Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp NPK đến sinh trưởng và phát triển của giống dong riềng DR1 tại trường ĐHNL Thái Nguyên. - Pdf 29

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
HÀ CHÍ BẢO Tên đề tài:

“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ TỔ HỢP NPK ĐẾN
SINH TRƯỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA GIỐNG DONG RIỀNG
DR1 TẠI TRƯỜNG ĐHNL THÁI NGUYÊN”

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học cây trồng
Khoa : Nông học
Lớp : K42 - TT
Khóa học: : 2010 - 2014
Giảng viên hướng dẫn : PGS.TS Nguyễn Viết Hưng

LỜI CẢM ƠN

Được sự nhất trí của Nhà trường và BCN Khoa Nông học, tôi tiến hành
thực tập tốt nghiệp với đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp
NPK đến sinh trưởng và phát triển của giống dong riềng DR1 tại trường
ĐHNL Thái Nguyên”.
Dưới sự hướng dẫn tận tình của cô giáo TS. Nguyễn Thị Lân đến nay
luận văn tốt nghiệp của tôi đã được hoàn thành. Để có được kết quả như
hôm nay tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu sắc tới ban chủ nhiệm
Khoa Nông học cùng toàn thể các thầy cô giáo trong Khoa, đặc biệt là cô
giáo Nguyễn Thị Lân. Đồng thời tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự động
viên của gia đình và các bạn trong lớp, trong Khoa đã giúp đỡ tôi hoàn thành
luận văn này
Đây là dịp đầu tiên tôi được tiếp xúc với việc nghiên cứu thực tế, nên
không thể tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong được sự chỉ bảo, góp ý
bổ sung của các thầy, cô giáo và các bạn để luận văn của tôi được hoàn
chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Hà Chí Bảo
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3. Mục đích nghiên cứu 2
1.4. Ý nghĩa của đề tài 2
PHẦN II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1. Nguồn gốc, đặc điểm thực vật học và yêu cầu sinh thái của cây dong
riềng 3
2.1.1. Nguồn gốc và sự phân bố của cây dong riềng 3
2.1.2. Phân loại cây dong riềng 3
2.1.3. Đặc điểm thực vật học cây dong riềng 3
2.1.4. Yêu cầu sinh thái của cây dong riềng 5
2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dong riềng trên thế giới và Việt Nam 6
2.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dong riềng trên thế giới 6
2.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dong riềng tại Việt Nam 6
2.3. Tình hình nghiên cứu dong riềng trên Thế giới và ở Việt Nam 9
2.3.1. Tình hình nghiên cứu dong riềng trên thế giới 9
2.3.2. Tình hình nghiên cứu dong riềng ở Việt Nam 11
2.4. Một số nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật trồng dong riềng 13
Phần III. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 16
3.1. Đối tượng nghiên cứu 16
3.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 16
3.3. Nội dung nghiên cứu 16
3.4. Phương pháp nghiên cứu 16
3.5. Chỉ tiêu và phương pháp theo dõi 17
3.6. Phương pháp xử lý số liệu 19
Phần IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 20
4.1. Điều kiện khí hậu thời tiết 20
4.2. Ảnh hưởng của một số tổ hợp NPK đến tỉ lệ nảy mầm và thời gian sinh
trưởng của giống dong riềng DR1 22

Bảng 4.5: Ảnh hưởng của một số tổ hợp NPK đến động thái ra lá của giống
dong riềng DR1 28
Bảng 4.6: Ảnh hưởng của một số tổ hợp NPK đến một số đặc điểm hình thái
và độ đồng đều của giống dong riềng DR1 30
Bảng 4.7: Ảnh hưởng của một số tổ hợp NPK tình hình sâu bệnh hại và khả
năng chống đổ của giống dong riềng DR1 33
Bảng 4.8 Ảnh hưởng của một số tổ hợp NPK đến các yếu tố cấu thành năng
suất và năng suất của giống dong riềng DR1 34
Bảng 4.9: Sơ bộ hạch toán kinh tế cho các công thức thí nghiệm 36

DANH MỤC HÌNH

Biểu đồ 4.1: Động thái tăng trưởng chiều cao cây dong riềng 24
Biểu đồ 4.2. Động thái tăng trưởng đường kính thân cây dong riềng 26
Biểu đồ 4.3. Động thái ra lá của cây dong riềng 29
Biểu đồ 4.4. Năng suất lý thuyết và năng suất thực thu của giống dong riềng
DR1 34 1
PHẦN I

Phân bón có một vị trí quan trọng trong việc nâng cao sức sản xuất
của đất, cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng tạo điều kiện cho cây trồng
sinh trưởng và phát triển, tăng năng suất và chất lượng nông sản. Tuy nhiên,
muốn nâng cao hiệu lực của phân bón cần xác định liều lượng, tỉ lệ giữa các

2
nguyên tố dinh dưỡng phù hợp với từng loại đất và từng vùng tiểu khí hậu
cụ thể.
Xuất phát từ thực tế đó, được sự giúp đỡ của khoa Nông Học trường
Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, cùng sự giúp đỡ tận tình của thầy cô
hướng dẫn, tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng
của một số tổ hợp NPK đến sinh trưởng và phát triển của giống dong
riềng DR1 tại trường ĐHNL Thái Nguyên”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Xác định tổ hợp NPK thích hợp nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả
kinh tế trong sản xuất dong riềng.
1.3. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp NPK đến khả năng sinh
trưởng và năng suất của dong riềng.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp NPK đến khả năng chống
chịu của dong riềng.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học:
Giúp sinh viên củng cố và hệ thống hóa những kiến thức đã học, áp
dụng vào thực tế. Đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên được tiếp cận với
những phương pháp nghiên cứu khoa học, nâng cao kiến thức và tích lũy
kinh nghiệm thực tế.
- Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất:
Qua kết quả nghiên cứu xác định được công thức bón phân phù hợp
với sản xuất dong riềng tại Thái Nguyên và đánh giá hiệu quả kinh tế của

gen dong riềng, ngoài ra dong riềng được trồng nhiều ở các nước châu Á,
châu Phi, Châu Úc. Dong riềng được trồng ở quy mô thương mại tại các
nước vùng nam Mỹ, châu Phi, và một số nước nam Thái Bình Dương. Tại
châu Á, dong riềng được trồng tại Thái Lan, Indonesia, Nam Trung Quốc,
Úc và Đài Loan (Hermann và CS, 2007) [16].
2.1.2. Phân loại cây dong riềng
- Tên khoa học: Canna Edulis Ker
- Dong riềng thuộc họ chuối hoa Cannacea
- Bộ: Scitaminales
Số lượng nhiễm sắc thể là 9, có 2 dạng nhị bội 2n = 2X = 18 và tam bội
2n = 2X = 27
2.1.3. Đặc điểm thực vật học cây dong riềng

4
Thân: Thân của cây dong riềng gồm 2 loại là thân khí sinh và thân củ.
Thân khí sinh trung bình cao từ 1,2m đến 1,5m có những giống có thể cao
trên 2,5m. Thân cây thường có mầu xanh hoặc xen tím. Thân gồm những
lóng kéo dài, giữa các lóng là các đốt; Thân khí sinh được tính từ đốt tiếp
phần củ. Giải phẫu thân khí sinh cho thấy bên ngoài thân được cấu tạo bởi
lớp biểu bì gồm những tế bào dẹt, dưới biểu bì có những bó cương mô xếp
thành những bó tròn có tác dụng chống đỡ cho cây, tiếp đến là những bó libe
và mạch gỗ và trong cùng là nhu mô.
Củ: Củ cây dong riềng hình thành từ thân rễ phình to, những củ to có
thể đạt chiều dài 60 cm. Thân rễ phân thành nhiều nhánh và chứa nhiều tinh
bột, thân rễ nằm trong đất. Thân rễ gồm nhiều đốt, mỗi đốt có một lá vảy,
lúc mới ra lá vảy có hình chóp nhọn dần dần to ra sẽ bị rách và tiêu dần;
Trên mỗi đốt của thân củ có nhiều mầm có thể phát triển thành nhánh, nhánh
có thể phân chia thành các nhánh cấp 1 hay đến cấp 3. Vỏ của thân có thể có
màu trắng, vàng kem đến màu tía hồng. Kích thước củ biến động khá lớn
phụ thuộc vào giống và điều kiện chăm bón. Giải phẫu thân rễ cho thấy phía

cánh mang 1 bao phấn, nửa còn lại cũng biến thành hình cánh. Tất cả các nhị
đều có màu sắc sặc sỡ, màu cánh biến động từ màu đỏ tươi đến màu vàng
điểm đỏ. Bầu hoa có 3 ô, mỗi ô có từ 6 – 8 noãn, phía trên bầu có tuyến tiết
mùi. Thời gian từ nụ đến nở hoa từ 3 – 5 ngày, hoa nở theo thứ tự từ thấp
đến cao, từ trong ra ngoài; Hoa nở vào buổi sáng, mỗi hoa nở từ 1 - 2 ngày.
Quả: Quả của cây dong riềng thuộc dạng qủa nang, hình trứng ngược,
kích thước khoảng 3cm, trên quả nang có nhiều gai mềm.
Hạt: Hạt của cây dong riềng có màu đen, hình tròn đường kính 3,5 – 5
mm. Khối lượng 1000 hạt khoảng 12 – 13 g.
2.1.4. Yêu cầu sinh thái của cây dong riềng
Yêu cầu về nhiệt độ: Cây dong riềng thích hợp từ 25-30
0
C, điều kiện
ấm áp dong riềng sinh trưởng phát triển khỏe hơn, tốc độ đồng hóa cao và
đẩy nhanh quá trình hình thành thân củ, thời tiết hanh và hơi lạnh đẩy nhanh
quá trình vận chuyển tinh bột từ thân lá xuống củ. Dong riềng chịu lạnh khá
nên có khả năng trồng ở độ cao trên 2.500 m so với mặt nước biển.
Yêu cầu ánh sáng: Dong riềng không cần nhiều ánh sáng, nên có thể
trồng dưới tán cây ăn quả, cây sinh trưởng bình thường nơi cớm nắng. Ngày
dài có ảnh hưởng lớn đến việc hình thành củ. Điều kiện ngày ngắn, cường

6
độ ánh sáng mạnh thúc đẩy sự hình thành và phát triển củ, trong khi ngày
dài thúc đẩy sự phát triển thân lá.
Yêu cầu đất trồng: Dong riềng là cây có yêu cầu về đất không khắt khe
so với cây trồng khác, nên có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau. Tuy
nhiên trồng trên đất cát pha, nhiều mùn, đủ ẩm là tốt nhất để cho năng suất
cao. Dong riềng là loại cây chịu úng kém do vậy đất trồng dong riềng phải là
nơi dễ thoát nước. Đất đọng nước làm cho bộ rễ hô hấp kém có thể dẫn đến
thối củ.

chế biến thành tinh bột, sau đó làm miến (Nguyễn Khắc Quỳnh và Trương
Văn Hộ, 1995) [7]. Tuy nhiên, các quy trình chế biến miến dong ở nước
ta hiện nay vẫn mang tính thủ công chưa đảm bảo chất lượng và chỉ có
một số ít nhà máy sử dụng tinh bột dong để sản xuất miến ăn liền. Dong
riềng hiện nay được chế biến với khối lượng lớn chủ yếu tại một số làng
nghề tại Quốc Oai, Hoài Đức, Ba Vì (Hà Nội), Trảng Bom (Đồng Nai),
Yên Mỹ, Khoái Châu (Hưng Yên). Hiện nay nhu cầu sử dụng miến ngày
càng tăng, trong khi đó nguồn nguyên liệu cho chế biến lại chưa đủ nên
hàng năm nước ta vẫn phải nhập hàng ngàn tấn tinh bột dong ẩm từ tỉnh
Vân Nam, Trung Quốc.
* Sản xuất dong riềng tại Bắc Kạn
Bắc Kạn là tỉnh miền núi phía Bắc, có địa hình phức tạp, độ dốc cao.
Việc đưa các loại cây trồng vào địa bàn Bắc Kạn trong những năm qua đã có
nhiều nghiên cứu, nhiều mô hình được áp dùng để tạo vùng sản xuất phù
hợp với điều kiện địa lý, thổ nhưỡng và cả tập quán canh tác của đồng bào
dân tộc thiểu số.
Ở Bắc Kạn, nhiều vùng mùa đông nhiệt độ dưới 10
0
C các loại cây trồng
khác như lúa, ngô, khoai lang, sắn không trồng được nhưng dong riềng vẫn
phát triển tốt, ngoài ra cây dong riềng có thể trồng xen trên các núi đá mà ở
đó các cây trồng khác không thể canh tác. Cây dong riềng cũng chịu hạn tốt
hơn ngô, khoai lang và sắn, trên 1 đơn vị diện tích thì dong riềng cũng cho
thu nhập cao hơn một số cây trồng khác. Chính vì vậy trong những năm
gần đây, cây dong riềng đang được người dân các địa phương quan tâm và
phát triển rộng trên toàn tỉnh.
Nhận thấy dong riềng là cây phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng của địa
phương lại cho hiệu quả kinh tế cao, những năm gần đây, tỉnh Bắc Kạn đã
đẩy mạnh việc sản xuất dong riềng. Diện tích trồng và quy mô chế biến nông
sản này ngày càng tăng: năm 2010, toàn tỉnh trồng được 270 ha, năng suất

liệu báo cáo của các địa phương, năm tới tổng diện tích người dân đăng
ký trồng dong riềng là 2.200 ha.
Bên cạnh đó, được sự quan tâm của UBND tỉnh Bắc Kạn, Sở Khoa học
và Công nghệ tỉnh Bắc Kạn đang tiến hành làm hồ sơ đề nghị bảo hộ sản
phẩm trí tuệ tập thể miến dong Bắc Kạn (một loại hàng hóa có giá trị, được

9
người nội trợ nhiều nơi tin dùng vì chất lượng đặc biệt). Theo đó, dự án
thành công sẽ bảo vệ quyền lợi của người sản xuất và người tiêu dùng; cũng
như quảng bá nhãn hiệu tập thể nói riêng trong sản xuất nông nghiệp. Từ đó,
gắn kết nhau cùng xây dựng, bảo vệ và phát triển nhãn hiệu tập thể cho sản
phẩm đặc thù của địa phương, tạo việc làm và tăng thu nhập cho nhiều lao
động, tăng nguồn thu ngân sách nhà nước, góp phần vào công cuộc xóa đói
giảm nghèo, phát triển kinh tế và thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia
về xây dựng nông thôn mới.
2.3. Tình hình nghiên cứu dong riềng trên Thế giới và ở Việt Nam
2.3.1. Tình hình nghiên cứu dong riềng trên thế giới
Cây dong riềng có tên khoa học là Canna edulis (Indica), thuộc nhóm
cây nông nghiệp có nguồn gốc phát sinh ở Nam Mỹ. Ngày nay dong riềng
được trồng rộng rãi ở các nước nhiệt đới và á nhiệt đới trên thế giới. Nam
Mỹ là trung tâm đa dạng của dong riềng nhưng châu Á, châu Úc và châu Phi
là những nơi trồng và sử dụng dong riềng nhiều nhất (Cecil, 1992; Hermann,
1999). Dong riềng được gọi bằng một số tên khác nhau như Queenland
Arrowroot, Canna Indica (L.), Canna Edulis (Kerr- Gawl) (Cecel, 1992).
Trên thế giới dong riềng được trồng ở quy mô thương mại tại các nước
vùng Nam Mỹ, Châu Phi, và một số nước Nam Thái Bình Dương. Tại Châu
Á, dong riềng được trồng tại Thái Lan, Indonesia, Nam Trung Quốc, Úc, và
Đài Loan. Mặc dù vậy đến nay chưa có số liệu thống kê chính xác về diện
tích loại cây trồng này.
Nghiên cứu về dong riềng ở các nước còn nhiều hạn chế. Theo

2
, trên nền đất cát pha, không bón phân,
Hermann và cộng sự đã thu được kết quả rất thú vị. Năng suất củ tươi đạt từ
17-96 tấn/ha, hàm lượng tinh bột trong củ tươi đạt 4 - 22% và đạt 12 - 31%
qui về chất khô, hàm lượng đường hòa tan trong củ tươi là 5 - 11 độ Brix.
Nghiên cứu hệ số tương quan giữa các chỉ tiêu kinh tế cho thấy có sự
tương quan thuận cao giữa hàm lượng chất khô của củ với hàm lượng đường
hòa tan và hàm lượng tinh bột trong củ tươi r = 0,66, trong khi số chồi tương
quan nghịch với hàm lượng chất khô trong củ r = -0,57.
Nhóm tác giả trong công bố của mình đã kết luận, mặc dù hàm lượng
tinh bột trong củ dong riềng thấp nhưng do năng suất củ rất cao nên vẫn có
năng suất tinh bột đạt 2,8 - 14,3 tấn/ha và chỉ số thu hoạch cao nên dong
riềng là cây tăng thu nhập của nông dân nghèo ở các vùng cao nhiệt đới. Tuy
nhiên cho đến nay, tại các nước có trồng dong riềng thì nó vẫn chưa được
quan tâm nghiên cứu. Ở châu Á, Trung Quốc và Việt Nam là những nước
trồng và sử dụng dong riềng hiệu quả nhất (Hermann và CS, 2007) [16].
Hiện nay trên thế giới chọn tạo giống dong riềng chủ yếu chọn lọc từ
nguồn gen hoang dại, sau đó tiến hành cải tiến nguồn gen để chọn lọc giống

11
mới. Nhưng cũng có một số ít công trình đã nghiên cứu chọn giống dong
riềng bằng chỉ thị phân tử.
2.3.2. Tình hình nghiên cứu dong riềng ở Việt Nam
Dong riềng Canna edulis Ker là cây thân thảo, họ dong riềng
(Cannaceae). Dựa vào tính chất củ, thân lá và hoa dong riềng, được chia
ra 3 loại: Cây chuối hoa (Canna indica L.), cây dong đao (Canna sp), cây
dong riềng (Canna Edulis ker). Dong riềng có tên nhiều địa phương khác
nhau như khoai chuối, khoai lào, dong tây, củ đao, khoai riềng, củ đót,
chuối nước.
Dong riềng được nhập vào Việt Nam đầu thế kỷ 19. Năm 1898, người

tinh bột và các sản phẩm khác (Nguyễn Ngọc Huệ và Đinh Thế Lộc,
2005)[3].
Dong riềng có nhiều đặc tính sinh học quý như kích thước hạt tinh bột
lớn nhất trong nhóm cây có củ, tới 150 micron (tinh bột sắn là 35 micron).
Điều này giúp cho việc tách chiết tinh bột dong riềng dễ dàng hơn so với
một số cây có củ khác. Hàm lượng amiloza trong tinh bột dong riềng cao đạt
từ 38% - 41%, gần bằng hàm lượng amiloza trong tinh bột đậu đỗ (46% -
54%) (Lê Ngọc Tú và CS, 1994) [9]. Điều này làm cho sợi miến dong riềng
dai và giòn tương tự miến đỗ xanh, trong khi giá thành miến dong chỉ bằng
một nửa so với miến đậu xanh. Đây là lợi thế cạnh tranh của miến dong so
với miến đậu xanh. Dong riềng chế biến thành bột lãi gấp 2-3 lần trồng lúa
trong điều kiện khó khăn.
Dong riềng đã và đang đóng một vai trò quan trọng trong việc xoá đói,
giảm nghèo, giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn miền núi.
Trong những năm qua, sản xuất dong riềng và các sản phẩm chế biến đã thu
hút nhiều ngày công lao động của nông dân, thợ thủ công, góp phần tạo việc
làm cho nhiều người lao động, đồng thời đã góp một phần quan trọng trong
việc nâng cao nguồn thu cho người sản xuất.
Dong riềng là cây tăng thu nhập cho nông dân tại một số vùng sinh thái
đặc thù như nơi đất khô hạn (vùng đồi núi của Huế, Sơn Tây), đất dốc, khí
hậu lạnh như Mộc Châu, Sơn la, Hòa Bình Tuy nhiên trong những năm
gần đây do không có sự đầu tư về chọn lọc, phục tráng giống cũng như
các kỹ thuật canh tác phù hợp, các giống dong riềng có tiềm năng và chất
lượng cao đang bị suy giảm. Bên cạnh đó, quá trình chuyển đổi cơ cấu
cây trồng làm cho diện tích trồng dong riềng đang có xu hướng giảm
khiến cho nguồn cung cấp nguyên liệu ngày càng bị cạn kiệt trong khi
nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm của nó vẫn không ngừng tăng lên ở Việt
Nam cũng như trên thế giới.

13

sống của cơ thể thực vật là không thể thay thế được. Nitơ có mặt trong axit
nucleic, tham gia vào cấu trúc của vòng porphyril, là những chất đóng vai
trò quan trọng trong quang hợp và hô hấp của thực vật. Nói chung, nitơ là

14
dưỡng chất cơ bản nhất tham gia vào thành phần chính của protein, vào quá
trình hình thành các chất quan trọng như amino axit, men, nhiều loại
vitamin trong cây như B1, B2, B6…Nitơ thúc đẩy cây tăng trưởng, đâm
nhiều chồi, lá to và xanh, quang hợp mạnh. Nếu thiếu đạm, cây sinh
trưởng chậm, còi cọc, lá ít và có kích thước nhỏ và hơi vàng. Nhưng nếu
bón thừa đạm cũng gây tác hại cho cây. Biểu hiện của triệu chứng thừa
đạm là cây sinh trưởng quá mức, cây dễ đổ ngã, nhiều sâu bệnh, lá có màu
xanh đậm vì diệp lục được tổng hợp nhiều (Trịnh Xuân Vũ, 1975 [12];
Viện thổ nhưỡng nông hóa, 1998 [13]; Ekta Khurana and J.S. Singh,
2000[15]; Thomas D. Landis, 1985[17]).
Lân (P) là yếu tố quan trọng trong quá trình trao đổi năng lượng. Lân
có tác dụng làm tăng tính chịu lạnh cho cây trồng, thúc đẩy sự phát triển của
hệ rễ. Lân cần thiết cho sự phân chia tế bào, mô phân sinh, kích thích sự
phát triển của rễ, ra hoa, sự phát triển của hạt và quả. Cây được cung cấp đầy
đủ lân sẽ tăng khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi như lạnh, nóng, đất
chua và kiềm. Nếu thiếu lân, kích thước cây nhỏ hơn bình thường, lá cây
phồng cứng, lá màu xanh đậm, sau chuyển dần sang vàng; thân cây mềm,
thấp; năng xuất chất khô giảm. Ngoài ra, thiếu lân sẽ hạn chế hiệu quả sử
dụng đạm. Một vài loại lá kim khi thiếu lân lá sẽ đổi màu xanh thẫm, tím,
tím nâu hay đỏ. Ở những loài cây lá rộng, thiếu lân sẽ dẫn đến lá có màu
xanh đậm, xen kẽ với các vết nâu, cây tăng trưởng chậm. Khi thừa lân không
thấy tác hại nghiêm trọng như thừa nitơ (Trịnh Xuân Vũ, 1975 [12]; Viện
thổ nhưỡng nông hóa, 1998 [13]; Ekta Khurana and J.S. Singh, 2000[15];
Thomas D. Landis, 1985[17]).
Kali (K) đóng vai trò chủ yếu trong việc chuyển hóa năng lượng, quá

2
0
5
+ 200 kg K
2
O chia làm 3 lần. Bón lót
100% phân hữu cơ + 100% P
2
0
5
+ 1/3 N; sau trồng 1 tháng bón thúc lần 1:
1/3 N + 1/2 K
2
O kết hợp với xới đất và vun nhẹ vào gốc; sau trồng 4 tháng
bón lượng phân còn lại kết hợp với vun cao gốc. Thu hoạch để ăn tươi sau
khi trồng 6 đến 8 tháng, còn thu hoạch để chế biến tinh bột phải sau trồng 10
đến 12 tháng.
Như vậy trên thế giới và ở Việt nam có rất ít các công trình nghiên cứu
về cây dong riềng, hiện nay chưa có nghiên cứu được tiến hành ở Thái
Nguyên. Vì vậy việc nghiên cứu để xác định biện pháp kỹ thuật phù hợp đặc
biệt là xác định chế độ bón phân hợp lý là hết sức cần thiết góp phần nâng
cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế trong sản xuất dong riềng ở
Thái Nguyên nói riêng và ở vùng miền núi phía Bắc nói chung.
16
Phần III
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU


2
O
5
: 150K
2
O

17
CT2- 175N : 80P
2
O
5
: 175K
2
O
CT3- 200N : 100P
2
O
5
: 200K
2
O (đối chứng)
CT4- 225N : 120P
2
O
5
: 225K
2
O
CT5- 250N : 140P

- Tốc độ tăng trưởng đường kính: dùng thước Panme đo cách gốc của
thân chính 10 cm.

Trích đoạn Ảnh hưởng của các tổ hợp NPK đến động thái ra lá của giống dong
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status