ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LƯU THỊ DUYÊN
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ TỔ HỢP PHÂN BÓN
ĐẾN SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT CỦA KHOAI
LANG HOÀNG LONG VỤ XUÂN 2014 TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC
NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học cây trồng
Khoa : Nông học
Khóa học : 2010 - 2014
Khóa học : 2010 - 2014 Giảng viên hướng dẫn: Th.S. Nguyễn Thị Mai Thảo
PGS.TS. Nguyễn Viết Hưng
Khoa Nông học - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên Thái Nguyên, 2014
LỜI MỞ ĐẦU
Thực tập tốt nghiệp là khâu vô cùng quan trọng đối với mỗi sinh viên
trước khi ra trường. Vì trong quá trình thực tập chúng ta được củng cố lại
những kiến thức đã học, cũng như phương pháp vận dụng những kiến thức đó
vào lao động thực tiễn, từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc học
tập, tạo tiền đề cho sinh viên có kiến thức đầy đủ để sự nghiệp phát triển nền
nông nghiệp nước ta trong thời kì đổi mới.
Được sự đồng ý của ban chủ nhiệm khoa Nông học, Trường Đại học Nông
Lâm Thái Nguyên, em tiến hành chuyên đề thực tập: “Nghiên cứu ảnh hưởng
của một số tổ hợp phân bón đến sinh trưởng phát triển và năng suất của
khoai lang Hoàng Long vụ Xuân 2014 tại Trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên”
Qua bài báo cáo khóa luận em xin chân thành cảm ơn tới ban giám hiệu
nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Nông học. Đặc biệt em xin chân thành cảm ơn sự
quan tâm giúp đỡ của cô giáo Nguyễn Thị Mai Thảo và thầy giáo PGS.TS
Nguyễn Viết Hưng đã giúp em hoàn thành khóa luận này.
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do trình độ hiểu biết của em còn có hạn nên
không thể tránh khỏi những thiếu sót trong đề tài. Em mong nhận được sự đóng
góp ý kiến của các thầy cô để luận văn tốt nghiệp của em được hoàn thiện hơn.
Trang
Bảng 2.1: Tình hình sản xuất khoai lang trên thế giới giai đoạn 2007 - 2011 10
Bảng 2.2: Tình hình sản xuất khoai lang ở Việt Nam giai đoạn 2007 - 2011 15
Bảng 2.3: Diện tích, năng suất, sản lượng khoai lang của các
vù
n
g
năm 2010
-
2011
16
Bảng 2.4: Tình hình sản xuất khoai lang tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2007 -
2011 20
Bảng 4.1: Diễn biến thời tiết khí hậu của tỉnh Thái Nguyên năm 2014 28
Bảng 4.2: Tỷ lệ sống của cây khoai lang ở các công thức thí nghiệm 30
Bảng 4.3: Ảnh hưởng của phân bón khác nhau đến bén rễ, hình thành củ,
ngày phủ luống khoai lang sau trồng 31
Bảng 4.4: Khả năng phân cành của cây khoai lang ở các công thức thí nghiệm
sau trồng 80 ngày 33
Bảng 4.5: Ảnh hưởng của phân bón khác nhau đến đường kính thân khoai
lang 33
Bảng 4.6: Động thái tăng trưởng chiều dài dây khoai lang ở các công thức thí
nghiệm 34
Bảng 4.7: Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của khoai lang ở các
công thức thí nghiệm 37
Bảng 4.8: Năng suất sinh khối và năng suất củ thương phẩm của khoai lang ở
các công thức thí nghiệm 40
Bảng 4.9: Chỉ số T/R qua các thời kỳ của cây khoai lang ở các công thức thí
nghiệm 41
Bảng 4.10: Một số chỉ tiêu về chất lượng của khoai lang ở các công thức thí
Việt Nam
14
2.3.2. Nghiên cứu về phân bón cho khoai lang ở trong nước 17
2.4. Tình hình sản xuất khoai lang tại Thái Nguyên 20
PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 22
3.1. Đối tượng nghiên cứu 22
3.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 22
3.3. Nội dung nghiên cứu 22
3.4. Phương pháp nghiên cứu 22
3.4.1. Thu thập số liệu liên quan đến đề tài 22
3.4.2. Phương pháp bố trí thí nghiệm. 23
3.4.3. Quy trình thí nghiệm 23
3.4.4. Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp theo dõi 24
3.5. Phương pháp tính toán và xử lý số liệu 27
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
4.1. Ảnh hưởng của thời tiết khí hậu đến cây khoai lang 28
4.1.2. Lượng mưa 29
4.1.3. Độ ẩm 29
4.1.4. Giờ nắng 29
4.1.5. Bốc hơi 29
4.1.6. Ánh sáng 29
4.2. Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh trưởng của khoai lang thí nghiệm
vụ xuân năm 2014 tại Trường ĐH Nông Lâm Thái Nguyên. 30
4.2.1. Tỷ lệ sống của khoai lang ở các công thức phân bón khác nhau 30
4.2.2. Ảnh hưởng của phân bón khác nhau đến các giai đoạn của khoai lang
31
4.2.3. Nghiên cứu khả năng phân cành của cây khoai lang ở các công thức thí
nghiệm 32
4.2.4. Ảnh hưởng của phân bón khác nhau đến đường kính thân khoai lang . 33
canh tác. Khoai lang được nông dân trồng nhiều vì có khả năng sử dụng tốt
các loại chân đất cho năng suất cao và ổn định.
Thành phần củ khoai lang tươi chứa 68% nước, 0,8% protit, 28,5%
gluxit, 34 mg canxi, 50 mg phốt-pho, 23 mg vitamin C. Thành phần khoai
lang khô: 11% nước, 2,2% protit, 80% gluxit. Những nghiên cứu gần đây cho
biết, giống khoai lang tím có polyphennol chứa anthocyamin có tác dụng
khoáng ô xy hóa rất mạnh, có khả năng kiềm chế đột biến của tế bào ung thư,
hạ huyết áp, phòng ngừa bệnh tim mạch, có công năng làm đẹp. Cây khoai
lang có sắc tố có thể bào chế chất nhuộm màu thực phẩm thiên nhiên thay sắc
tố tổng hợp nhân tạo. Khoai lang có chứa nhiều loại vitamin A, B, C, E và các
khoáng chất K, Ca, Mg, Fe, Se… giàu chất xơ thực phẩm. Tổ chức FAO của
Liên Hợp Quốc đã đánh giá khoai lang là thực phẩm bổ dưỡng tốt nhất của
thế kỉ 21, đang được thị trường thế giới rất ưa chuộng.
Khoai lang có rễ củ lớn, chứa nhiều tinh bột, vị ngọt có thể sử dụng củ
để ăn tươi, thái lát phơi khô, chế biến tinh bột dùng làm lương thực, thức ăn
chăn nuôi, thân lá có thể làm rau xanh. Ngoài ra khoai lang có thể chế biến
các sản phẩm tinh bột biến tính, các sản phẩm hóa công, các sản phẩm lên
men thủy phần được sử dụng rộng rãi trong nhiều ngành công nghiệp thực
2
phẩm, dệt, giấy, vật liệu xây dựng, cao su nhân tạo…. Hiệu suất sản xuất
ethanol sinh học từ cây khoai lang cao hơn hẳn mía đường, cao lương, ngô,
sắn, và khoai tây. Khoai lang rất dễ trồng, nhân giống bằng dây, ít bị sâu,
bệnh. Với những ưu việt như vậy, nên cây khoai lang ngày càng được nhiều
nhà nghiên cứu quan tâm để đưa cây khoai lang trở thành cây trồng chính
trong nền sản xuất nông nghiệp.
Vùng Trung Du và miền núi phía Bắc là vùng có tiềm năng lớn về phát
triển nông lâm nghiệp. Trong những năm qua, nông lâm nghiệp của vùng có
nhiều thay đổi nhờ các chính sách hỗ trợ phát triển của nhà nước và địa
phương. Tuy nhiên, do hạn chế về trình độ dân trí, điều kiện địa lý, giao thông
thái của từng địa phương và tiến hành đồng bộ các khâu kỹ thuật then chốt
như: Phân bón, thời vụ, mật độ trồng… cho từng nhóm giống theo mục đích
sử dụng nhằm tăng thu nhập và hiệu quả kinh tế của cây khoai lang. Xuất phát
từ những lý do trên chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh
hưởng của một số tổ hợp phân bón đến sinh trưởng phát triển và năng suất
của khoai lang Hoàng Long vụ Xuân 2014 tại Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên”.
1.2. Mục đích yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục đích của đề tài
Nghiên cứu tìm ra được tổ hợp phân bón thích hợp với sự sinh trưởng
phát triển và năng suất của khoai lang Hoàng Long vụ Xuân 2014 trồng tại
Thái Nguyên.
1.2.2. Yêu cầu
- Theo dõi đặc điểm sinh trưởng, phát triển của khoai lang trên các
công thức thí nghiệm.
- Yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các công thức.
- Tình hình sâu bệnh hại.
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Xác định được tổ hợp phân bón thích hợp với năng xuất khoai lang
Hoàng Long vụ Xuân 2014 tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
Đánh giá hiệu quả kinh tế từ các tổ hợp phân bón này từ đó có thể
khuyễn cáo cho bà con nông dân sản xuất.
4
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Qua kết quả nghiên cứu xác định được công thức bón phân phù hợp
với sản xuất khoai lang tại Thái Nguyên và đánh giá hiệu quả kinh tế của các
công thức bón. Từ đó khuyến cáo ra sản xuất.
của khoai lang là Trung hoặc Nam Mỹ. Austin D.F, cho rằng khoai lang có
nguồn gốc ở phía Bắc là quần đảo Yucatan và phía Nam là sông Orinoco với
các trung tâm thứ cấp có sự đa dạng cao ở Guatemala và Nam Peru. Khi
nghiên cứu về sự biến động ở Ipomoea batatas đã chỉ ra vùng có sự đa dạng
cao bao gồm Colombia, Equador và Bắc Peru.
Khoai lang có nguồn gốc nguyên thủy từ vùng nhiệt đới Châu Mỹ. Hầu
hết các bằng chứng về khảo cổ học, ngôn ngữ học và sử học đều cho thấy
Châu Mỹ là khởi nguyên của cây khoai lang (Trung hoặc Nam Mỹ).
6
Theo Engel (1970) từ những mẫu khoai lang khô thu được tại hang
động Chilca Canyon (Peru) sau khi phân tích phóng xạ cho thấy có độ tuổi từ
8000 đến 10.000 năm.
Một bằng chứng nữa của các nhà khảo cổ học về cây khoai lang đã
được phát hiện tại thung lũng Casma của Peru có độ tuổi xấp xỉ 2000 năm
trước công nguyên (Ugent và Poroski 1983).
Bằng chứng về ngôn ngữ học cho thấy sự xuất hiện của cây khoai lang
tại vùng Mayan của Trung Mỹ khoảng giữa 2600 đến 1000 năm trước công
nguyên (Austin, 1977). Vì vậy khoai lang được coi là nguồn lương thực quan
trọng của người Mayan ở Trung Mỹ và người Péruvian ở vùng núi Andet
(Nam Mỹ).
Theo quan điểm của OBrien (1972) và ý kiến của Yen (1982) trung tâm
chính xác khởi nguyên của khoai lang là Trung hoặc Nạm Mỹ. Nhưng cây
khoai lang thực sự lan rộng ở Châu Mỹ khi người Châu Âu đầu tiên đặt chân
tới, Nguyễn Viết Hưng và CS (2010) [5].
- Phân loại
Khoai lang (Ipomoea (L) Lam) là cây hai lá mầm, thuộc Chi Ipomoea,
họ bìm bìm Convolvulaceae. Trong số hơn 1000 loài thuộc họ
Convolvulaceae thì loài Ipomoea batatas được trồng và sử dụng làm lương
thực và thực phẩm trên khắp thế giới, Võ Văn Chi và CS (1998) [2].
Ở Việt Nam, theo các tài liệu cổ như sách “Thực vật bản thảo”, “Lĩnh
nam tạp kỷ” và “Quảng Đông tân ngữ” của Lê Quý Đôn (Viện Hán Nôm,
1995) [10], khoai lang có nhiều khả năng là cây trồng nhập nội và có thể được
đưa vào nước ta từ nước Lã Tông (đảo Luzon ngày nay) vào cuối đời Minh
cai trị nước ta.
2.1.2. Lịch sử phát triển cây khoai lang
Vào năm 1492 trong chuyến vượt biển đầu tiên Christopher Columbus
đã tìm ra Tân thế giới (Châu Mỹ) và phát hiện ra khoai lang được trồng ở
Hispaniola và CuBa. Từ đó khoai lang mới thực sự lan rộng ở Châu Mỹ và
sau đó được di thực đi khắp thế giới, Nguyễn Viết Hưng và CS (2010)[5].
Đầu tiên khoai lang được đưa về Tây Ban Nha, tiếp đó lan tới một số
nước Châu Âu và được gọi là Batatas (hoặc padada) sau đó là Spanish Potato
(hoặc Swet potato).
Các nhà thám hiểm Bồ Đào Nha đã du nhập cây khoai lang vào Châu
Phi (có thể bắt đầu từ Môdămbic hoặc Ănggôla), theo hai con đường từ Châu
Âu và trực tiếp từ vùng bờ biển Trung Mỹ, sau đó lan rộng sang Ấn Độ,
Nguyễn Viết Hưng và CS (2010)[5].
Các thương gia Tây Ban Nha đã du nhập cây khoai lang vào Philippin
8
vào Phúc Kiến (Trung Quốc) năm 1585. Tuy nhiên cũng có ý kiến cho rằng
khoai lang vào Trung Quốc có thể sớm hơn từ Ấn Độ hoặc Myanma.
Người Anh đã đưa khoai lang đến Nhật Bản vào năm 1615 nhưng đã
không phát triển được. Đến 1674 những người Tây Ba Nha đã du nhập cây
khoai lang vào các quần đảo Nam Thái Bình Dương qua chuyến đi vòng
quanh thế giới của Megenlăng 1521. Những người thám hiểm đầu tiên đã đặt
chân lên đảo Tây Tây Lan, Ha-oai và những đảo về phía Tây có những vị trí
rất tách biệt và từ đó trở thành cây lương thực cực kì quan trọng (Dixơn
1932). Cũng có giả thuyết cho rằng cây khoai lang đã được đưa đến Nam Thái
Bình Dương trước khi Magenlăng đặt chân đến. Mặc dù giả thuyết này hiện
loại nước này mà người ta thu được các tông màu từ hồng tới tía hay đen.
Tất cả các phần của cây đều có thể sử dụng làm thức ăn (khô hay tươi) cho
gia súc.
2.1.3.3. Y học dân tộc
- Các rễ khí được sử dụng làm chất tăng tiết sữa.
- Lá được dùng làm điều trị bệnh đái tháo đường, sổ giun móc, điều trị
áp xe và cầm máu.
- Củ được dùng điều trị bệnh hen suyễn.
2.2. Tình hình sản xuất, nghiên cứu kĩ thuật bón phân cho khoai lang
trên thế giới
2.2.1. Tình hình sản xuất
Theo tổ chức Nông nghiệp và lương thực của Liên hợp quốc (FAO)
khoai lang là một trong 5 cây lấy củ chính (bao gồm: Sắn, khoai tây, khoai
lang, khoai mỡ, khoai sọ), khoai lang chiếm tỷ lệ 16,9% diện tích và 19,9% về
sản lượng.
Hiện nay có hơn 115 quốc gia trên thế giới đang trồng khoai lang với
tổng diện tích đạt xấp xỉ 8 triệu ha, năng suất đạt từ 12 đến 13 tấn/ha, với sản
lượng hơn 101 triệu tấn. Tình hình sản xuất khoai lang trên thế giới từ năm
2007 đến năm 2011 được thể hiện ở bảng 2.1.
10
Bảng 2.1: Tình hình sản xuất khoai lang trên thế giới giai đoạn 2007 - 2011
Năm
Diện
t
íc
h
(ha)
cũng chưa tăng cao nên sản lượng cũng ổn định. Trong đó, nguyên nhân chính
là do năng suất, chất lượng khoai lang chưa được cải thiện, mặt khác trong
việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, người nông dân đã lựa chọn những cây
trồng có hiệu quả kinh tế cao để đầu tư thâm canh. Đặc biệt việc phát triển mở
rộng diện tích trồng khoai lang đi đôi với tiêu thụ và chế biến khoai lang chưa
được quan tâm đúng mức nên sản xuất khoai lang hầu như mang tính tự phát
chạy theo lợi ích kinh tế thời vụ, hàng năm nên đã dẫn đến sản xuất khoai lang
chưa phát triển bền vững và có xu hướng giảm dần.
Hiện nay Trung Quốc là nước sản xuất nhiều khoai lang nhất trên thế
giới, năm 2011 đạt 3.490.425 ha, với năng suất là 21,6 tấn/ha và sản lượng đạt
cao nhất thế giới (75.567.929 tấn).
Một số tài liệu nước ngoài đề cập tới vai trò của cây có củ như một
trong những chỗ dựa quan trọng của nhân loại trong thế kỷ 21. Bởi hiện tại
tiềm năng cải tiến năng suất của cây có củ là rất lớn, trong khi đó mặc dù năng
suất của các cây ngũ cốc đã khá cao nhưng trong một phạm vi nào đó đã đạt đến
mức giới hạn của năng suất trần. Ngoài ra cây có củ có thể trồng được ở những
vùng đất xấu, khô hạn,…
11
2.2.2. Nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng và sử dụng phân bón cho khoai
lang trên thế giới
2.2.2.1. Nghiên cứu về nhu cầu dinh dưỡng của cây khoai lang
Khoai lang là một loại cây ngắn ngày nhưng lại cho năng suất sinh vật
học và năng suất kinh tế cao do đó phải bón đầy đủ về lượng và về chủng loại
phân cần thiết. Các loại vi lượng phân bón cho khoai lang phải tính toán phù
hợp trong mối quan hệ với điều kiện thời tiết vừa phải đảm bảo năng suất vừa
phải đảm bảo thời gian sinh trưởng nằm gọn trong thời gian quy định.
- Tác dụng của một số loại phân bón chính:
khi chế biến. Vì vậy bón kali có tác dụng là tăng phẩm chất của củ khoai lang
một cách rõ rệt.
Kali làm tăng khả năng chống chịu của cây đối với các tác động không
lợi từ bên ngoài và chống chịu đối với một số loại bệnh. Kali tạo cho cây
vững chắc, ít đổ ngã, tăng khả năng chịu úng, chịu hạn, chịu rét.
Nhu cầu kali khoai lang còn cao hơn cả khoai tây và sắn, kali có tác
dụng tăng khả năng chống chịu của cây, tích lũy tinh bột và đường. Kết quả
nghiên cứu cho thấy, bón phân hữu cơ cho khoai lang làm tăng năng suất rất
lớn, mức bội thu đạt 29 - 34 tạ/ha khi bón phân chuồng và 22 - 23 tạ/ha khi
bón rơm rạ.
Việc sử dụng phân bón K cần chú ý:
- Nếu sử dụng phân Kaliclorua (KCL) cần có các biện pháp khắc phục
đất chua.
- Nếu sử dụng phân Kalisunphat (K
2
SO
4
) chứa 40% K nguyên chất thì
có thể sử dụng cho nhiều loại đất.
- Sử dụng tro bếp là dạng phân K tốt dưới dạng K
2
CO
3
, cây dễ hấp thu.
Tro bếp có Ca giúp khử chua đất.
- Lượng K nguyên chất sử dụng cho 1ha là 100 - 120 kg, chia ra 2/3
bón lót + 1/3 bón thúc.
Việc sử dụng phân vô cơ cho cây, giúp cho cây dễ dàng hấp thụ các
chất dinh dưỡng, cho hiệu quả cao, nhanh.
Nhưng nếu bón không hợp lý sẽ ảnh hưởng xấu đến cấu tạo đất, làm đất
sử dụng ½ tổng lượng kali còn lại cho cây.
Lân giúp cho cây được cứng cáp, rễ mọc tốt nên giúp hút nước và dinh
dưỡng cũng tốt hơn. Bón P giúp cho khoai lang cho nhiều rễ củ hơn. Người ta
bón phân với lượng 45 - 60 kg/ha P
2
O
5
( tương đương 270 - 350 kg/ha super lân)
và lúc trồng.
Chất N cần cho cây khoai lang tăng trưởng để tạo thân lá. Người ta đã
nghiên cứu và sử dụng đạm với lượng 40-60 kg/ha N tương đương với 87-130
kg phân Urê) 20 ngày sau khi trồng.
- Sử dụng phân bón lá cho cây khoai lang: sử dụng lượng phân bón cho 1
ha: 10 tấn phân chuồng + 500 kg phân hữu cơ vi sinh HVP 401B + 120 kg ure +
160 kg super lân + 150 kg kali + 500 kg vôi + 20 kg HVP vi lượng ORGANIC.
14
Kỹ thuật bón: Bón lót 100% phân chuồng + 100 vôi + 100% phân lân +
100% phân hữa cơ vi sinh + 100% HVP vi lượng + 30 % phân đạm + 20% phân
kali.
Bón thúc:
+ Bón thúc đợt 1( sau trồng 20 đến 25 ngày): 50% phân đạm + 30% kali
kết hợp với xới đất, làm cỏ, vun nhẹ.
+ Bón thúc đợt 2 ( sau trồng 40 đến 45 ngày): 20% phân đạm + 50%kali.
Kết hợp xới đât, làm sạch cỏ, vun nhẹ.
Sử dụng phân bón lá: sau trồng 10 ngày sử dụng HVP (6 - 4 - 4) K-
HUMAT phun lên lá hoặc dưới gốc 2 lần, mỗi lần cách nhau 7 ngày. Giúp cho
cây bén rễ sinh trưởng nhanh. Sau đó sử dụng HVP 1601 (21 - 21 - 21) phun
đinh kỳ 7 đến 8 ngày 1 lần. Giúp cho cây phát triển nhanh thân lá và rễ.
2011, do vậy sản lượng giảm dần qua các năm theo diện tích bị giảm dần
Đây là vấn đề mà các nhà hoạch định quản lý và khoa học phải xác
định rõ nguyên nhân làm giảm diện tích và biện pháp thúc đẩy và năng cao
năng suất, đặc biệt là các giống khoai lang chất lượng cao.
Bảng 2.2: Tình hình sản xuất khoai lang ở Việt Nam giai đoạn 2007 - 2011
Năm
Diện
t
íc
h
(ha)
Năng
s
u
ất
(
t
ấn/ha)
Sản
lượ
n
g
(
t
được sự quan tâm - tổ chức sản xuất cần có quản lý một cách thoả đáng.
Bảng 2.3: Diện tích, năng suất, sản lượng khoai lang của các
vùn
g
năm 2010 -
2011
Vùng sản xuất
Năm 2010 Năm 2011
DT
(1.000ha)
NS
(tạ/ha)
SL
(1.000tấn)
DT
(1.000ha)
NS
(tạ/ha)
SL
(1.000
tấn)
Đồng bằng sông
Hồng
27,0 91,48 247,0 26,1 92,56
trí và vai trò nhất định trong sản xuất lương thực, bởi khoai lang có tính thích
ứng rộng, thời gian sinh trưởng ngắn, đòi hỏi mức đầu tư không thật cao cũng
đã đạt được năng suất khá cao. Hạn chế của khoai lang là việc bảo quản khoai
lang củ tươi gặp nhiều khó khăn trong điều kiện nóng ẩm ở nước ta, trong lúc
đó công nghệ sau thu hoạch đối với khoai lang phát triển còn rất chậm, chưa
đáp ứng được yêu cầu của sản xuất, sản phẩm khoai lang chưa trở thành sản
phẩm hàng hoá.
2.3.1.2. Tình hình tiêu thụ khoai lang
Diện tích và sản lượng của khoai lang Việt Nam trong những năm gần
đây có chiều hướng giảm xuống. Nguyên nhân chủ yếu là do: Thiếu thị
trường tiêu thụ, giống lẫn tạp và thoái hóa, đất trồng khoai thường nghèo dinh
17
dưỡng, sự gây hại của sùng và sâu đục dây, đầu tư cho nghiên cứu phát triển
thấp.
Trong vài năm gần đây, công nghệ chế biến các sản phẩm của khoai
lang đã bắt đầu được để ý. Khoai lang được dùng làm lương thực cho người,
thức ăn chăn nuôi và làm nguyên liệu chế biến tinh bột, bánh kẹo, mì, miến,
phụ gia dược phẩm, màng phủ sinh học. Hiện nay một số công ty của Đoài
Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc đang thăm dò khả năng phát triển khoai lang để
sản xuất tinh bột, rượu cồn, công nghệ thực phẩm và màng phủ sinh học
(bioplascic). Đặc biệt, việc một số vùng trồng đã xuất khẩu được khoai lang
tại Việt Nam.
Hiện nay, cây khoai lang là cây có củ được phân bố ruộng rãi ở nước
ta. Ở vùng núi, Trung Du Bắc Bộ, Duyên hải Miền Trung, Châu thổ sông
Hồng, Tây Nguyên vùng Đồng bằng sông Cửu Long khoai lang luôn có mặt
trong nhiều cơ cấu luân canh của nhiều vùng đất.
Thị trường xuất khẩu khoai lang của Việt Nam dự báo thuận lợi và có
lợi thế cạnh tranh cao do có nhu cầu về chế biến khoai lang xuất khẩu các loại
thức ăn gia súc và những sản phẩm tinh bột biến tính. Diện tích khoai lang