG MÔN ALABAMA.
Cùng với các yếu tố như nước, dinh dưỡng, điều kiện tiểu khí hậu,
giá thể là một yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng
phát triển của cây. Với giống Hồng môn Alabama cũng vậy, giá thể không
chỉ là nơi để cây trồng bám rễ, giúp cây đứng vững mà còn là nơi dự trữ
nước và chất dinh dưỡng để cung cấp dần cho cây. Ngoài tác dụng dự trữ,
giá thể còn có tác dụng nâng đỡ và bảo vệ cây, điều này lại càng quan trọng
đối với những cây có bộ rễ mẫn cảm như giông Hồng môn Alabama.
I.1. Ảnh hưởng của giá thể trồng đến tốc độ tăng trưởng chiều cao cây
và chiều dài cuống lá của Hồng môn Alabama.
Sự sinh trưởng và phát triển của Hồng môn alabama được thể hiện
qua nhiều yếu tố, trong đó tốc độ tăng trưởng chiều cao cây phản ánh một
cách sát thực về tình hình sinh trưởng, phát triển của cây. Hồng môn
Alabam là cây thuộc họ ráy vì vậy, chiều cao cây có quan hệ mật thiết với
chiều dài cuống lá và kích thước của lá. Sự tăng trưởng của cuống lá nhanh
hay chậm là một phần để thể hiện sự tăng trưởng của chiều cao cây.
Theo dõi hai chỉ tiêu tốc độ tăng trưởng chiều cao cây và chiều dài
TĐ
tăng
chiều
cao
TĐ
dài cuống
lá
CT1 0.030 0.017 0.048 0.021 0.073 0.037
CT2 0.033 0.017 0.055 0.022 0.086 0.039
CT3 0.034 0.018 0.070 0.025 0.104 0.046
CT4 0.025 0.013 0.036 0.016 0.060 0.028
CT5 0.026 0.014 0.041 0.019 0.069 0.030
19
Trường ĐH Nông Nghiệp Hà Nội Khoa Nông Học
Đồ thị 1-2. Tốc độ tăng chiều cao cây và chiều dài cuống lá của Hồng
môn Alabama
Nguyễn Thị Vẻ Chuyên đề tốt nghiệp
20
Trường ĐH Nông Nghiệp Hà Nội Khoa Nông Học
Nguyễn Thị Vẻ Chuyên đề tốt nghiệp
21
Trường ĐH Nông Nghiệp Hà Nội Khoa Nông Học
Từ bảng 1 và đồ thị 1-2 cho thấy: Thời gian đầu (từ khi trồng đến 25
ngày) do mới chuyển chậu, cây đang dần thích nghi với giá thể mới, khả
năng hấp thụ dinh dưỡng của cây còn thấp, tốc độ tăng trưởng chiều cao
cây và chiều dài cuống lá còn đang chậm, chiều cao cây và chiều dài cuống
lá ở các công thức chênh lệch không đánh kể, tốc độ phát triển chiều cao
cây và dài cuống lá ở thời gian này là thấp hơn các giai đoạn 50 ngày và 75
ngày sau trồng. Qua theo dõi chúng tôi cũng nhận thấy ở giai đoạn cuối (75
ngày sau trồng) tốc độ phát triển của hai chỉ tiêu trên ngày càng tăng rất
CT5 có tốc độ tăng chiều cao cây ở mức thấp hơn CTĐC (CT4 đạt 0,06
cm/ngày, CT5 đạt 0,069 cm/ngày).
Như vậy, ở các công thức có thành phần giá thể khác nhau thì tốc độ
tăng trưởng chiều cao cây và tốc độ dài cuống lá là khác nhau. CT3 (giá thể là
xơ dừa + trấu hun + phân chuồng tỉ lệ 1:1:1) là công thức cho kết quả tốt nhất,
tiếp đến là CT2 (giá thể là xơ dừa + đất phù sa + phân chuồng tỉ lệ 1:1:1).
Công thức đối chứng (CT1) với thành phần giá thể là đất phù sa + trấu hun +
phân chuồng tỉ lệ 1:1:1 cho kết quả tốt hơn CT4 (giá thể đất phù sa + phân
chuồng tỉ lệ 1:1), và CT5 (giá thể là sơ dừa + phân chuồng tỉ lệ 1:1)
I.2. Ảnh hưởng của giá thể trồng đến tốc độ ra lá và diện tích lá của
Hồng môn Alabama.
Lá là cơ quan sinh dưỡng với chức năng quan trọng là quang hợp,
tổng hợp các chất hữu cơ tạo ra năng lượng để nuôi cây, là cơ sở cho sự
duy trì và tích luỹ chất khô. Chỉ số diện tích lá cho biết mức độ che phủ của
lá trên diện tích đất mà cây trồng chiếm chỗ.
Nhìn chung, cây có số lá và chỉ số diện tích lá càng cao thì khả năng
tạo sinh khối càng lớn, do đó số lá và chỉ số diện tích lá là những chỉ tiêu
quan trọng để đánh giá sự sinh trưởng của cây. Theo dõi hai chỉ tiêu tốc độ
ra lá và diện tích lá tại các thời điểm 25 ngày, 50 ngày, 75 ngày sau khi
sang chậu thu được kết quả trình bầy ở bảng 2.
Nguyễn Thị Vẻ Chuyên đề tốt nghiệp
23
Trường ĐH Nông Nghiệp Hà Nội Khoa Nông Học
Bảng 2. Tốc độ tăng diện tích lá và tốc độ ra lá của Hồng Môn Alabama.
Kỳ theo dõi 25 ngày sau trồng 50 ngày sau trồng 75 ngày sau trồng
Chỉ Tiêu
CT
TĐ tăng S
lá
(cm
Chó thÝch:
T§: tèc ®é
CT1 : c«ng thøc 1
CT2: c«ng thøc 2
CT3: c«ng thøc 3
CT4: c«ng thøc 4
CT5: c«ng thøc 5
S: diÖn tÝch
§C: §èi chøng
Nguyễn Thị Vẻ Chuyên đề tốt nghiệp
24
Trường ĐH Nông Nghiệp Hà Nội Khoa Nông Học
Đồ thị 3-4. Tốc độ phát triển diện tích lá và tốc độ ra lá
Nguyễn Thị Vẻ Chuyên đề tốt nghiệp
25