Nghiên cứu ảnh hưởng của một số tổ hợp phân bón đến sinh trưởng, phát triển và năng suất giống đậu tương DT2008 trong vụ Đông năm 2013 tại Trường Đại Học Nông Lâm thái Nguyên. - Pdf 29

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HOÀNG VĂN HÒA Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ TỔNG HỢP
PHÂN BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN VÀ NĂNG SUẤT
GIỐNG ĐẬU TƯƠNG DT 2008 TRONG VỤ ĐÔNG NĂM 2013 TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính qui
Chuyên ngành : Trồng trọt
Khoa : Nông học
Khoá : 2010 - 2014
Giáo viên hướng dẫn : TS. Lưu Thị Xuyến

Thái Nguyên, năm 2014

1

Phần 1
MỞ ĐẦU


trơn trong ngành hàng không (Phạm Văn Thiều, 2006) [11].
Trong y học, đậu tương được dùng làm vị thuốc chữa bệnh giúp tránh
hiện tượng suy dinh dưỡng ở trẻ em, người già và có tác dụng hạn chế bệnh
loãng xương ở phụ nữ, bệnh đái tháo đường, thấp khớp, đặc biệt rất tốt cho
tim mạch (Cây đậu tương khỏe - 24 thông tin hoạt chất) [13].
Đặc biệt đậu tương đen có tác dụng rất tốt cho người bị bệnh đái tháo
đường, thấp khớp, suy nhược thần kinh và suy dinh dưỡng (Ngô Thế Dân
và cs, 1999) [2].
Nước ta định hướng sắp tới cho sản xuất nông nghiệp là không thiên
về tăng diện tích trồng trọt mà thiên về xu hướng tăng năng suất cây trồng
trên đơn vị diện tích để tăng sản lượng.
Ngoài những giá trị to lớn mà cây đậu tương mang lại cho con người
nó còn có ý nghĩa quan trọng trong việc cải tạo đất (Ngô Thế Dân và cs,
1999) [2] vì rễ nó có chứa vi khuẩn sản sinh ra đạm sinh học cung cấp cho
cây. Mỗi nốt sần được coi là một “nhà máy phân đạm tí hon”, bởi những vi
khuẩn trong nốt sần hoạt động rất cần mẫn tổng hợp đạm khí trời, làm giàu
đạm cho đất, không gây ô nhiễm môi trường và nó làm cho không khí trong
lành hơn.
Trong những năm gần đây nước ta đã chọn tạo được nhiều giống đậu
tương mới có năng suất cao, phẩm chất tốt và khả năng thích ứng rộng như,
ĐT19, ĐT22, DT2008… Trong đó giống DT2008 là 1 trong những giống
sinh trưởng, phát triển tốt nhất. Ở thái nguyên để giống bộc lộ hết tiềm
năng cần phaie nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật chi giống. Trong đó có
biện pháp sử dụng phân bón.Vấn đề đặt ra là dùng phân bón như thế nào?
Liều lượng bao nhiêu? Giải quyết cân đối các nguyên tố dinh dưỡng ra sao
để vừa đảm bảo tăng năng suất chất lượng mà vẫn đảm bảo hiệu quả kinh

3

tế

4

- Là cơ sở khoa học xác định phân bón cho cây đậu tương để đưa tiến
bộ khoa học kỹ thuật vào sản suất.
1.4.2. Ý nghĩa trong sản xuất
Qua kết quả của việc nghiên cứu sẽ xác định tổ hợp phân bón thích
hợp nhất cho giống đậu tương DT2008 từ đó khuyến cáo cho người nông
dân sản xuất nhằm đạt được năng suất và hiệu quả kinh tế cao.
5

Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn của việc nghiên cứu
2.1.1. Cơ sở khoa học của việc nghiên cứu
Phát triển cây đậu tương một mặt tạo ra sự đa dạng trong sản xuất
nông nghiệp, mặt khác nếu phát triển có định hướng loại cây trồng này
không những giải quyết được lợi ích trước mắt mà về lâu dài đây là loại cây
trồng mang lại nhiều giá trị. Muốn vậy ngoài những chính sách về vốn,
giống, phân bón, giá cả, thì chúng ta cần có những biện pháp kỹ thuật canh
tác phù hợp cho sản xuất.
Phân bón có vai trò hết sức quan trọng trong việc nâng cao năng suất
và sản lượng cây trồng nói chung và cây đậu tương nói riêng. Nhu cầu về
phân bón của các giống đậu tương khác nhau rất khác nhau. Việc bón phân

nước trên thế giới.
Hiện nay có khoảng 78 nước trồng đậu tương, châu Á tuy là nơi
nguyên sản của cây đậu tương tuy nhiên nó lại được trồng tập trung ở Châu
Mỹ (70,03%), tiếp đó là Châu Á (23,5%), còn lại ở các châu lục khác. Cây
đậu tương đã trở thành cây trồng quan trọng thứ 4 sau lúa mì, lúa nước và
ngô. Cây đậu tương có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế, bởi giá trị
kinh tế, dinh dưỡng và giá trị cải tạo đất. Từ giá trị đó mà cây đậu tương
được nhiều nước trên thế giới quan tâm, đầu tư sản xuất. Tình hình sản xuất
đậu tương trên thế giới những năm gần đây được thể hiện qua bảng 2.1. 7

Bảng 2.1: Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới
trong những năm gần đây

Chỉ tiêu
Năm
Diện tích
(triệu ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(triệu tấn)
2005 92,5 23,1 214,5
2006 95,3 23,2 221,9
2007 90,1 24,3 219,7
2008 96,4 23,9 231,2
2009 99,3 22,4 223,4
2010 102,6 25,8 265,2

chuyên gia ở các ngành khác nhau thuộc công ty Elanco và hiệp hội đậu
tương Mỹ cho thấy rằng khoảng hơn 20 năm nữa trung bình hàng năm nhu
cầu về sản lương đậu tương tăng 4%/năm. Trong tương lai với sự trợ giúp
của công nghệ sinh học, di truyền phân tử, nghiên cứu về cây trồng nói
chung và cây đậu tương nói riêng sẽ thu được nhiều kết quả tốt. Công nghệ
sinh học là một trong nhưng yếu tố quan trọng để cải tiến chất lượng hạt
đậu tương và khả năng chống chịu của cây.
Trên thế giới có rất nhiều quốc gia trồng đậu tương tuy nhiên sản
xuất đậu tương tập trung chủ yếu ở 4 nước: Mỹ, Brazil, Achentina và
Trung Quốc (Phạm Văn Thiều, 2006) [11]. Sản lượng đậu tương của 4
nước này chiếm 90 -95% sản lượng đậu tương của toàn thế giới.
2.2.2. Tình hình sản xuất đậu tương ở Việt
Nam
Việt Nam là nước nông nghiệp có lịch sử trồng đậu tương lâu đời. Hiện
nay cây đậu tương ở Việt Nam chiếm một vị trí rất quan trọng trong nền nông
nghiệp. Đặc biệt ở những vùng nông thôn nghèo, kinh tế chưa phát triển.
Ngoài ra, cây đậu tương còn là nguồn cung cấp thức ăn cho chăn nuôi, cung
cấp nguyên liệu cho chế biến và xuất khẩu. Có thể nói cây đậu tương ở Việt

9

Nam đã và đang phát triển không ngừng và ngày càng có vị trí quan trọng
trong nền kinh tế quốc dân. Cây đậu tương thích ứng với nhiều vùng sinh thái
nông nghiệp khác nhau, là cây có hiệu quả kinh tế cao trên đất bạc màu và
khô hạn. Cây đậu tương đã góp phần vào chuyển dịch cơ cấu cây trồng trong
nông nghiệp, tạo thêm công ăn việc làm, sử dụng hợp lý đất đai, lao động, tiền
vốn. Trong vòng 10 năm trở lại đây, cây đậu tương đã phát triển khá nhanh cả
về diện tích và sản lượng, nhưng sản xuất đậu tương ở nước ta chưa được đầu
tư cao, năng suất còn thấp hơn nhiều so với thế giới. Khi đánh giá về tốc độ
phát triển sản xuất đậu tương thì Việt Nam cũng là nước có tốc độ phát triển

2011 181,390 14,694 266,538
2012 120,751 14,517

175,295

(Nguồn: FAOSTAT / FAO ,2014) [15]

Qua bảng số liệu trên ta thấy:
-Diện tích: Diện tích đậu tương giảm dần qua các năm từ năm 2005-
2012. Diện tích giảm từ 204100 ha (năm 2005) giảm còn 120750 ha (năm
2012). Trong vòng 8 năm diện tích đậu tương của nước ta giảm 83350 ha,
tương đương 40,84,%, năm 2005 diện tích đậu tương đạt lớn nhất (204100
ha). Trong vòng 8 năm diện tích trồng đậu tương luôn có sự biến động, tăng
giảm không ổn định. Giai đoạn năm 2005- 2006, diện tích đậu tương giảm từ
204100 ha (năm 2005) xuống 187560 ha (năm 2006), nhưng sau đó diện tích
lại tiếp tục tăng lên 187400 ha (năm 2007) và 192100 ha (năm 2008). Đến
năm 2009 diện tích đậu tương lại tiếp tục giảm xuống còn 147000 ha. Nhưng
đến năm 2011 diện tích đậu tương lại tăng mạnh so với năm 2009 lên đến

11
197800 ha. Trong vòng 3 năm từ năm 2010-2012 diện tích đậu tương liên tục
giảm mạnh, từ năm 2010 đến năm 2012 diện tích đậu tương giảm 770500 ha,
năm 2009 diện tích đậu tương thấp nhất (147,000 ha) . Sở dĩ trong những năm
gần đây diện tích trồng đậu tương giảm nhanh là do sức ép của dân số và
nhu cầu sử dụng đất cho công nghiệp ngày càng tăng.
- Năng suất: Năng suất đậu tương nước ta vẫn còn ở mức thấp, so với
bình quân thế giới, thấp hơn 7,79 tạ/ha. Năng suất đậu tương cao nhất năm
2010 là 15,096 tạ/ha, thấp nhất năm 2006 đạt 13,906 tạ/ha. Như vậy, mức
tăng năng suất hàng năm không đáng kể.
- Sản lượng: Cùng với diện tích trồng đậu tương luôn có sự biến

trồng và làm giàu trên mảnh đất của mình. Thái Nguyên có nhiều điều kiện
thuận lợi về vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng, đất đai khí hậu cho việc phát triển
cây đậu tương hàng hoá lớn nhưng diện tích sản xuất đậu tương trên địa
bàn tỉnh còn manh mún. Là tỉnh Trung du miền núi phía Bắc với tổng diện
tích đất tự nhiên là 650.288 ha. Trong đó đất nông nghiệp chiếm 13% tổng
diện tích đất tự nhiên. Trong cơ cấu cây trồng của tỉnh thì diện tích trồng
cây đậu tương chiếm rất nhỏ khoảng 2,3%.Tình hình sản xuất đậu tương
của tỉnh Thái Nuyên trong những năm gần đây được thể hiện qua bảng 2.7.

13
Bảng 2.7: Tình hình sản xuất đậu tương của Thái Nguyên trong những
năm gần đây
Chỉ tiêu

Năm
Diện tích
(nghìn ha)
Năng suất
(tạ/ha)
Sản lượng
(nghìn tấn)
2003 3,7 11,31 4,18
2004 3,6 12,08 4,32
2005 3,4 12,74 4,32
2006 2,9 12,30 3,55
2007 3,3 13,22 3,06
2008 2,0 14,03 2,80
2009 1,9 13,3 2,50
2010 1,6 14,38 2,30
2011 1,6 14,4 2,30

đối với sự hình thành và phát triển của nốt sần ở đậu tương. Nốt sần hình
thành tối đa ở mức P bón 400 – 500 mg/kg và K ở lượng 600 – 800 mg/kg
(Ngô Thế Dân và cộng sự, 1999) [2].
Năm 1969 Thompson và Robertson nhận thấy phản ứng của đậu
tương với phân dư thừa là 1 đường cong dạng phương trình bậc 2. Năng
suất cao nhất nếu năm trước bón 1100 kg/ha phân ở tỷ lệ 15: 44: 12, không
tăng nếu bón 220 kg/ha và giảm nếu bón 1400 kg/ha. Fink và cộng sự
(1974) tuyên bố năng suất đậu tương tăng nếu năm trước bón 336 kgN/ha
và 155 kgP/ha. Boswell và Anderson (1976) cho thấy phản ứng của năng
suất đối với lượng P và K dư thừa của năm trước ổn định hơn là phản ứng
đối với P và K bón trong năm đó (Ngô Thế Dân và cộng sự, 1999) [2].
Henderson và Kampratha (1970) với các giống đậu tương sinh trưởng
hữu hạn cho thấy tỷ lệ hấp thu các chất khoáng N, P, K, Ca và Mg tăng dần
qua các giai đoạn hình thành hạt. Tỷ lệ hấp thu tối đa tương ứng của chúng

15
là: 7,7: 0,41: 0,46: 2,4 và 0,77 kg/ha. Năm 1971 với nghiên cứu sự hấp phụ
NPK ở các giống đậu tương với tập tính sinh trưởng vô hạn, Hanway và
Weber cho thấy kiểu hấp phụ N, P và K ở trong cây giống nhau và sự tích lũy
tối đa của nó ở giai đoạn chín sinh lý (Ngô Thế Dân và cộng sự, 1999) [2].
Nhiều nghiên cứu cho thấy bón đạm trước khi gieo có ảnh hưởng xấu
đến quá trình cố định đạm. Năm 1971 Beard và Hoover cho thấy nốt sần
trên cây đậu có tỷ lệ nghịch với tỷ lệ phân đạm ở lúc gieo, nếu phân đạm
bón 56 kg/ha, số nốt sần trên cây bị giảm, nhưng nếu bón 112 kg/ha ở giai
đoạn ra hoa, số nốt sần không bị ảnh hưởng (Ngô Thế Dân và cs, 1999) [2].
Do vậy cùng với việc lai tạo, chọn lọc và sử dụng biện pháp sinh học
để tạo ra những giống mới có tiềm năng cho năng suất cao thích hợp với
từng vùng sinh thái đồng thời nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật phù hợp
cho từng giống, từng mùa vụ để cây đậu tương đạt năng suất cao nhất.
Tóm lại để cây đậu tương sinh trưởng và phát triển tốt chúng ta

Cây đậu tương thường hút lân từ lân từ phân bón và hút đến tận cuối
vụ. Tuy nhiên việc tăng lân tổng số hấp thu có thể bị giới hạn do lân trong
phân được thay thế bằng lân trong đất. Bón lân còn tăng khả năng hình
thành nốt sần của đậu tương. Bón nhiều lân nâng cao số lượng và khối
lượng nốt sần. Hiệu lực này tùy thuộc vào giống, điều kiện thời tiết và giai
đoạn phát triển của đậu tương.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Dần (1996) [3] Cho biết trên đất bạc màu
Hà Bắc bón lân cho lạc và đậu tương đem lại hiệu quả kinh tế cao. Lân làm
tăng hoạt động cố định đạm của vi khuẩn nốt sần. Tùy theo năng suất đậu
tương cao hay thấp và thành phần cơ giới có sẵn trong đất để xác định mức
bón phân cho hợp lý.
Nghiên cứu của Nguyễn Tử Xiêm và Thái Phiên (1998) [12] cho biết
hiệu quả của việc sử dụng các loại phân N, P, K cho cây trồng trên đât đồi
chua được xác định là P cho hiệu quả.

17
N, P, K cho cây trồng trên đất đồi chua được xác định là lân cho hiệu
quả cao nhất, sau đó đến đạm và thấp nhất là kali. Tác giả cũng cho rằng
lân là một trong những yếu tố hạn chế lớn nhất đến năng suất của tất cả các
cây trồng cạn như sắn, lạc, đậu tương, lúa cạn.
Kali đóng vai trò sống còn trong sự quang hợp tạo nên đường và chất
hữu cơ cho cây. Tính di động cao của kali cho phép nó di chuyển nhanh từ
tế bào này sang tế bào khác, hoặc từ mô thực vật già hơn tới mô mới còn
đang phất triển và các cơ quan dự trữ. Không đủ kali cho nhu cầu của cây
làm giảm sự tăng trưởng, năng suất, cây dễ nhiễm sâu bệnh.
Bộ rễ của cây đậu tương có khả năng hút kali khá đủ cho nó từ các
khoáng chất chứa kali trong đất. Khi kali trao đổi giảm đi và nồng độ kali
trong đất xuống thấp, thì kali lại được hòa tan từ dự trữ ít hòa tan trong đất.
Kali tới rễ đậu tương bằng con đường khuyếch tán trao đổi từ các phân tử
đất di vào dung dịch đất (Oliver. S.andS. A Barler (1966).

3.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm
+ Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh
(Randomized Complete BlockDesign - RCBD) với 5 công thức và 3 lần
nhắc lại.
+Cách bố trí:
- Diện tích 1 ô thí nghiệm: 1,4m x 5m = 7m
2
(rãnh giữa các ô và nhắc
lại là 30 cm)
- Tổng diện tích thí nghiệm là: 7m
2
x 5 x 3 = 105m
2
(không kể rãnh,
lối đi lại và dải bảo vệ).
* Sơ đồ thí nghiệm:

Dải bảo vệ
Dải bảo vệ
Dải bảo vệ
1 5 3 2 4
3 2 4 1 5
5 1 2 4 3
Dải bảo vệ

Ghi chú:
CT1: 30 kg N + 60 kg P
2
O
5

CT5: 30 kg N + 60 kg P
2
O
5
+ 30 kg K
2
O + 10 tấn phân chuồng +
300kg vôi bột/ha.
3.4.2. Quy trình kỹ thuật
- Thời vụ gieo: vụ Đông gieo ngày 17/09/2013.
- Làm đất: Đất cát pha đã được cày bừa kỹ, tơi xốp, làm sạch cỏ,
chia khối lên luống và rạch hàng.
- Phân bón: Bón theo từng công thức
- Phương pháp bón:
+ Bón lót: 100%phân chuồng +100%vôi bột + 100%P
2
O
5
+ 50%N +
50%K
2
O
+ Bón thúc:
Lần 1: 50% N + 50% K
2
O khi cây có 2-3 lá thật.
Lần 2: bón nốt số phân bón còn lại cách lần 1 từ 12-15 ngày, kết hợp
vun gốc.
- Mật độ khoảng cách:
Trên mỗi ô thí nghiệm gieo 4 hàng, hang cách hàng 35cm, cây cách

- Ngày gieo: 17/09/2013.
- Ngày mọc: tính khi có 50% số cây trong ô thí nghiệm có 2 lá mầm
xòe ngang ra trên mặt đất.
- Ngày phân cành: Tính khi có 50% số cây trong ô thí nghiệm ra cành
đầu tiên dài > 2 cm.
- Ngày ra hoa: Tính khi 50% số cây trong ô thí nghiệm có hoa đầu tiên.
- Ngày chín: Tính khi 95% số quả trên ô đã chín, khi mà vỏ quả
chuyển sang màu vàng hoặc xám.
- Chiều cao cây: Đo từ vết 2 lá mầm đến đỉnh sinh trưởng của thân
chính. Đo 10 cây/ô rồi tính trung bình.
- Số đốt trên thân cây chính: Đếm số đốt trên thân chính, đếm 10
cây/ô rồi tính trung bình.

22
- Số cành cấp I: Đếm số cành mọc ra từ thân chính, đếm 10 cây/ô rồi
tính trung bình.
-Đường kính thân(cm): Đo ở giữa đốt đầu tiên trên thân chính lúc thu
hoạch của 10 cây mẫu.
3.4.3.2. Đánh giá tính chống chịu sâu bệnh của các công thức thí nghiệm
- Sâu cuốn lá (Lamprosema indicata): Đếm số lá bị cuốn/ tổng số
của 10 cây theo dõi. Tính tỷ lệ %.
Tỉ lệ hại (%) =
Số lá bị hại
x 100
Tổng số lá điều tra
- Sâu đục quả: Đếm số quả bị hại/tổng số quả/cây của 10 cây/ô
Tỉ lệ hại (%) =
Số quả bị hại
x 100
Tổng số quả điều tra

2
đất)
P
A
x 100 x 3
Trong đó:
P
A
: Khối lượng 1 dm
2
lá (g)
P
B:
Khối lượng toàn bộ lá của 3 cây (g)
M: Mật độ (cây/m
2
)

- Khả năng tích lũy vật chất khô (KNTLVCK): Nghiên cứu vào hai
thời kỳ hoa rộ và chắc xanh
+ Phương pháp theo dõi: Đem sấy khô phần trên mặt đất của 3 cây/ô.
Sấy đến khi cân 3 lần không đổi được P
K
. Tính khả năng tích lũy vật chất khô
theo công thức:
KNTLVCK =
P
K

(g/cây)

+ Đếm số quả 3 hạt/cây. Tính trung bình
+ Xác định số hạt chắc/quả theo công thức:
Hạt chắc/quả =
Tổng số hạt/cây

Tổng số quả chắc/cây

- Xác định khối lượng 1000 hạt
+ Phương pháp: Mỗi công thức cân 3 mẫu, mỗi mẫu 1000 hạt để riêng
rồi cân từng mẫu một được khối lượng M
1
, M
2
và M
3
.
Với: M =
M
1
+ M
2
+ M
3

3
- Năng suất thực thu (NSTT) (tạ/ha): Thu riêng ở từng ô ở các lần
nhắc lại khi có 95% quả chín,cắt toàn bộ cây/ô đem về phơi, đập lấy hạt,
phơi khô làm sạch, cân khối lượng từng ô. Có tính bù năng suất những cây
đã lấy mẫu để phân tích. Tính ra tạ/ha.
- Năng suất lý thuyết (NSLT) (tạ/ha):


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status