LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC: NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MOLIPDEN, ĐỒNG VÀ CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG CCC (Chlor cholin chlorid) ĐẾN KHẢ NĂNG CHỊU MẶN CỦA MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU TƯƠNG - Pdf 37

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
------------------------------------------------

TRẦN THỊ LOAN

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MOLIPDEN, ĐỒNG VÀ CHẤT
ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG CCC (Chlor cholin chlorid)
ĐẾN KHẢ NĂNG CHỊU MẶN CỦA MỘT SỐ GIỐNG ĐẬU TƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC SINH HỌC

Hà Nội – 2014


LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc TS. Trần Khánh Vân đã luôn tận tình
hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Sinh học, trường Đại
học Sư phạm Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô trong bộ môn Sinh lý Thực vật
và Ứng dụng đã giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong thời gian học tập
và nghiên cứu tại trường.
Tôi xin cảm ơn Sở GD & ĐT Hà Nam, BGH trường THPT Nam Cao
đã tạo điều kiện cho tôi học tập, nghiên cứu hoàn thành luận văn.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp, gia đình và
người thân đã luôn động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tiến hành đề tài.
Hà Nội, ngày 09 tháng 09 năm 2014
Tác giả luận văn
Trần Thị Loan



Bảng 9: Ảnh hưởng của Mo, Cu, CCC đến hàm lượng prolin trong lá đậu
tương ở điều kiện mặn.....................................................................................63
Bảng 10: Ảnh hưởng của Mo, Cu, CCC đến hàm lượng diệp lục tổng số trong
lá đậu tương ở điều kiện mặn..........................................................................68
Bảng 11: Ảnh hưởng của Mo, Cu, CCC đến hàm lượng diệp lục a trong lá đậu
tương ở điều kiện mặn.....................................................................................70


Bảng 12: Ảnh hưởng của Mo, Cu, CCC đến hàm lượng diệp lục b trong lá đậu
tương ở điều kiện mặn.....................................................................................73
Bảng 13: Ảnh hưởng của Mo, Cu, CCC đến hàm lượng diệp lục liên kết trong
lá đậu tương ở điều kiện mặn..........................................................................76
Bảng 14: Ảnh hưởng của Mo, Cu, CCC đến hàm lượng nước liên kết trong lá
đậu tương ở điều kiện mặn..............................................................................80
Bảng 15: Ảnh hưởng của Mo, Cu, CCC đến khả năng giữ nước của mô lá cây
đậu tương ở điều kiện mặn .............................................................................83
Bảng 16: Ảnh hưởng của Mo, Cu, CCC đến khối lượng 100 hạt đậu tương ở
điều kiện mặn (g).............................................................................................87
Bảng 17: Ảnh hưởng của Mo, Cu, CCC đến hàm lượng nitơ trong hạt đậu
tương ở điều kiện mặn ....................................................................................91
Bảng 18: Ảnh hưởng của Mo, Cu, CCC đến hàm lượng lipit trong hạt đậu
tương ở điều kiện mặn (% chất khô)...............................................................96


DANH MỤC HÌNH
Hình 1: Diện tích gieo trồng và sản lượng đậu tương của Việt Nam……..9
Hình 2: Phân nhóm chịu mặn của các giống đậu tương ở giai đoạn
mầm…………………………………………………………………………61
Hình 3: Phân nhóm mức độ ảnh hưởng của Mo đến khả năng chịu mặn
của mầm đậu tương các giống nghiên cứu…………………………..........61

vitamin E, A, B, D, C… và các loại muối khoáng khác. Do đó mà từ hạt đậu
tương người ta đã chế biến ra rất nhiều các sản phẩm khác nhau [40]. Các kết
quả nghiên cứu gần đây cho thấy các chế phẩm đậu tương còn có khả năng ức
chế sinh trưởng của tế bào ung thư [10].
Ngoài ra, cây đậu tương còn có khả năng cố định nitơ tự do nhờ sự
cộng sinh với vi khuẩn cố định đạm Rhizobium japonicum. Sau mỗi vụ trồng,
1


đậu tương đã cố định và bổ sung vào đất từ 60-80 kg N/ha, tương đương 300400 kg đạm sunphat. Do vậy, cây đậu tương ngoài giá trị kinh tế còn là cây
cải tạo đất rất tốt [24], [42].
Nhờ những ưu điểm nổi bật trên mà cây đậu tương đã trở thành một trong
những cây trồng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp và trong đời sống xã hội
nhiều nước trên thế giới. Hạt đậu tương là mặt hàng xuất khẩu đem lại nguồn thu
đáng kể cho nhiều quốc gia. Nhiều nước đã tập trung nghiên cứu và sản xuất cây
đậu tương với số lượng lớn như Mỹ, Braxin, Achentina …
Ở Việt Nam, diện tích và sản lượng đậu tương trong những năm gần
đây liên tục tăng. Đến nay cây đậu tương đã trở thành cây trồng chính trong
cơ cấu cây trồng của nhiều vùng sản xuất ở nước ta.
Tuy nhiên, đậu tương là cây trồng rất mẫn cảm với các điều kiện bất lợi
của môi trường như nhiệt độ, hạn, rét, mặn, sâu bệnh …. [14], [15], [23], [26],
[32], [57], [65]. Cây họ Đậu nói chung, đậu tương nói riêng có nhu cầu nước
cao, trong các giai đoạn phát triển nếu không được cung cấp đủ nước thì quá
trình sinh trưởng và phát triển bị kìm hãm dẫn đến làm giảm năng suất của
chúng [7], [49], [66], [70]. Nên trước thực trạng của sự BĐKH, nước biển
dâng, việc tăng diện tích trồng cây đậu tương và tăng năng suất gặp nhiều khó
khăn. Do đó, nghiên cứu về khả năng chống chịu của thực vật là hướng được
các nhà khoa học đã, đang tiến hành và vẫn cần được chú trọng. Hiện nay, các
đề tài nghiên cứu tính chống chịu của cây đậu tương theo nhiều hướng khác
nhau: nghiên cứu đặc điểm hóa sinh, sự đa dạng di truyền phân lập gen chịu

2. Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài
Bổ sung nguồn tư liệu cho công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học về
khả năng chịu mặn của đậu tương ở Việt Nam.
Đề tài nghiên cứu góp phần đánh giá giống đậu tương tốt khuyến cáo
cho người nông dân trồng ở các vùng đất nhiễm mặn; đồng thời có kế hoạch
3


bổ sung một số NTVL và chất điều hòa sinh trưởng cho cây trồng nhằm nâng
cao sức chống chịu đem lại hiệu quả kinh tế cao.
3. Nhiệm vụ của đề tài
Bố trí thí nghiệm gieo hạt trong phòng thí nghiệm và ở vườn thực
nghiệm.
- Đánh giá khả năng chịu mặn của đậu tương khi được bổ sung các
nguyên tố vi lượng Cu, Mo và chất điều hòa sinh trưởng CCC ở giai đoạn nảy
mầm.
- Đánh giá khả năng chịu mặn của đậu tương khi được bổ sung các
nguyên tố vi lượng Cu, Mo và chất điều hòa sinh trưởng CCC ở giai đoạn cây 3,
5, và 7 lá.
- Đánh giá ảnh hưởng của Cu, Mo, chất điều hòa sinh trưởng CCC đến
một số yếu tố cấu thành năng suất và phẩm chất hạt.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Cây đậu tương (Glycine max (L.) Merrill) thuộc họ Đậu
(Fabaceae), bộ Đậu (Fabales), phân lớp hoa hồng (Rosidae). Các giống đậu
tương ĐVN9, DT2008, ĐT26, ĐT22 do Viện Di truyền Nông nghiệp Việt
Nam cung cấp.

4



được công nhận là giống năm 2006.
- Giống đậu tương ĐT22 có thời gian sinh trưởng trung bình 85-90 ngày.
Giống có thể trồng được 3 vụ trong năm, giống chịu đất ướt và nhiễm
bệnh mức nhẹ đến trung bình đối với một số bệnh hại chính.
Hoa màu trắng, phân cành trung bình, số quả chắc trung bình đạt 25-45
quả/cây, có khoảng 16-20% số quả 3 hạt. Khối lượng 1000 hạt từ 140 150 gam, hạt màu vàng sáng, rốn hạt màu nâu, nâu đen. Chiều cao cây
45-70 cm.

III. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
5


3.1. Tình hình sản xuất đậu tương
Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới
Đậu tương là cây trồng ngắn ngày, có khả năng thích ứng rộng đồng
thời là một trong những cây trồng có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao nên
được trồng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới. Các quốc gia có diện tích
và sản lượng đậu tương lớn nhất là: Mỹ, Braxin, Argentina, Trung Quốc và
Ấn Độ, trong đó Mỹ là nước có diện tích trồng đậu tương lớn nhất thế giới.
Theo thống kê của USDA Mỹ năm 2008, sản lượng đậu tương của Mỹ 33%,
xuất khẩu 31,6 triệu tấn (chiếm khoảng 40% lượng đậu tương xuất khẩu trên
toàn thế giới), diện tích trồng đậu tương của toàn nước Mỹ là 30,6 triệu ha, năng
suất đạt được 39,6 tạ/mẫu tương đương với 26,6 tạ/ha, trong đó diện tích trồng
đậu tương chuyển gen của Mỹ là 95% tương đương với 28,36 triệu ha. Tiếp đến
là Braxin 28% (xuất khẩu trong năm đạt 25,4 triệu tấn chiếm 32% tổng lượng
đậu tương xuất khẩu trên toàn thế giới), Argentina 21% tổng sản lượng đậu
tương toàn thế giới [73].
Cây đậu tương chiếm vị trí quan trọng hàng đầu trong 8 cây lấy dầu
quan trọng của thế giới: đậu tương, bông, lạc, hướng dương, cải dầu, lanh,
dừa và cọ dầu. Do vậy, đậu tương được trồng phổ biến ở hầu khắp các nước

đậu tương đứng thứ hai trên thế giới. Tuy nhiên, đậu tương ở châu Á được trồng ở
nhiều nơi đất xấu, không được đầu tư về phân bón nên năng suất đậu tương vẫn
còn thấp hơn nhiều so với năng suất bình quân của thế giới. Vì vậy, sản lượng đậu
tương mới chỉ đáp ứng được khoảng 1/2 nhu cầu cho các nước thuộc châu lục này.
Hàng năm, các nước châu Á vẫn phải nhập khẩu khoảng 8 triệu tấn hạt đậu tương,
1,5 triệu tấn dầu, 1,8 triệu tấn sữa đậu nành, nước nhập khẩu đậu tương nhiều nhất
là Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan...
Tình hình sản xuất đậu tương ở trong nước.
Ở Việt Nam, đậu tương được trồng từ rất sớm vào khoảng thế kỷ XVI,
cho đến nay có thể nói đậu tương là một trong số các cây trồng quan trọng
trong việc bố trí luân canh tăng vụ. Do đó, diện tích cũng như sản lượng đậu
7


tương không ngừng được mở rộng và tăng lên, tuy nhiên năng suất đậu tương
của Việt Nam vẫn còn rất thấp so với trung bình của toàn thế giới.
Thủ tướng Chính phủ cũng đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển sản
xuất ngành nông nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 về quy hoạch
chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông lâm nghiệp thủy sản cả nước. Theo đó, diện tích
đất quy hoạch khoảng 100 ngàn ha, tận dụng tăng vụ trên đất lúa để năm 2020
diện tích gieo trồng khoảng 350.000 ha, sản lượng 700.000 tấn; vùng sản xuất
chính là đồng bằng sông Hồng, trung du miền núi phía Bắc, Tây Nguyên. Như
vậy, cây đậu tương đã và đang được nhà nước đánh giá đúng vị trí và vai trò của
nó [74].
Bảng 2: Sản lượng đậu tương Việt Nam từ năm 2008 - 2014

2008

2009


1,39

1,46

1,51

1,47

1,45

1,5

1,5

267,6

213,6

298,6

266,9

175,3

270

300

Nguồn: Tổng cục thống kê số liệu dự báo của USDA


9


của BĐKH. Nước biển dâng dẫn đến sự xâm thực của nước mặn vào nội địa,
ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nước ngầm, nước sinh hoạt cũng như nước và
đất sản xuất nông - công nghiệp.
Hiện nay có khoảng 230 triệu ha đất (chiếm gần 50% diện tích sản xuất
lương thực trên thế giới) bị nhiễm mặn. Riêng ở Nam và Đông Nam Á ước
tính cũng có khoảng 54 triệu ha đất bị nhiễm mặn và 27 triệu ha đất có tiềm
năng trồng lúa ở vùng nhiệt đới nóng ẩm Châu Á không thể canh tác vì nhiễm
mặn [71].
Việt Nam là 1 trong 4 nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của sự BĐKH
và dâng cao của nước biển. Nếu nước biển dâng lên 1m sẽ làm mất 12,2%
diện tích đất là nơi cư trú của 23% dân số (17 triệu người) của nước ta. Hiện
nay, có khoảng trên 1 triệu ha đất mặn chiếm 3% diện tích tự nhiên của cả
nước, phân bố chủ yếu ở ĐBSCL và ĐBSH [3]. Trong đó, khu vực ven biển
miền Trung sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề của hiện tượng BĐKH và dâng cao
của nước biển. Riêng đồng bằng sông Cửu Long, dự báo vào năm 2030,
khoảng 45% diện tích của khu vực này sẽ bị nhiễm mặn cục bộ và gây thiệt
hại mùa màng nghiêm trọng do lũ lụt và ngập úng.
Tất cả các loại đất đều chứa hỗn hợp muối tan trong đó có một số chất
tan cần cho hoạt động sinh trưởng của cây. Đất mặn là loại đất chứa hàm
lượng muối cao (> 0,2%) có nhiều ion độc. Do nồng độ muối cao nên áp suất
thẩm thấu của dung dịch đất ở đây rất cao, có thể đạt 200-300 atm hay còn có
thể cao hơn gây ức chế sự sinh trưởng của cây [3].
Trong đất mặn, hàm lượng muối tan thay đổi khá rộng và có xu thế tăng
dần theo chiều sâu. Các ion thường có trong đất gồm: các anion Cl -, SO42-,
HCO3- và các cation Na+, Mg2+, Ca2+,…Nếu đất chỉ chứa một loại muối tan sẽ
độc hơn rất nhiều so với đất có cùng độ mặn nhưng chứa nhiều loại muối tan
do có sự đối kháng ion [3].

giảm diện tích lá dẫn đến quá trình quang hợp giảm mạnh [60], [62]. Trong

11


điều kiện mặn hô hấp trong tế bào diễn ra mạnh, nhưng hiệu quả năng lượng
thấp, phần lớn năng lượng của các quá trình phân huỷ đều thải ra dưới dạng
nhiệt làm cho tế bào thiếu ATP để hoạt động [49], [54], [60], [65], [67]. Phân
huỷ mạnh, tổng hợp lại yếu nên không bù đủ lượng vật chất do hô hấp phân
huỷ, chất dự trữ dần dần bị hao hụt, cây không sinh trưởng được, do vậy cây
còi cọc, năng suất thấp.
Trong quá trình sống và phát triển, cây trồng sống trong mối tương
quan chặt chẽ với môi trường và với các sinh vật, đặc biệt là các vi sinh vật
trong đất. Ở cây đậu tương,vi khuẩn Rhizobium japonicum cộng sinh trong
các nốt sần giúp tổng hợp đạm từ nitơ không khí cho cây. Khi đất bị nhiễm
mặn, các vi sinh vật này bị ảnh hưởng đáng kể về số lượng, làm giảm số
lượng nốt sần hữu hiệu dẫn đến làm giảm khả năng tích lũy nitơ, giảm năng
suất cây đậu tương [52], [57], [63], [65].
Khả năng chịu mặn (tính chịu mặn) của cây được hiểu là khả năng để cây
trồng có thể lớn lên, phát triển và sống hết vòng đời trong môi trường đất bị nhiễm
mặn. Các loại cây trồng khác nhau có khả năng chịu mặn cũng khác nhau.
Khi gặp điều kiện môi trường bất lợi thực vật có xu hướng tăng cường
tích lũy các hợp chất hữu cơ tan, tăng cường tổng hợp các hợp chất liên kết để
giảm tác động tiêu cực của môi trường sống. Do đó, ở cây chống chịu tốt khi
gặp điều kiện bất lợi hàm lượng axit amin đặc biệt là prolin, hàm lượng
đường tan, hàm lượng diệp lục liên kết có xu hướng tăng so với đối chứng
[1], [21], [31], [41], [53], [55], [58].
Như vậy, mặn ảnh hưởng tiêu cực đến các giai đoạn phát triển của cây
trồng; kìm hãm sự sinh trưởng, từ đó làm giảm năng suất, chất lượng, sản
lượng nông nghiệp, gây thiệt hại lớn kinh tế cũng như ảnh hưởng đến an ninh

lượng axitamin như alanin, asparagin, prolin…

13


Trong điều kiện bất lợi bổ sung phân vi lượng có tác dụng hạn chế ảnh
hưởng tiêu cực của môi trường, tăng khả năng chống chịu và cường độ quang
hợp ở cây trồng [12], [19], [28].
Nếu thiếu Mo sẽ ảnh hưởng tới các quá trình sinh lý của cây. Biểu hiện
đầu tiên là màu vàng lục xuất hiện ở lá. Sự thiếu hụt Mo đã làm quá trình đồng
hóa bị ngừng trệ, cây sinh trưởng chậm. Đối với cây bộ Đậu, nốt sần nhỏ đi,
quá trình trao đổi đạm bị phá vỡ, quá trình khử nitrat chậm hoặc nghiêm trọng
hơn là ngưng hoạt động dẫn tới cây bị đói đạm. Molipden trở nên hữu dụng
nhiều khi pH tăng, điều đó ngược lại với đa số vi lượng khác. Chính vì điều
này nên hiện tượng thiếu Mo thường xảy ra ở đất chua. Đất nhẹ thường dễ bị
thiếu Mo hơn so với đất nặng [29].
Như vậy, Mo ảnh hưởng tích cực đến toàn bộ quá trình sinh trưởng và
phát triển của cây. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng khi một số loại cây như đậu
tương, lúa, lạc, ngô… được xử lí ở nồng độ Mo thích hợp đã làm tăng tốc độ và
tỷ lệ nảy mầm của hạt lên rõ rệt. Đồng thời, các chỉ tiêu sinh trưởng của cây
cũng tăng hơn so với đối chứng: chiều cao, sinh khối tươi, khô, khả năng đẻ
nhánh... tăng năng suất của cây [4], [6], [11], [12].
3.4. Vai trò của đồng (Cu) với tính chống chịu của thực vật
Từ lâu, người ta đã phát hiện được vai trò đặc biệt quan trọng của Cu
đối với sự sinh trưởng và phát triển của đời sống thực vật đó là: Cu cần cho
cây trồng, không thể thay bằng bất cứ nguyên tố nào khác cho dù hàm lượng
Cu trong dung dịch đất rất nhỏ chỉ khoảng 0,01 mg/kg đất.
Đồng là thành phần của chuỗi chuyển vận điện tử trong quang hợp.
Đồng hoạt hoá nhiều enzim oxi hoá khử, các enzim mà Cu hoạt hoá liên quan
rất nhiều đến quá trình sinh lý, hoá sinh trong cây như: tổng hợp protein, axit

gibbrellin, citokinin, axit absisic, etilen và CCC. Các chất điều hòa sinh
trưởng có khả năng điều hòa sinh trưởng phát triển cây và dẫn tới tăng năng
15


suất cây trồng. Tùy theo mục đích thu hoạch là thu hoạch lá, hoa, quả, thân rễ
mà người ta phải sử dụng tùy chất điều hòa sinh trưởng riêng biệt hoặc hỗn
hợp chúng.
Điều lưu ý là trong quá trình sinh trưởng và phát triển của cây đã có mặt
cùng lúc nhiều phitohormon khác nhau, nhưng với những tỉ lệ rất khác nhau.
Đặc điểm quan trọng của các chất điều hòa sinh trưởng thực vật này là: với một
hàm lượng rất ít đã có khả năng gây nên tác động làm thay đổi những đặc trưng
về hình thái sinh lý của thực vật và chúng có thể di chuyển trong cây được.
Nhìn chung, khi phun chất điều hòa sinh trưởng lên cây trồng vào đúng
giai đoạn thì có thể cho năng suất tăng trung bình từ 10 – 15%, nhiều trường
hợp tăng cao hơn từ 15 –50%. Ví dụ, phun gibberellin hoặc α- NAA cho cây
đậu tương vào thời kì trước khi ra hoa rộ đã làm cho cây phát triển tốt, tăng số
lượng lá trên cây, tăng số lượng và kích thước nốt sần ở rễ và tăng năng suất
đậu từ 15 tới 17% [6], [39].
Chlor cholin chlorid là chất ức chế sinh trưởng mà khi xử lí lên cây
trồng sẽ làm cho cây có lóng ngắn, thân cây cứng hơn, tăng cường màu xanh
của lá, dày hơn và cây giảm chiều cao rõ rệt, chống hiện tượng đổ, ngã cho
cây trồng. Ngoài ra, CCC còn giúp cây thúc đẩy mạnh quá trình quang hợp
[25], [37], [39].
Chlor cholin chlorid có khả năng điều hòa sinh trưởng thực vật đối với
cây cảnh và cây cho hoa bao gồm hạn chế chiều cao của cây, sự phân nhánh
đều và phong phú, kiểm soát ra hoa đồng loạt của cây hoa, kiểm soát tăng
trưởng thực vật quá mức. Vì vậy, CCC được dùng nhiều trong lĩnh vực sản
xuất cây cảnh và trồng hoa ở các nước như Úc, Israel, Thái Lan… Trong sản
xuất cây ăn quả, CCC được ứng dụng rộng rãi trong xử lí kích thích mầm

2. Bố trí thí nghiệm
2.1 .Thí nghiệm trong phòng
a.Chuẩn bị.
17


5 khay nhựa kích thước 20× 40 cm.
Chọn những hạt giống khỏe, đều đặn, tỷ lệ nảy mầm trên 85%, lấy hạt
trong cùng một năm và cùng một nơi nhân ra (Viện Di truyền Nông Nghiệp).
Trước khi thí nghiệm, nhúng hạt trong dung dịch KMnO 4 1% trong 5 phút để
khử trùng.
Xếp những giấy lọc gấp nếp 23x 15 x 2 (cm) (2 là chiều cao nếp gấp)
để trải trên khay. Khử trùng khay gieo hạt bằng cồn, giấy thấm sấy ở 130 o C
trong 1 giờ, khi dùng mới bỏ ra.
Chuẩn bị NaCl; (NH4)2MoO4; CuSO4.5H2 O; CCC tinh chất 98%.
Nước cất.
b. Xác định nồng độ NaCl thích hợp cho đậu tương nảy mầm.
Gieo hạt ở các nồng độ NaCl 0%, 0,1%, 0,2%, 0,3%, 0,4%, 0,5%. Mỗi
giống gieo 30 hạt và theo dõi tỉ lệ nảy mầm ở ngày thứ 3 và ngày thứ 5 sau
khi gieo.
c. Xác định nồng độ CCC thích hợp cho đậu tương nảy mầm.
Gieo hạt ở các nồng độ CCC 0,5g/l, 1g/l, 2g/l, 3g/l. Mỗi giống gieo 30
hạt và theo dõi tỉ lệ nảy mầm ở ngày thứ 3 và ngày thứ 5 sau khi gieo.
d. Gieo hạt theo công thức:
Sử dụng 5 khay, gieo hạt thành 4 hàng trên giấy thấm ứng với 4 giống
trong mỗi khay, mỗi hàng gieo 30 hạt và đặt biển đánh dấu. Cung cấp 10 ml
dung dịch/ngày theo các CT. Sử dụng 5 khay, gieo hạt thành 4 hàng trên giấy
thấm ứng với 4 giống trong mỗi khay, mỗi hàng gieo 30 hạt và đặt biển đánh
dấu. Cung cấp 10 ml dung dịch/ngày theo các CT:
CT5 : Đối chứng (cung cấp nước).


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status