TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
KHOA NÔNG LÂM NGƯ NGHIỆP
NGUYỄN CÔNG HOÀNG
BÁO CÁO KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ CẤY
ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT
GIỐNG LÚA THƠM LH3 TRONG VỤ XUÂN 2015
TẠI HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HÓA
Ngành đào tạo: Nông học
Thanh Hóa tháng 05 năm 2015
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HỒNG ĐỨC
KHOA NÔNG LÂM NGƯ NGHIỆP
BÁO CÁO KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ CẤY
ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT
GIỐNG LÚA THƠM LH3 TRONG VỤ XUÂN 2015
TẠI HUYỆN QUẢNG XƯƠNG, TỈNH THANH HÓA
Người thực hiện: Nguyễn Công Hoàng
Lớp:
ĐH Trồng trọt - K14
Khoá:
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
Thanh Hoá, ngày
tháng năm 2015
Giảng viên hướng dẫn
T.S. Nguyễn Bá Thông
4
NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
DANH MỤC ĐỒ THỊ
8
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây lúa (Oryza sativa L.) là một trong những loại cây lương thực chủ yếu
trên thế giới, có vai trò quan trọng ở cả lĩnh vực kinh tế và vấn đề an ninh lương
thực. Lúa được trồng rộng khắp từ 30o vĩ độ Nam đến 40o vĩ độ Bắc. Diện tích
trồng lúa chiếm khoảng 10% diện tích các giống cây trồng trên thế giới chủ yếu
là các nước châu Á (91%). Lúa gạo là một trong những nguồn lương thực quan
trọng cho khoảng 65% dân số trên thế giới và là nguồn cung cấp lương thực chủ
yếu của châu Á. Do đó, các chương trình chọn tạo giống lúa luôn được chú
trọng và phát triển nhằm tăng năng suất và chất lượng lúa, đáp ứng nhu cầu tiêu
thụ trên toàn cầu. Đặc biệt, nhu cầu về các giống lúa có chất lượng cao ngày
càng gia tăng trong những thập kỷ gần đây, do yêu cầu của thị trường và nhu cầu
của người tiêu dùng. Gạo có chất lượng cao được xác định bởi rất nhiều yếu tố
như: Hình dạng hạt, giá trị dinh dưỡng, mùi thơm, chất lượng sau khi chế biến…
Trong đó, mùi thơm được xem là một trong những đặc tính quan trọng. Trong
khi giá gạo của các giống lúa truyền thống suy giảm, các loại lúa gạo đặc sản,
nhất là những loại gạo thơm vẫn giữ được giá cao và ổn định. Đầu năm 2014
gạo không thơm 25% tấm có giá xuất từ 380- 410 USD/tấn, nhưng giá gạo thơm
Jasmine, lúa lai thơm (Trung Quốc) CNR36 là 540- 580 USD/tấn. Do vậy, phát
triển các loại gạo chất lượng vừa giúp mở rộng thị trường nội địa và phục vụ
xuất khẩu vừa tạo cơ hội để nâng cao hiệu quả kinh tế cho người nông dân và
mang ngoại tệ về cho đất nước.
Sản xuất lúa gạo trong những năm vừa qua ở Việt Nam đã có những đóng
- Ảnh hưởng của mật độ cấy đến khả năng chống chịu một số loại sâu,
bệnh hại chính và khả năng chống đổ trên giống lúa thuần có mùi thơm.
- Đánh giá ảnh hưởng của mật độ đến các yếu tố cấu thành năng suất và
năng suất giống lúa thuần có mùi thơm.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Góp phần khẳng định và làm rõ trên lý luận về mật độ cấy hợp lý cho
một số giống lúa thuần có mùi thơm.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Để nâng cao năng suất của một số giống lúa trên thì việc xác định mật
độ cấy là thực sự cần thiết nhằm hoàn thiện quy trình và kỹ thuật canh tác giống
lúa này.
- Cung cấp thêm thông tin cho cán bộ khuyến nông, nông dân về việc bố
trí mật độ thích hợp cho giống lúa LH3 đạt năng suất cao, chất lượng tốt. Đảm
bảo cho việc sản xuất lúa được bền vững.
10
Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ
KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Tình hình nghiên cứu và phát triển của cây lúa
Lúa là cây lương thực quan trọng và giống là yếu tố tiền đề cho các biện
pháp kỹ thuật tăng năng suất, do đó từ trước tới nay có rất nhiều công trình
nghiên cứu về giống, chiếm số lượng lớn trong các công trình khoa học đã công
bố về lúa. Các nhà khoa học nông nghiệp nói chung và các nhà khoa học Việt
Nam nói riêng đang đi sâu nghiên cứu những đặc trưng đặc tính của cây lúa,
nhằm chọn tạo ra được những giống lúa tốt trên từng vùng sinh thái cũng như
trong từng điều kiện canh tác kỹ thuật thâm canh để đem lại hiệu quả cao nhất.
Tuy nhiên một giống lúa tốt chỉ có thể phát huy được tối đa đặc trưng đặc tính
156,0
159,3
161, 4
153,6
164,6
Năng suất
(tạ/ha)
42,1
43,1
42,0
43,7
43,8
Sản lượng
(triệu tấn)
656,8
685,9
678,7
672,0
721,0
Nguồn: Hiệp hội lương thực Việt Nam (VFA)
Đến năm 2011 (FAO, 2011) [13], tổng diện tích trồng lúa trên toàn thế
giới là 164,6 triệu ha, năng suất trung bình đạt 4,38 tấn/ha và tổng sản lượng lúa
là 721,0 triệu tấn. Nước có năng suất cao nhất là Nhật Bản với 6,511tấn/ha, sau
11
29,201
43,810
11,786
10,579
10,165
7,440
8,140
4,160
2,970
1,688
62,763
31,945
46,201
38,541
29,160
52,300
37,592
36,843
38,789
63,359
Năm 2010
Sản lượng
(triệu tấn)
183,276
139,955
54,455
Sản
lượng
(triệu
60,223
tấn)
187,39
33,029
7
144,57
47,052
41,120
30,086
53,200
39,768
39,768
38,007
65,110
0
57,157
43,057
32,099
29,988
32,610
như vậy là do trình độ kỹ thuật lạc hậu, sản xuất chủ yếu phụ thuộc vào thiên
nhiên. Từ những năm 60 của thế kỷ XX trở lại đây, do dân số ngày càng tăng
dẫn tới nhu cầu lương thực ngày càng lớn trong khi diện tích đất nông nghiệp có
phần bị thu hẹp. Vì vậy việc cung cấp đủ lương thực cho dân số ngày một tăng
thực sự là một thách thức lớn.
Nhờ chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước cùng với sự phát triển
của khoa học kỹ thuật như việc sử dụng các giống lúa mới năng suất cao, thay
đổi cơ cấu mùa vụ, cải tạo đất, xây dựng hệ thống thuỷ lợi… dẫn tới năng suất
lúa tăng đáng kể trong những năm gần đây. Ngày nay, cây lúa là một trong
những cây trồng quan trọng hàng đầu trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta, nó
không chỉ cung cấp lương thực cho người dân mà còn là cây trồng có giá trị xuất
khẩu đem lại nguồn doanh thu đáng kể cho nền kinh tế quốc dân.
13
Bảng 1.3. Tình hình sản xuất và xuất khẩu lúa gạo của Việt Nam
trong những năm gần đây
Diện tích
Năm
(triệu ha)
Năng
suất
Sản lượng
(triệu tấn)
Lượng xuất
48,9
35,82
4,75
1.306
2007
7,20
49,8
35,87
4,50
1.454
2008
7,40
52,2
38,63
4,72
2.902
2009
7,44
52,3
38,90
6,10
2.664
2010
7,51
53,2
39,98
6,80
2.912
2011
7,69
đạt 51,6 tạ/ha tăng 3,6 tạ/ha (+7,0%) so với năm trước, mặc dù năm nay lũ về
sớm đã gây ảnh hưởng đối với sản xuất lúa Thu Đông phần diện tích chưa có bờ
bao bảo vệ, nhưng mức độ thiệt hại nhỏ.
Lúa Mùa: Diện tích gieo trồng lúa Mùa đạt 1.969,4 nghìn ha, tăng 1,9
nghìn ha so với năm 2010, các tỉnh miền bắc diện tích giảm nhẹ do thu hoạch
lúa Xuân muộn. Năng suất bình quân cả nước đạt 46,7 tạ/ha tăng 0,5 tạ/ha, sản
lượng lúa Mùa cả nước đạt 9,2 triệu tấn tăng 102,4 nghìn tấn (+1,1%) so với vụ
trước trong đó đáng kể nhất là Miền Nam với sản lượng đạt 3,4 triệu tấn, tăng 53
nghìn tấn (+1,0%).
Sản lượng lúa năm 2011 cả 3 vụ đạt 42,3 triệu tấn, tăng 2,3 triệu tấn.
Xuất khẩu gạo năm 2011 là: 7,2 triệu tấn thu về 3,7 tỷ USD so với cùng
kỳ năm trước tăng 4,4% về lượng và 14% về giá trị.
Như vậy, triển vọng và cơ hội của ngành sản xuất lúa gạo Việt Nam còn
rất lớn, tuy nhiên để nâng cao giá trị hạt gạo Việt Nam trên thị trường Quốc tế
trong giai đoạn hội nhập hiện nay ngành nông nghiệp còn rất nhiều vấn đề phải
quan tâm, nhất là chất lượng hạt gạo, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người
tiêu dùng trong và ngoài nước.
1.1.3. Tình hình nghiên cứu và sản xuất lúa ở tỉnh Thanh Hóa
Hiện nay, Việt Nam nói chung, Thanh Hóa nói riêng đã du nhập rất nhiều
giống lúa từ các nước, các Viện nghiên cứu quốc tế và Việt Nam. Tập đoàn các
giống lúa đã được làm thuần và công nhận sản xuất đại trà, tạo thế cho sản xuất
lương thực tăng nhanh và ổn định. Đó là các giống lúa lai: Nhị ưu 63, Nhị ưu
838, D.ưu 527... và các giống lúa thuần: LT3....
Trên cơ sở đó, quy luật tất yếu trong sản xuất nông nghiệp đối với tất cả
các loại cây trồng và nhất là với ngành sản xuất lúa để ổn định và sản xuất phát
triển là phải du nhập, tiếp cận các giống lúa tiến bộ kỹ thuật để làm thuần trong
điều kiện sản xuất của khu vực.
Bảng 1.4. Tình hình sản xuất lúa ở Thanh Hóa trong những năm gần đây
Năm
257,662
257,187
256,552
254,491
252,037
254,291
254,288
254,402
258,137
255,093
257,171
256,767
42,6
1,095
46,2
1,190
48,7
1,252
49,6
1,272
52,1
1,326
49,1
1,237
55,0
1,398
52,7
1,340
55,2
vùng giống ổn định 1.500 ha/năm, đã sản xuất được 10.000 tấn giống xác nhận
và nguyên chủng, đủ cung cấp cho 127 - 130 nghìn ha gieo trồng/năm. Hiện nay,
vị thế của cây lúa ở Thanh Hóa không những giữ vai trò số một trong an toàn an
16
ninh lương thực mà còn hướng tới góp phần quan trọng vào mục tiêu hàng hoá,
xuất khẩu của tỉnh và cụm các tỉnh phía Bắc của nước ta.
Cơ cấu giống lúa trong tỉnh đã được điều chỉnh hợp lý. Vụ Chiêm Xuân
giảm các giống dài ngày, chịu rét kém như IR17494 (13/2), giảm các giống ngắn
ngày dễ nhiễm bệnh đạo ôn, năng suất thấp như CR203, tập đoàn giống Ải. Vụ
Mùa loại bỏ dần các giống dài ngày, giống địa phương thoái hoá năng suất thấp
(dưới 35 tạ/ha) như Bao Thai, Mộc Tuyền... Đồng thời tăng nhanh diện tích gieo
cấy các giống lúa ngắn ngày, giống nhập nội đã qua tuyển chọn hoặc chọn tạo
trong nước như lúa thuần Khang Dân 18, lúa nguyên chủng X23, C70, C71 để
thu hoạch trước 5/10 tạo quỹ đất mở rộng vụ đông kế tiếp.
Năm 2000-2008 diện tích trồng lúa của Thanh Hóa ngày càng giảm là do
sự phát triển công nghiệp và qúa trình đô thị hoá xảy ra mạnh mẽ. Mặt khác một
phần đất xấu sản xuất lúa không còn hiệu quả đã chuyển đổi sang sản xuất cây
trồng khác cũng là nguyên nhân dẫn đến diện tích đất trồng lúa giảm.
Về năng suất: Sự phát triển khoa học kỹ thuật nói chung và khoa học
trong nông nghiệp nói riêng đã tạo ra nhiều giống lúa mới có năng suất cao, và
được sự quan tâm của các ban nghành trong tỉnh luôn chú trọng vào sản xuất
nông nghiệp cho bà con nông dân nên năng suất lúa luôn tăng trong những năm
gần đây (từ 42,6 đến 55,2 tạ/ha trong khoảng từ năm 2000-2008).
Về sản lượng: Mặc dù diện tích giảm nhưng sản lượng lại có xu hướng
tăng trong những năm gần đây, sản lượng cao nhất là 1,482 triệu tấn ( 2012),
thấp nhất là 1,095 triệu tấn (2000). Từ năm 2000 trở lại đây sản lượng luôn tăng,
mức tăng sản lượng cao nhất vào năm 2012 là 1,426 triệu tấn.
Qua các dẫn liệu nêu trên cho thấy cây lúa thực sự là cây trồng được quan
5-8 tấn/ha/vụ.
Giai đoạn tăng trưởng bắt đầu từ khi hạt nảy mầm đến khi cây lúa bắt đầu
phân hoá đòng. Giai đoạn này cây phát triển về thân lá, chiều cao tăng dần và ra
nhiều nhánh mới. Cây ra lá ngày càng nhiều, kích thước lá ngày càng tăng giúp
cây lúa nhận nhiều ánh sáng mặt trời để quang hợp, hấp thụ dinh dưỡng, gia
tăng chiều cao, nở bụi và chuẩn bị các giai đoạn sau. Trong điều kiện đầy đủ
dinh dưỡng, ánh sáng thuận lợi, cây lúa bắt đầu nở bụi khi có lá thứ 5-6. Nhánh
ra sớm trong ruộng mạ gọi là nhánh ngạnh trê. Thời điểm có nhánh tối đa có thể
đạt được trước, cùng lúc hay sau thời kỳ bắt đầu phân hoá đòng tuỳ theo giống
lúa. Thời gian sinh trưởng của các giống lúa kéo dài hay ngắn khác nhau chủ
yếu phụ thuộc vào giai đoạn tăng trưởng.
Giai đoạn sinh sản bắt đầu từ phân hoá đòng đến lúa trổ bông. Giai đoạn
này kéo dài từ 27-35 ngày, trung bình 30 ngày và giống lúa dài ngày hay ngắn
ngày thường không khác nhau nhiều. Lúc này, số nhánh vô hiệu giảm nhanh,
chiều cao tăng lên rõ rệt do sự vươn dài của 5 lóng trên cùng. Đòng lúa hình
thành và phát triển quan nhiều giai đoạn, cuối cùng thoát ra khỏi bẹ của lá đòng
18
(lúa trổ bông). Trong giai đoạn này, nếu đầy đủ dinh dưỡng, mực nước thích
hợp, ánh sáng nhiều, không sâu bệnh và thời tiết thuận lợi thì bông lúa sẽ hình
thành nhiều hạt và vỏ trấu sẽ đạt được kích thước lớn nhất của giống, tạo điều
kiện gia tăng khối lượng hạt sau này.
Giai đoạn chín bắt đầu từ lúc lúa trỗ bông đến lúc thu hoạch. Giai đoạn
này trung bình khoảng 30 ngày đối với hầu hết các giống lúa ở vùng nhiệt đới.
Tuy nhiên, nếu đất ruộng có nhiều nước, thiếu lân, thừa đạm, trời mưa ẩm, ít
nắng trong thời gian này thì giai đoạn chín sẽ kéo dài hơn và ngược lại. Giai
đoạn này cây lúa trải qua các thời kỳ sau:
- Thời kỳ chín sữa: các chất dự trữ trong thân lá sản phẩm quang hợp
+ Phải có diện tích lá lớn hơn trước trổ để tạo nên một sức chứa lớn.
+ Hiệu suất quang hợp sau trổ cao có thể tạo ra được bông lúa được tích
luỹ nguồn chất dinh dưỡng lớn.
Thời gian hoạt động của lá dài hay ngắn có quan hệ rất lớn đến việc tích
luỹ dinh dưỡng cho cây và bông hạt. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Lẫm
(1999) [7] cho rằng lá đòng và 2 lá giáp lá đòng có thời gian hoạt động dài nhất
45 - 50 ngày tuỳ theo giống, các lá xuất hiện trước có thời gian hoạt động ngắn
dần. Lá thứ nhất có thời gian hoạt động 7 ngày, lá thứ 2 là 12 ngày.
- Nghiên cứu về hình dạng của bộ lá và ảnh hưởng đến sự sắp xếp của bộ
lá trên cây S. Yosida (1979) [8] đã nhận xét không thể tạo được dạng sắp xếp lá
ngọn tốt nếu không có lá dày và khả năng hoặc nghiêng hẳn khả năng quang hợp
cũng như tích luỹ chất khô giữa các giống khác nhau thì khác nhau thậm chí ở
từng thời kỳ sinh trưởng khác nhau cũng mang những chức năng khác nhau.
Theo tác giả từ lá thứ 8 trở lên đến lá đòng sẽ tích luỹ dinh dưỡng về bông
và hạt từ lá thứ 8 trở xuống. Tích luỹ dinh dưỡng cho rễ số lá còn lại trên cây
sau khi trỗ giữa vai trò rất quan trọng nhất là lá đòng. Lá đòng cùng với lá sát lá
đòng cung cấp 2/3 chất dinh dưỡng cho bông.
Bộ lá có quan hệ chặt chẽ với năng suất, muốn đạt năng suất cao thì hiệu
suất quang hợp phải cao. Đã có nhiều ý kiến cho rằng "bộ lá có mầu xanh đậm,
dày, thẳng, diện tích lá vừa phải từ 3,8 - 4,2 là lý tưởng nhất". Tuổi thọ của bộ lá
sau trỗ có liên quan chặt chẽ đến quá trình tích lũy chất khô về bông hạt. Lượng
sản phẩm gluxit được tích lũy trong bông hạt 2/3 là do quang hợp sau trỗ quyết
định, vì vậy giữ cho bộ lá xanh bền sau trỗ có ý nghĩa quan trọng trong việc
nâng cao năng suất lúa.
1.3.2. Khả năng đẻ nhánh của cây lúa
- Nghiên cứu về nhánh và quá trình đẻ nhánh: Bùi Huy Đáp kết luận các
giống khác nhau có thời gian sinh trưởng khác nhau thì thời gian đẻ nhánh cũng
khác nhau. Theo tác giả ở những giống có thời gian sinh trưởng trung bình và
dài thường có số nhánh tối đa nhiều hơn nên số nhánh hữu hiệu cũng nhiều hơn.
Tỷ lệ nhánh hữu hiệu cao hay thấp phụ thuộc vào đặc tính đẻ nhánh. Những
nhánh sơ cấp, dó đó người ta có khuynh hướng tạo ra giống lúa có nhánh sơ cấp
nhiều hơn
Các nhà khoa học trên thế giới cũng chú trọng nghiên cứu các biện pháp
nâng cao phẩm chất thóc gạo, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị
trường, trong đó dặc biệt chú ý đến chất lượng nấu nướng, hương thơm thông
qua việc xác định các gen thơm từ các giống lúa đặc sản, lai tạo để có những
giống lúa năng suất cao hơn hẳn các giống lúa địa phương, phẩm chất tốt.
1.4.2. Nghiên cứu các biện pháp tăng năng suất lúa
Trong sản xuất thâm canh cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng để
đem lại hiệu quả kinh tế cao. Người sản xuất phải có những kiến thức cơ bản về
kỹ thuật và có điều kiện để đầu tư thâm canh hợp lý với thực tế, giảm tối đa
những thất thiệt do thiên tai gây nên và bảo vệ môi trường sản xuất. Về cơ bản
được xác định các biện pháp kỹ thuật trong thâm canh lúa như sau:
Trước hết là biện pháp về bố trí thời vụ và cơ cấu giống lúa: Dựa vào điều
22
kiện địa hình đất đai, thuỷ lợi, khí hậu từng vùng miền mà bố trí các giống lúa
và thời vụ gieo cấy hợp lý để lúa trỗ trong khung thời vụ tương đối an toàn. Vừa
né tránh các điều kiện bất thuận của thời tiết, sâu bệnh dịch hại cả 2 vụ/năm mà
vẫn đảm bảo đạt năng suất, sản lượng cao.
Trong điều kiện của Thanh Hóa, vụ Xuân gieo cấy trên dưới 118.000 ha
lúa, trong đó chân ruộng sâu trũng chưa chủ động tưới tiêu khoảng 25.00028.000 ha và gần 80.000 ha thuộc chân đất chủ động tưới tiêu và một phần đất
này sản xuất tăng vụ ở vụ đông. Còn lại là đất vàn, vàn cao khâu tưới tiêu còn
hạn chế. Do đó, cơ cấu mùa vụ sản xuất được bố trí ở 2 trà chủ yếu:
- Trà Xuân chính vụ đất chuyên canh 2 vụ lúa/năm được bố trí các giống
lúa dài ngày như X21, Xi23, NX30 (thời gian sinh trưởng 165±5) và sắp xếp
thời vụ gieo mạ để lúa trỗ vào hạ tuần tháng 4(20-25/4).
- Trà Xuân muộn: được bố trí gieo cấy bằng các giống lúa ngắn ngày có
cho mạ bằng biện pháp che phủ nilon. Ở vụ Mùa phải chú trọng phòng chống
úng và hạn cho mạ.
Hiện nay, nhiều địa phương đã và đang áp dụng phương thức gieo thẳng
bằng công cụ giàn sạ kéo tay thì không phải đầu tư công của làm mạ và lại giảm
chi phí về giống với lượng khá lớn (50% lượng giống lúa thuần và 15-20%
lượng giống lúa lai).
Về biện pháp kỹ thuật thâm canh trên ruộng lúa cần áp dụng các khâu kỹ
thuật cụ thể là:
Đối với khâu làm đất: Khâu làm đất xử lí đất càng tốt thì hiệu quả sản
xuất đem lại càng lớn hơn. Vụ Xuân cần triệt để áp dụng biện pháp làm ải, hay
làm dầm nhưng đảm bảo ải kỹ. Ở vụ mùa do tính thời vụ nên phải giữ nước trên
ruộng và khẩn trương làm đất ngay. Diện tích đất bị chua thì bón vôi khi làm đất
ngay đầu vụ. Đất lúa cày bừa càng kỹ nhuyễn, sạch cỏ dại càng tốt. Ruộng khi
cấy phải đảm bảo bằng đều mặt ruộng và giữ mực nước nông 5-7 cm.
Về đầu tư phân bón và cách bón: Bón phân đầy đủ, cân đối và hợp lý đáp
ứng theo từng thời kỳ sinh trưởng phát triển của cây lúa sẽ phát huy hết tiềm lực
của cây lúa, phân bón và đem lại hiệu quả cao hơn.
Bón phân cho lúa được phân định cụ thể là:
Bón lót ở thời điểm trước khi bừa san phẳng ruộng gồm: Phân chuồng mục
với lượng từ 10- 15 tấn/ha. Phân vô cơ bón lót 100% phân lân, 20-30% kali và 3040% lượng đạm urê. Hoặc có thể bón phân hỗn hợp NPK với lượng tương xứng tỉ lệ
N-P-K nguyên chất theo định mức trên.
Bón thúc đợt 1: Tạo điều kiện, khả năng để cho lúa phát triển nhanh, đẻ
nhánh nhanh gọn và tập trung trong thời gian hữu hiệu nhất. Thời điểm bón là
khi lúa hồi xanh ra lá mới dù là ở vụ Xuân hay vụ Mùa. Yêu cầu chủ đạo là bón
với lượng phân đạm lớn nhất, khoảng 80-90% lượng đạm urê còn lại và phải gắn
với sục bùn toàn bộ diện tích ruộng lúa.
24
cỏ. Khi lúa hồi xanh ra lá mới thì tiến hành bón phân thúc dược cho lúa đẻ
nhánh. Bón với lượng đạm urê cần bón và gắn với sục bùn tạo độ thoáng cho
đất, lưu giữ phân, tăng lượng ôxy trong đất để lúa đủ điều kiện phát triển nhanh
và tập trung hơn.
25