ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN THỊ THƢƠNG
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA MỘT SỐ TỔ HỢP NPK ĐẾN
SỰ SINH TRƢỞNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA GIỐNG DONG RIỀNG
DR3 TẠI TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành : Trồng trọt
Lớp
: K43-TT
Khoa
: Nông học
Khoá học
: 2011 - 2015
Giảng viên hƣớng dẫn: TS. Nguyễn Thị Lân
Khoa Nông học - Trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên, năm 2015
Do kinh nghiệm bản thân còn hạn chế, vì vậy luận văn không tránh khỏi
những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo và bạn
bè để tôi có thể sửa đổi, bổ sung giúp cho luận văn được hoàn chỉnh.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Nguyễn Thị Thƣơng
iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CS
Cộng sự
CIP
Trung tâm khoai tây Quốc tế
CT
Công thức
CV
Hệ số biến động
Ngày sau mọc
NSTT
Năng suất thực thu
UBND
Uỷ ban nhân dân
iv
DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1: Diễn biến thời tiết khí hậu năm 2014 tại Thái Nguyên .......................24
Bảng 4.2: Ảnh hưởng của một số tổ hợp NPK đến tỉ lệ nảy mầm và thời gian
sinh trưởng của giống dong riềng DR3 ................................................................26
Bảng 4.3: Ảnh hưởng của một số tổ hợp NPK đến động thái tăng trưởng chiều
cao cây của giống dong riềng DR3 ......................................................................28
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của một số tổ hợp NPK đến động thái tăng trưởng đường kính
thân của giống dong riềng DR3 ..............................................................................29
Bảng 4.5: Ảnh hưởng của một số tổ hợp NPK đến động thái ra lá ...........................31
của giống dong riềng DR3......................................................................................31
Bảng 4.6: Ảnh hưởng của một số tổ hợp NPK đến đặc điểm hình thái của giống dong
riềng DR3 ..............................................................................................................32
Bảng 4.7: Ảnh hưởng của một số tổ hợp NPK đến khả năng chống chịu của giống
dong riềng DR3 .....................................................................................................34
Bảng 4.8 : Ảnh hưởng của một số tổ hợp NPK đến các yếu tố cấu thành năng suất và
năng suất của giống dong riềng DR3 ...............................................................................35
Bảng 4.9: Sơ bộ hoạch toán kinh tế cho các công thức thí nghiệm...........................37
2.1.1. Nguồn gốc và sự phân bố của cây dong riềng ............................................. 3
2.1.3. Đặc điểm thực vật học cây dong riềng ......................................................... 4
2.1.4. Yêu cầu sinh thái của cây dong riềng .......................................................... 6
2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dong riềng ....................................................... 7
2.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dong riềng trên thế giới ............................... 7
2.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dong riềng tại Việt Nam. ............................. 7
2.3. Tình hình nghiên cứu về dong riềng trên thế giới và ở Việt Nam ................10
3.2.1. Tình hình nghiên cứu dong riềng trên thế giới ..........................................10
2.3.2. Tình hình nghiên cứu về dong riềng ở Việt Nam ......................................12
2.4 Một số nghiên cứu về phân bón cho dong riềng ............................................16
vii
PHẦN III. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU .....................................................................................................................19
3.1. Đối tượng nghiên cứu....................................................................................19
3.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu.................................................................19
3.3. Nội dung nghiên cứu. ....................................................................................19
3.4. Phương pháp nghiên cứu...............................................................................19
3.4.1. Quy trình kĩ thuật áp dụng cho thí nghiệm. ...............................................19
3.4.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm...................................................................20
3.5. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi. ..........................................................21
3.6. Phương pháp xử lý số liệu .............................................................................23
PHẦN IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN .............................24
4.1.Điều kiện thời tiết, khí hậu .............................................................................24
4.2. Ảnh hưởng của một số tổ hợp NPK đến tỉ lệ nảy mầm và thời gian sinh
trưởng của giống dong riềng DR3........................................................................26
4.3. Ảnh hưởng của một số tổ hợp NPK đến sự sinh trưởng,phát triển của giống
dong riềng DR3. ...................................................................................................27
Agriculture. Dong riềng mọc ở nhiều nơi trên thế giới như Nam Mỹ, ÚC, Thái
Lan, Ấn Độ… và được trồng ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XIX. Củ dong riềng
trồng ở Việt Nam có nơi gọi chuối củ hay khoai đao, là cây có giá trị kinh tế
cao và có nhiều công dụng như luộc ăn, chế biến tinh bột, làm miến dong, lấy
sợi, pha chế huyết thanh, làm thức ăn gia súc…Theo đánh giá của người dân,
dong riềng dễ trồng, ít tốn công chăm sóc nên trồng dong riềng có hiệu quả
kinh tế cao. Vì vậy, dong riềng đã trở thành cây lương thực góp phần xóa đói
giảm nghèo ở nhiều địa bàn trong nước ta như Bắc Kạn, Điện Biên, Quảng
Ninh, Kon Tum, Đồng Nai…
Cây dong riềng là loại cây có thể trồng trên nhiều loại đất mà không lo
bị mất mùa, hiện nay ở một số địa phương trồng một ha dong riềng có thể cho
trung bình 50 - 60 tấn củ tươi, giá trị kinh tế có thể cao gấp nhiều lần trồng
lúa. Tuy nhiên trong những năm gần đây, mặc dù diện tích trồng dong riềng
có tăng nhưng năng suất còn thấp và không ổn định. Nguyên nhân do: Người
dân còn sử dụng giống cũ, chưa áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật, đặc
biệt là người dân sử dụng phân bón không cân đối, bón nhiều đạm mà không
bón phân hữu cơ, kali…
Phân bón có vai trò quan trọng trong việc nâng cao sức sản xuất của
đất, cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng, tạo điều kiện cho cây trồng phát
triển, tăng năng suất và chất lượng nông sản. Việc nghiên cứu ảnh hưởng của
các mức phân bón đối với đời sống cây trồng, tìm ra mức phân bón hợp lý
cũng như xác định liều lượng, tỉ lệ giữa các nguyên tố dinh dưỡng phù hợp
2
với từng loại đất, từng vùng tiểu khí hậu cụ thể sẽ nâng cao được hiệu lực của
phân bón với cây trồng.
Xuất phát từ nhận định đó, với sự giúp tận tình của thầy cô hướng dẫn,
tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng một số tổ hợp
riềng
2.1.1. Nguồn gốc và sự phân bố của cây dong riềng
Dong riềng có nguồn gốc ở Peru, Nam Mỹ. Được chế biến lấy bột để
làm lương thực, thực phẩm là chính (Mai Thạch Hoành và CS, 2011) [2].
Hiện nay, người ta đã xác định được 7 loài dong riềng nguồn gốc phát sinh
ở Nam Mỹ và Trung Quốc (Darling ton và Janaki, 1945) đó là:
- Canna discolor ở Tây Ấn nhiệt đới,
- C. Flauca ở Tây Ấn và Mêhico,
- C. Flaccida ở Nam Mỹ,
- C. edulis ở châu Mỹ nhiệt đới,
- C. indica ở châu Mỹ nhiệt đới,
- C. libata ở Braxin,
- C. humilis ở Trung Quốc.
Ngày nay dong riềng được trồng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới
có khí hậu nhiệt đới và á nhiệt đới. Trong đó Nam Mỹ là trung tâm đa
dạng di truyền nguồn gen dong riềng, ngoài ra dong riềng được trồng ở các
nước châu Á, châu Phi, châu Úc. Tại các vùng Nam Mỹ, Châu Phi và một
số nước nam Thái Bình Dương thì dong riềng được trồng ở quy mô thương
mại. Tại Châu Á, dong riềng được trồng ở Thái Lan, Indonesia, Nam
Trung Quốc, Úc và Đài Loan (Hermann và CS, 2007) [15].
2.1.2. Phân loại cây dong riềng.
- Tên khoa học: Canna Edulis Ker
- Dong riềng thuộc họ chuối hoa Cannacea.
4
- Bộ Scitaminales
Số lượng nhiễm sắc thể là 9, có 2 dạng nhị bội 2n=2x =18 và tam bội
2n=2x=27.
cây dong riềng thuôn dài, mặt trên của lá có màu xanh hoặc xanh lục xen tím,
mặt dưới màu xanh hoặc màu tím. Lá dài khoảng 35 – 60 cm và có chiều rộng
22– 25 cm; Mép lá nguyên, xung quanh mép lá có viền một đường mỏng màu
tím đỏ hoặc màu trắng trong; Phiến lá có gân giữa to, gân phụ song song, có
màu xanh hoặc tím đỏ; Cuống lá dạng bẹ ôm lấy thân có chiều dài khoảng 8 15 cm.
Rễ: Bộ rễ cây dong riềng thuộc loại rễ chùm, rất phát triển; Rễ mọc từ
các đốt của thân củ, từ lớp tế bào trụ bì ở đốt thân củ phát triển ra thành rễ. Rễ
của cây dong riềng phát triển liên tục phân thành rễ cấp 1, cấp 2 và cấp 3 (tuỳ
thuộc vào giống ). Do củ phát triển theo chiều ngang nên rễ chỉ ăn sâu vào đất
khoảng 20 – 30 cm.
Hoa: Hoa của dong riềng xếp thành cụm, cụm hoa dạng chùm, hoa mọc
ở ngọn cây. Cây thường mang ít hoa lưỡng tính, không đều. Cụm hoa được
bao bởi một mo chung như hoa chuối. Chùm hoa thiết diện hình tam giác, có
từ 6 - 8 đốt, mỗi đốt có 2 hoa, đốt dưới cùng và trên cùng có một hoa. Cấu tạo
hoa gồm có 3 lá đài hình cánh rời nhau, 3 cánh hoa dài thon cuộn theo chiều
dài. Hoa có 5 nhị đực, ngoài có 3 nhị thì 2 nhị biến thành bản hình cánh hoa,
một nhị biến thành cánh môi cuộn lại phía trước. Vòng trong có 2 nhị, trong
đó 1 nhị thì chỉ còn vết, nhị kia thì một nửa cánh mang một bao phấn, nửa còn
lại cũng biến thành hình cánh. Tất cả các nhị đều có màu sắc sặc sỡ, màu cánh
biến động từ màu đỏ tươi đến màu vàng điểm đỏ. Bầu hoa có 3 ô, mỗi ô có từ
6 - 8 noãn, phía trên bầu có tuyến tiết mùi. Thời gian từ nụ đến nở hoa từ 3 - 5
6
ngày, hoa nở theo thứ tự từ thấp đến cao, từ trong ra ngoài. Hoa nở vào buổi
sáng, mỗi hoa nở từ 1 - 2 ngày.
Quả: Quả của cây dong riềng thuộc dạng quả nang, hình trứng ngược,
kích thước khoảng 3cm, trên quả nang có nhiều gai mềm.
Hạt: Hạt của dong riềng có màu đen, hình tròn, đường kính 3,5 – 5
cao. Những nơi đất quá cằn cỗi cần bón thêm phân hữu cơ. Phân bón rất có ý
nghĩa trong việc tăng năng suất củ của cây dong riềng.
2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dong riềng
2.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dong riềng trên thế giới
Trên thế giới, dong riềng được trồng ở quy mô thương mại tại các nước
vùng nam Mỹ, châu Phi, châu Á và một số nước nam Thái Bình Dương. Diện
tích dong riềng trên thế giới khoảng 3.000.000 ha. Năng suất trung bình đạt
30 tấn/ha. Châu Phi là châu lục có diện tích trồng dong riềng lớn nhất thế
giới.
Tại châu Á, dong riềng được trồng tại Thái Lan, Indonesia, nam Trung
Quốc, Úc và Đài Loan (Hermann, M. et al. 2007) [15]. Úc và Trung Quốc là
những nước có diện tích dong riềng lớn nhất châu Á.
2.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ dong riềng tại Việt Nam.
Diện tích dong riềng của Việt Nam đạt khoảng 30.000 ha. Sản lượng
hàng năm đạt 450.000 tấn củ tươi. Dong riềng được trồng ở những chân đất
khô hạn, trên đất dốc hoặc những nơi sản xuất tinh bột dong riềng và miến.
Các tỉnh trồng nhiều dong riềng để sử dụng làm miến là Hà Nội, Hưng Yên,
Hoà Bình và Đồng Nai.
Tại những vùng có diện tích trồng đáng kể, dong riềng hầu hết được
chế biến thành tinh bột, sau đó làm miến (Nguyễn Khắc Quỳnh và Trương
Văn Hộ, 1996) [7]. Tuy nhiên, các quy trình chế biến miến dong ở nước ta
hiện nay vẫn mang tính thủ công chưa đảm bảo chất lượng và chỉ có một số ít
8
nhà máy sử dụng tinh bột dong để sản xuất miến ăn liền. Dong riềng hiện nay
được chế biến với khối lượng lớn chủ yếu tại một số làng nghề tại Quốc Oai,
Hoài Đức, Ba Vì (Hà Nội), Trảng Bom (Đồng Nai), Yên Mỹ, Khoái Châu
(Hưng Yên). Hiện nay nhu cầu sử dụng miến và một phần cho xuất khẩu ngày
các cơ sở chế biến dong riềng luôn được tỉnh chú trọng. Đến hết năm
2011 trên địa bàn có gần 70 cơ sở chế biến, tiêu thụ dong riềng với quy
mô từ 10-20 tấn/ngày. Trong những tháng đầu năm 2012, toàn tỉnh Bắc Kan
đã có thêm 10 hợp tác xã (HTX) chế biến tinh bột dong riềng, miến dong,
nâng tổng số các HTX chế biến dong riềng trên địa bàn tỉnh lên 21 HTX
(trong đó có 17 HTX chế biến tinh bột, 4 HTX chế biến tinh bột và miến
dong). Với sự thành lập mới 10 HTX, tính đến thời điểm hiện nay, trên địa
bàn tỉnh Bắc Kạn có gần 80 cơ sở chế biến tinh bột dong riềng, sản xuất miến
dong.
Các cơ sở sản xuất miến từ nguyên liệu dong riềng lớn nhất của tỉnh Bắc
Kạn là: Nhất Thiện (huyện Ba Bể), HTX miến dong Côn Minh, Kim Lư, Cư
Lễ, Lạng San (huyện Na Rì). Sắp tới, Bắc Kạn sẽ có những cơ sở sản xuất
miến dong quy mô lớn hơn, thực hiện sự cam kết giữa doanh nghiệp và người
dân trong việc trồng và tiêu thụ sản phẩm từ dong riềng.
Cùng với việc các HTX chế biến dong riềng được thành lập mới, một số
cơ sở chế biến dong riềng hoạt động với quy mô nhỏ đang chuẩn bị đầu tư
mới để sản xuất với quy mô lớn hơn. Theo số liệu thống kê của Sở Công
Thương, trên địa bàn tỉnh hiện có 26 cơ sở đang dự kiến đầu tư dây chuyền
chế biến tinh bột với tổng công suất 940 tấn củ/ngày; 04 đơn vị đang dự kiến
đầu tư mới dây chuyền sản xuất miến dong với tổng công suất đạt 13,7
tấn/ngày. Như vậy, tổng công suất chế biến tinh bột dong riềng (bao gồm cả
hiện có và dự kiến đầu tư mới) trên địa bàn toàn tỉnh là 1.240 tấn củ/ngày, đáp
ứng được 99,04% năng lực chế biến tinh bột dong riềng năm 2012.
10
Bên cạnh đó, được sự quan tâm của UBND tỉnh Bắc Kạn, Sở Khoa học
và Công nghệ tỉnh Bắc Kạn đang tiến hành làm hồ sơ đề nghị bảo hộ sản
phẩm trí tuệ tập thể miến dong Bắc Kạn (một loại hàng hóa có giá trị, được
công dụng như: Luộc để ăn, làm bột, nấu rượu. Bột dong riềng dễ tiêu hoá vì
thế là nguồn thức ăn rất tốt cho trẻ nhỏ và người ốm. Bột dong riềng có thể
dùng làm hạt chân trâu, miến, bánh đa, bánh mì, bánh bao, mì sợi, kẹo và thức
ăn chăn nuôi. Đối với miền núi, những nơi khó khăn, dong riềng cũng là cây
có thể đảm bảo an ninh lương thực. Trong thân cây dong riềng có sợi màu
trắng, có thể được sử dụng để chế biến thành sợi dệt thành các loại bao bì
nhỏ. Củ dong riềng có thể dùng làm thức ăn chăn nuôi, tuy nhiên cả củ, thân,
lá đều dùng được vào mục đích này. Nếu dùng củ thì nên thái nhỏ, nấu chín
cho gia súc ăn rất tốt.
Những vùng có truyền thống trồng dong riềng chế biến thành bột thì bã
có thể dùng để nấu rượu. Nấu rượu xong có thể dùng bã rượu phục vụ chăn
nuôi. Bã thải của chế biến tinh bột cũng có thể ủ làm phân bón cho cây trồng
và làm giá thể trồng nấm ăn. Ngoài ra, hoa dong riềng có màu sặc sỡ, bộ lá
đẹp nên cũng có thể sử dụng dong riềng làm cây cảnh trong vườn nhà.
Ở Ecuador, dong riềng thương mại được trồng trên đất cát pha ở độ cao
2340 m so với mực nước biển, trong điều kiện nhiệt độ bình quân 15 - 170C.
Trong 6 tháng đầu người ta trồng xen với khoai tây, sau 12 tháng thu hoạch
cho năng suất của trung bình 56 tấn/ha.
Nghiên cứu đánh giá 26 mẫu giống dong riềng từ ngân hàng gen dong
riềng quốc tế của CIP tại Ecuador. Trong nhà lưới ở độ cao 2400 m so với
mực nước biển, biên độ 12 – 27OC với mật độ 2 cây/m2, trên nền đất cát pha,
không bón phân, Hermann và CS đã thu được kết quả rất thú vị. Năng suất củ
tươi đạt từ 17 - 96 tấn/ha, hàm lượng tinh bột trong củ tươi đạt 4 - 22% và đạt
12 - 31% quy về chất khô, hàm lượng đường trong củ tươi là 5 - 11 độ Brix.
12
Nghiên cứu sự tương quan giữa các chỉ tiêu kinh tế cho thấy có sự
tương quan thuận cao giữa hàm lượng chất khô của củ với hàm lượng đường
mở rộng diên tích dong riềng, tuy nhiên vấn đề trồng dong riềng vẫn không
được quan tâm vì thiếu công nghệ chế biến và tiêu thụ thấp.
Nghiên cứu về dong riềng ở trong nước được đặt ra tương đối sớm từ
những năm 60 của thế kỉ trước. Tuy nhiên vấn đề nghiên cứu dong riềng
không được quan tâm, mặc dù diện tích dong riềng được trồng ở nước ta ước
tính vào giai đoạn 1990 là vào khoảng 30.000 ha và được trồng phổ biến ở
nhiều tỉnh trong cả nước như Hưng Yên, Hà Nội, Sơn La, Hoà Bình, Quảng
Ninh, Thừa Thiên Huế, Đồng Nai.
Với điều kiện kinh tế phát triển, đời sống của nhân dân ngày càng được
nâng lên, việc đáp ứng sự đa dạng về nhu cầu ẩm thực cũng rất được quan
tâm. Chính vì vậy việc triển khai phát triển cây dong riềng làm miến cũng
được tăng lên. Bên cạnh sản phẩm củ dong riềng làm miến thì các sản phẩm
khác như thân lá có thể dùng cho chăn nuôi, bã củ sau khi chế biến tinh bột có
thể dùng làm phân hữu cơ, làm than rất có hiệu quả.
Trong những năm qua nhằm duy trì và phát triển các giống cây dong
riềng, trung tâm nghiên cứu và phát triển cây có củ (RCRC) thuộc viện Cây
Lương Thực và Cây Thực Phẩm đã rất quan tâm nghiên cứu duy trì và phát
triển các giống dong riềng mới, từ đó góp phần tạo ra các giống mới cho năng
suất cao, phù hợp với điều kiện tự nhiên của nhiều địa phương trên cả nước.
Hiện nay loại cây này không được đưa vào danh mục thống kê quốc
gia, tuy vậy một số nhà nghiên cứu cũng đưa ra con số ước đoán về diện tích
dong riềng nước ta những năm gần đây vào khoảng 30.000 ha (Trương Văn
Hộ, 1993; Hermann, 1996) với các giống dong riềng lấy củ và dong riềng
cảnh vẫn được trồng phổ biến khắp cả nước, từ vùng đồng bằng, trung du đến
các vùng núi cao như Sa Pa, Bắc Hà, tỉnh Lào Cai; Phó Bảng, tỉnh Hà Giang;
tỉnh tuyên Quang… (Nguyễn Thị Ngọc Huệ, Đinh Thế Lộc, 2005) [3].
14
thuật trồng (Bùi Công Trừng, Nguyễn Hữu Bình, 1963 [9]; Tổ nghiên cứu cây
có củ, 1969 [10]). Theo Mai Thạch Hoành (2003) [2], ở Việt Nam hiện có 3
nhóm giống: Nhóm dong đỏ, nếu thâm canh tốt năng suất đạt 40 tấn/ ha, bột
ướt chiếm 27% củ tươi, thời gian sinh trưởng 8,5 - 10 tháng; nhóm dong xanh
năng suất đạt 40 - 42 tấn/ha nếu thâm canh tốt, bột ướt chiếm 25 - 27% củ
tươi thời gian sinh trưởng 9 - 12 tháng; nhóm Việt - CIP năng suất đạt trên
diện tích nhỏ thâm canh có thể tới 60 tấn/ha, bột ướt chiếm 23% củ tươi, thời
gian sinh trưởng 7,5 tháng. Những năm 1993 - 1994, trung tâm nghiên cứu
khoai tây rau, nay là trung tâm nghiên cứu và phát triển cây có củ với sự hợp
tác tài trợ của Trung tâm nghiên cứu và phát triển quốc tế Canada (ICRD), đã
bước đầu thu thập nguồn gen dong riềng tại nhiều vùng sinh thái trong cả
nước, đây là cuộc thu thập có quy mô lớn nhất và rộng nhất từ trước tới nay,
thu thập được 26 mẫu giống và nhập nội từ CIP 34 mẫu giống dong riềng.
Hiện tại ngân hàng gen cây trồng quốc gia có 71 mẫu giống dong riềng
gồm cả địa phương và nhập nội từ CIP, tuy nhiên vẫn chưa khai thác hiệu quả
tài nguyên này do điều kiện kinh phí hạn hẹp chỉ đủ cho hoạt động bảo quản
lưu giữ và đánh giá ban đầu (Nguyễn Thị Ngọc Huệ và Cs, 2006) [4].
Dong riềng đã và đang đóng một vai trò quan trọng trong việc xóa đói
giảm nghèo, giải quyết việc làm cho người lao động ở nông thôn miền núi,
các sản phẩm chế biến đã thu hút nhiều lao động, góp phần tạo việc làm cho
người dân và nâng cao thu nhập.
Vì vậy, việc nghiên cứu, chọn tạo giống dong riềng kết hợp với các biện
pháp chăm sóc phù hợp nằm nâng cao năng suất, chất lượng dong riềng để
tăng nguồn vật liệu đáp ứng cho ngành công nghiệp chế biến tinh bột, miến và
các sản phẩm khác là rất cần thiết.
16