nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng và ra hoa của cây lan hồ điệp (phalaenopsis) tại thái nguyên - Pdf 24


Số hóa bởi trung tâm học liệu

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM LƢƠNG CÔNG TRỮ
NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA MỘT SỐ
BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐẾN SINH TRƢỞNG
VÀ RA HOA CỦA CÂY LAN HỒ ĐIỆP
(PHALAENOPSIS) TẠI THÁI NGUYÊN


cũng xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được
tác giả cảm ơn và các thông tin tài liệu trích dẫn trong luận văn đều được chỉ
rõ nguồn gốc.

Tác giả Lƣơng Công Trữ
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM LƢƠNG CÔNG TRỮ NGHIÊN CỨU ẢNH HƢỞNG CỦA MỘT SỐ
BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐẾN SINH TRƢỞNG
VÀ RA HOA CỦA CÂY LAN HỒ ĐIỆP
(PHALAENOPSIS) TẠI THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số: 60.62.01.10
tập thể cán bộ, giảng viên Phòng quản lý đào tạo sau đại học và Khoa Nông
học Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên. Đặc biệt là cô giáo TS. Nguyễn
Thúy Hà, cô giáo TS. Đặng Thị Tố Nga đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi
trong việc định hướng đề tài cũng như suốt quá trình thực hiện và hoàn thiện
luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo và các cán bộ Trung tâm dạy nghề
huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã tạo điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật
cho tôi thực hiện đề tài này.
Cuối cùng tôi xin được cảm ơn gia đình, bạn bè đã nhiệt tình giúp đỡ
tôi thực hiện và hoàn thành luận văn.
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả Lƣơng Công Trữ

Số hóa bởi trung tâm học liệu ii
MỤC LỤC

Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các từ viết tắt vii
Danh mục các bảng .viii
Danh mục các hình x
MỞ ĐẦU i

2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 25
2.3. Nội dung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 25
2.3.1. Nội dung nghiên cứu 25
2.3.2. Phương pháp nghiên cứu 26
2.3.2.1. Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón đến sinh trưởng và
ra hoa của hoa lan Hồ Điệp 26
2.3.2.2. Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể đến khả năng sinh trưởng và ra hoa
của lan Hồ Điệp 28
2.3.2.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của chế độ che sáng đến sinh trưởng và ra hoa
của lan Hồ Điệp 29
2.3.3. Các chỉ tiêu theo dõi 30
2.3.3.1. Các chỉ tiêu sinh trưởng 30
2.3.3.2. Các chỉ tiêu sinh dưỡng 30
2.3.4. Kỹ thuật chăm sóc 31
2.4. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 39
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40
3.1. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng và ra hoa
của hoa lan Hồ Điệp 40

Số hóa bởi trung tâm học liệu iv
3.1.1. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón đối với khả
năng sinh trưởng bộ lá cây lan Hồ Điệp 40
3.1.1.1. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón đến động
thái tăng trưởng lá của hoa lan Hồ Điệp 40
3.1.1.2. Ảnh hưởng của một số loại phân bón đến động thái tăng trưởng kích
thước lá của cây lan Hồ Điệp 42
3.1.1.3. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón đến tăng

3.3.3. Ảnh hưởng của chế độ ánh sáng đến sự tăng trưởng kích thước mầm
hoa của cây lan Hồ Điệp 61
3.3.4. Ảnh hưởng của chế độ che sáng đến tỷ lệ nở hoa và độ bền hoa của lan
Hồ Điệp 62
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 64
1. Kết luận 64
2. Đề nghị 65
TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
A. Tiếng Việt 66
B. Tiếng Anh 68
Số hóa bởi trung tâm học liệu vi
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CT : Công thức
CNSH : Công nghệ sinh học
D : Dài
Đ/c : Đối chứng
KHKT : Khoa học kỹ thuật
NXB : Nhà xuất bản
PTNT : Phát triển nông thôn
R : Rộng
WTO : Tổ chức thương mại Thế giới



Số hóa bởi trung tâm học liệu viii
Bảng 3.13: Ảnh hưởng của chế độ ánh sáng đến sự tăng trưởng kích thước bộ
lá của cây lan Hồ Điệp 60
Bảng 3.14: Ảnh hưởng của chế độ ánh sáng đến sự tăng trưởng kích thước
mầm hoa của cây lan Hồ Điệp 61
Bảng 3.15: Ảnh hưởng của chế độ che ánh sáng đến tỷ lệ nở hoa và độ bền
hoa của lan Hồ Điệp 62 Số hóa bởi trung tâm học liệu ix
DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang
Hình 3.1: Đồ thị ảnh hưởng của một số loại phân bón đến động thái ra lá của
cây lan Hồ Điệp 41
Hình 3.2: Đồ thị ảnh hưởng của một số loại phân bón đến tăng trưởng chiều
dài lá lan Hồ Điệp 43
Hình 3.3: Đồ thị ảnh hưởng của một số loại phân bón đến tăng trưởng chiều
rộng lá lan Hồ Điệp 43
Hình 3.4: Đồ thị ảnh hưởng của liều lượng phân bón Scotts (30:10:10) đến tốc

nhu cầu về số lượng cũng đòi hỏi ngày càng cao. Trong những năm gần đây,
một số loài lan lai được nhập nội ngày càng nhiều vào nước ta (Catteya,
Phalaenopsis, Dendrobium, Vanda), trong đó lan Hồ Điệp (Phalaenopsis) có
chất lượng cao, màu sắc đa dạng, cánh môi hấp dẫn được tiêu thụ mạnh nhất.
Hiện nay lan Hồ Điệp là một trong những loại phong lan được trồng phổ biến
trên thế giới, so với đa số các loại lan khác thì Hồ Điệp khá nổi bật bởi các
đặc tính đa dạng, kích thước hoa to, màu sắc hấp dẫn, lâu tàn và ra hoa quanh
năm, lan Hồ Điệp được mệnh danh là hoàng hậu của các loại lan.
Thái Nguyên là một trong những tỉnh có điều kiện tự nhiên thuận lợi để
phát triển ngành trồng lan, nhu cầu sử dụng hoa lan và nhất là hoa lan Hồ Điệp
ngày càng được ưa chuộng. Tuy nhiên, cũng như các vùng khác chủ yếu sản
xuất hoa dựa vào kinh nghiệm là chính. Công nghệ sản xuất còn thiếu tính
đồng bộ, diện tích trong nhà có mái che còn thấp nên chất lượng hoa không

Số hóa bởi trung tâm học liệu 2
cao, nhiều loại hoa chưa thể trồng trái vụ nên chưa đáp ứng được nhu cầu hoa
cắt thường xuyên. Bên cạnh đó, đầu tư cho khoa học kỹ thuật chưa nhiều. Vì
vậy, sản xuất bị động, giá thành sản xuất cao.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trên, để góp phần xây dựng quy trình kỹ
thuật trồng và chăm sóc cây lan Hồ Điệp tại thành phố Thái Nguyên chúng tôi
tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ
thuật đến sinh trưởng và ra hoa của cây lan Hồ Điệp (Phalaenopsis) tại
Thái Nguyên”.
2. Mục tiêu nghiên cứu và yêu cầu của đề tài
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Xác định một số biện pháp kỹ thuật phù hợp đến sinh trưởng và ra hoa
của cây lan Hồ Điệp tại Thái Nguyên.

Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Nguồn gốc của hoa lan
Theo các tác giả Trần Hợp (1990) [4], Nguyễn Tiến Bân (1997) [8],
Phạm Hoàng Hộ (2000) [9], cây lan Orchida thuộc họ phong lan
Orchidaceae, bộ lan Orchidales, lớp một lá mầm Monoctyledoneae. Cây lan
được biết đến đầu tiên ở Phương Đông. Hoa lan được biết đến vào khoảng
2500 năm về trước (Thời đại của Đức Khổng Tử, 551- 479 trước công
nguyên). Ở Phương Đông, lan được chú ý đến vì vẻ đẹp duyên dáng của lá,
hương thơm tuyệt vời của hoa. Khổng Tử đề cao lan là Vua của những loài cỏ
cây có hương thơm.
Hoa lan thường mọc ở các vùng nhiệt đới, đã được các thuỷ thủ, các lái
buôn, nhà truyền giáo… mang về nên người châu Âu biết đến rất muộn, lan
được chú ý trước hết để làm thuốc chữa bệnh. Ở đây người ta đã tiến hành
nghiên cứu rất công phu tỉ mỉ về lan. Có thể nói Theophara stus là cha đẻ
ngành học về lan và ông cũng là người đầu tiên dùng từ Orchid để chỉ một
loài lan có củ tròn. Sau đó Robut Bron (1773 - 1858) là người đầu tiên đã
phân biệt rõ ràng giữa họ lan và các họ khác. Người đặt nền tảng hiện đại cho
môn học về lan là John Lindley (1799 - 1865). Năm 1836 ông công bố, sắp
xếp các tông họ lan (A tabuler view of the tribes of orchidaler). Tên của họ
lan do ông đưa ra được dùng cho đến ngày nay [10].
Ở Việt Nam, dấu vết nghiên cứu về lan thời kỳ đầu không rõ rệt, có lẽ
người đầu tiên có khảo sát về lan ở Việt Nam là Gioalas Noureiro - Nhà
truyền giáo người Bồ Đào Nha, ông đã mô tả cây lan ở Việt Nam lần đầu tiên
vào năm 1789 trong cuốn “Flora cochin chinensis”, gọi tên các cây lan trong
cuộc hành trình đến nam phần Việt Nam là Aerides, Phaius và Sarcopodium

Số hóa bởi trung tâm học liệu

6
Giống Hồ điệp có trên 70 loài và càng ngày càng lai tạo ra rất nhiều.
Loài hoa này có xuất xứ ở miền Bắc Australia, Ấn Độ và các nước Đông Nam
Á như Philippines, Inđônêsia, bán đảo Đông Dương. Cây có thể mọc ở xứ
nhiệt đới và đồi núi cao 2.000 mét nên vừa chịu khí hậu nóng ẩm lại vừa chịu
khí hậu mát, nhiệt độ trung bình từ 20
0
C đến 30
0
C, trong đó điều kiện khí hậu
lí tưởng nhất cho việc nuôi trồng loài hoa này là từ 22
0
C- 27
0
C.
Việt Nam có khoảng 5-6 loài Hồ Điệp thuần, bao gồm Phalaenopsis
gibbosa Sweet, Phalaenopsis mannii Rchob.f, Phalaenopsis braceana (Hook.f),
Christenson, Phalaenopsis lobbii (Rchob.f), Phalaenopsis fuscata Rchob.f Hầu
hết đều có hoa nhỏ nhưng màu sắc sặc sỡ và hương thơm độc đáo. Bên cạnh
những loài lan hồ điệp thuần, những người yêu thích loài hoa này còn không
ngừng sưu tầm, nhập và thuần dưỡng các giống nhập ngoại khiến chủng loài,
màu sắc của Lan Hồ điệp trong nước ngày càng đa dạng, đặc sắc.
Người Việt Nam biết đến lan từ vẻ đẹp thuần khiết của những bông
hoa, những vị thuốc chữa bệnh được lưu truyền trong dân gian từ đời này qua
đời khác. Vua Trần Anh Tông thích sưu tầm các loài hoa đã lập nên “Ngũ
Bách Viên” với 500 loài lan quý. Vườn lan của Lữ Hồng Chiêu ở Phương
Thanh Hà - Thăng Long gồm toàn những loài lan quý hiếm và có hương thơm
ngào ngạt. Đối với người Việt Nam hoa lan tượng trưng cho sự trang trọng và

Năm 1753, Linnee đã dùng danh từ Orchid để chỉ các loài lan. Đến năm
1836, John Lindley (1779-1865) dùng danh từ Orchid để chỉ chung cho các
loài lan và từ đó các loài lan được xếp thành một họ trong hệ thống phân loại
gọi là Orchidaceae. Ông công bố, sắp xếp các tông thuộc họ lan và tên của họ
lan được dùng cho đến ngày nay (dẫn theo Trần Văn Bảo, 2001)[1].
Theo Taktajan (1980) họ lan được chia làm ba họ phụ, tuy nhiên theo
phân tích đầy đủ và chuyên sâu đặc tính di chuyền của các nhà khoa học đã
chia lan thành 6 họ phụ (dẫn theo Trần Hợp, 1990)[8].
- Apostasicideae - Vandoideae
- Cypridicideae - Epidendroideae
- Neottoideae - Orchidaeae

Số hóa bởi trung tâm học liệu 8
Theo Leonid V. Averyanov & Anna L. Averyanova (2003)[25] Việt Nam
hiện nay người ta đã biết được 897 loài thuộc 152 chi. Chúng chiếm khoảng 75-
80% trong tổng số các loài lan ước tính của nước ta. Trong đó một số chỉ có giá
trị kinh tế lớn như Aerides (có 7 loài); Cymbidium (24 loài); Dendrobium (có
107 loài); chi Paphiopedilum (có 18 loài) và Rhychotilis (có 3 loài)…
* Điều kiện trồng lan Hồ Điệp
Giá thể trồng lan:
Giá thể trồng lan Hồ Điệp phải khá tơi xốp và thoáng khí, đồng thời
phải có khả năng giữ nước như gỗ mùn, than bùn khô, hạt đá nhỏ, rêu…
Dưới rễ của cây non lót một lớp rêu hoặc trồng cây lan con trực tiếp vào
rêu. Với những giá thể trồng khác nhau cũng phải có cách trồng và chăm
sóc khác nhau, đặc biệt là chế độ tưới nước, với các giá thể kém giữ nước
thì phải tưới thường xuyên hơn.
+ Xơ dừa

thối chua và xuất hiện bệnh như: Mốc trắng giá thể, ảnh hưởng nghiêm trọng
đến bộ rễ của lan.
Nguyên nhân: Do tưới nước nhiều gây quá ẩm cho giá thể, công với chất
lượng nước tưới có độ pH dưới 5,5.
Biện pháp phòng và trừ: Tưới lượng nước vừa đủ (khoảng 1/3 chậu),
cộng với đo độ pH của nước trước khi tưới, độ pH tốt nhất là 5,8-6,4.
Thiết bị trồng lan Hồ Điệp
Các thiết bị trồng chủ yếu là nhà kính, nhà lưới… Dựa vào sự khác
nhau của chất liệu lợp nhà lưới có thể chia thành các loại sau: nhà lợp kính,
nhà lợp tấm PVC, nilon… Nhà trồng thường dùng khung sắt, ở nóc hoặc bốn
bên xung quanh dùng kính hoặc tấm PVC có khung nhôm xung quanh để nối
lại khít với nhau. Nhà kính vẫn chủ yếu dùng khung sắt để làm, các phòng có
thể thông liền với nhau hoặc tách nhau. Còn vật liệu lợp vẫn dùng tấm nilon
để lợp. Do việc trồng lan Hồ Điệp đòi hỏi nghiêm ngặt về nhiệt độ, vì thế
vườn ươm và vườn trồng lan phải có các thiết bị để khống chế điều chỉnh
nhiệt độ trong nhà nuôi trồng thì mới có thể đảm bảo môi trường tốt nhất để
rút ngắn thời gian sinh trưởng, nâng cao chất lượng của hoa. Thiết bị điều
chỉnh nhiệt độ gồm có hệ thống tăng nhiệt độ và hệ thống giảm nhiệt.

Số hóa bởi trung tâm học liệu 10
Các phương pháp tăng nhiệt độ có thể dùng các máy hơi nóng chạy
bằng dầu, máy phát điện chạy bằng điện hoặc hệ thống làm nóng bằng nước.
Trong quá trình tăng nhiệt độ cũng phải đảm bảo giữ nhiệt độ cho vườn trồng.
Để giảm nhiệt độ có thể dùng quạt gió, vải ướt, hệ thống phun sương mù, hệ
thống che năng giảm nhiệt và hệ thống phun sương mù ở nóc nhà.
1.3. Tình hình sản xuất hoa lan trên thế giới và ở Việt nam
1.3.1. Tình hình sản xuất hoa lan trên thế giới

khai thác triệt để trước đây, nhưng tới nay nhà nước đã hình thành các khu
bảo tồn bảo vệ các loài lan quý để phục vụ cho ngành trồng lan thương mại.
Hoa lan là loài hoa mới được thương mại hóa ở Mỹ. Tuy nhiên, chúng
đã chiếm được cảm tình của người tiêu dùng, doanh thu của chúng đem lại đã
tăng lên nhanh chóng. Năm 2006 với tổng giá trị thu nhập từ một số loại lan
chính đạt trên 800 triệu USD, trong đó hoa lan trong chậu là một trong những
loại hoa được bán nhiều nhất (đứng thứ 2 sau hoa Trạng nguyên) đạt 144,0
triệu USD [10]. Theo thống kê từ năm 1996 đến năm 2006 giá trị lan chậu
bán gia tăng 206,4%, hoa Trạng nguyên chỉ tăng 12,6% trong khi đó nhiều
loại hoa chủ lực trước đó lại không tăng, đặc biệt nhiều chủng loại còn đạt giá
trị -37,20% như hoa Hồng, Violet là -32,90%, Cúc là -18,60% [10].
Hà Lan đã đầu tư 20,0 triệu USD vào Ấn Độ để lắp đặt các thiết bị máy
móc… tạo điều kiện cho việc xuất khẩu hoa tại thị trường này.
Thị trường xuất khẩu hoa lan trên thế giới ngày càng mở rộng. Kim
ngạch thương mại hoa lan cắt cành trên thế giới năm 2002 đạt 150,0 triệu
USD, trong đó Nhật Bản là nước nhập khẩu hoa lan cắt cành nhiều nhất thế
giới, sau đó đến Ý, tiếp theo là Pháp, Đức đứng thứ tư và thứ năm là Mỹ
(Griesbach, R.J, 2002) [24].
Vì có giá trị kinh tế cao nên rất nhiều nước đã tập trung vào việc nghiên
cứu hoa lan chất lượng cao để phục vụ cho thị trường trong nước và xuất
khẩu. Các nước như Thái Lan, Nhật Bản, Inđônêsia, Hà Lan đã đầu tư mạnh
cho các trang trại, công ty để sản xuất hoa lan chậu và hoa cắt cành. Họ tập

Số hóa bởi trung tâm học liệu 12
trung chủ yếu vào việc nhân nhanh lan sạch bệnh, hoa đẹp, có mùi thơm, đa
dạng về màu sắc và hình dạng, tươi lâu để cung cấp cho hơn 50 nước trên thế
giới. Do đó, chúng ta có thể nói rằng sản xuất lan đã đem lại lợi nhuận rất cao

tâm trong Đề án phát huy tiềm năng xuất khẩu rau, hoa quả mà Bộ Thương
mại đã và đang triển khai hiện nay.
Phong lan là giống cây trồng có đặc điểm sinh trưởng rất phù hợp với
điều kiện tự nhiên và khí hậu của Việt Nam. Với khoảng hơn 755 loài lan
hiện có cùng nhiều giống lan mới được lai tạo từ công nghệ nuôi cấy mô, Việt
Nam có nhiều tiềm năng trở thành nước sản xuất lan lớn trong khu vực. Theo
thống kê, hiện nay nhu cầu tiêu thụ hoa lan của Việt Nam là khá cao. Chỉ tính
riêng tại thành phố Hồ Chí Minh, năm 2003 doanh thu từ kinh doanh hoa lan
và cây cảnh mới chỉ đạt 200-300 tỷ đồng thì đến quý I năm 2006, con số này
đã tăng lên mức 400 tỷ đồng. Ngoài ra, các cơ sở kinh doanh hoa lan, cây lan
cảnh cũng tăng từ 264 cơ sở năm 2003 lên trên 1.000 cơ sở, với lượng phong
lan tiêu thụ trung bình mỗi năm lên tới 1 triệu cây.
Trên thực tế, tình hình sản xuất phong lan hiện nay ở Việt Nam còn
chưa tương xứng với tiềm năng. Qua khảo sát, hiện mới chỉ có một số công ty
lớn, trong đó có những công ty nước ngoài trồng phong lan tại Đà Lạt, TP Hồ
Chí Minh, Đồng Nai với diện tích khoảng 50 - 60 ha/doanh nghiệp. Một vài
địa phương khác cũng tiến hành trồng phong lan nhưng mới dừng ở quy mô
gia đình, trên diện tích từ vài m
2
đến vài nghìn m
2
, cá biệt vài hộ trồng trên 1 -
2 ha chứ chưa có các vùng quy hoạch trồng lan tập trung ứng dụng công nghệ
hiện đại.
1.4. Tình hình nghiên cứu hoa lan trên thế giới và ở Việt Nam
1.4.1. Tình hình nghiên cứu hoa lan trên thế giới
1.4.1.1. Các nghiên cứu về phân bón
Phân bón đóng vai trò quan trọng trong việc tăng năng suất, phẩm chất
cây trồng nông nghiệp. Đặc biệt phân bón lá chiếm một vị trí vô cùng quan
trọng trong nền nông nghiệp sạch nhất là rau, hoa, quả. Cây hoa lan cũng

là tốt nhất.
Theo Hãng G&B orchid Laboratory & NurseryInc, cây con lan Hồ điệp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status