Đề tài : Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng và ra hoa của lan hồ điệp (phalaennopsis) - Pdf 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM


ĐINH THỊ GIANG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ
BIỆN PHÁP KỸ THUẬT ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ
RA HOA CỦA LAN HỒ ĐIỆP (PHALAENNOPSIS) LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP THÁI NGUYÊN - 2011

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

1
PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa và có nhiều loài hoa
lan quý được thế giới biết đến. Theo thống kê của các nhà nghiên cứu, Việt
Nam có tới trên 1100 loài lan và còn có thể có nhiều hơn nữa.
Ở nước ta, ngành trồng hoa lan đang bước đầu phát triển và vươn lên
chiếm lĩnh thị trường. Trồng hoa lan vừa là một thú chơi tao nhã mà cũng vừa
đem lại lợi ích kinh tế cho người trồng lan để không những phục vụ nhu cầu
trong nước mà còn cả cho xuất khẩu.
Nhưng hiện nay trong thực tế sản xuất hoa ở của chúng còn ít về số
lượng và chủng loại, sản xuất thì nhỏ lẻ, diện tích lại chưa nhiều, thiếu các
giống hoa đẹp, lạ mắt nhất là cây hoa lan Hồ Điệp, các biện pháp kỹ thuật
đồng bộ chưa được áp dụng nhiều vào trong sản xuất. Các loại hoa đẹp lạ mắt
chủ yếu phải nhập từ Trung Quốc với giá thành cao.
Thái Nguyên cũng là một trong những tỉnh có điều kiện tự nhiên để
phát triển ngành trồng lan. Trong quá trình điều tra và nuôi trồng thử nghiệm
các loại lan tại tỉnh Thái Nguyên, chúng tôi nhận thấy lan Hồ Điệp có khả
năng phát triển thuận lợi về điều kiện tự nhiên việc phát triển lan tại tỉnh Thái
Nguyên còn nhiều khó khăn: chưa có đơn vị chuyên sâu nghiên cứu về lan,
chưa cung cấp được nguồn lan tại chỗ, kỹ thuật chăm sóc còn yếu kém, đặc

năng sinh trưởng và ra hoa của cây lan Hồ Điệp tại Thái Nguyên.
- Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo trong giảng dạy, nghiên cứu
về hoa lan Hồ Điệp.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

3
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả đề tài góp phần giải quyết yêu cầu thực tế sản xuất của các hộ
nông dân, các doanh nghiệp trồng hoa lan để lựa chọn các biện pháp kỹ thuật
tốt nhất trong việc nuôi trồng lan Hồ Điệp.
Tạo tiền đề thúc đẩy nghề trồng hoa lan ở Thái Nguyên, góp phần
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Giới thiệu chung về cây hoa lan
1.1.1 Nguồn gốc của hoa lan
Ở Châu Á, danh từ hoa lan có từ xa xưa trong Tứ Thư, Ngũ Kinh và cả
trong Kinh Dịch của Bách Gia Chư Tử (Trung Quốc 551 - 479 TCN). Khổng
Tử đã hết lời ca ngợi hoa lan và ông cũng là người coi lan là vua của các loài
hoa. Nói tới hoa lan ta không thể không nhắc tới Trung Quốc. Theo
Bretchacidor thì từ đời vua Thần Nông (2800 năm TCN) ngoài sử dụng làm
cây cảnh một số loài lan rừng này còn được dùng làm thuốc chữa bệnh.

Phương Thanh Hà - Thăng Long gồm toàn những loài lan quý hiếm và có
hương thơm ngào ngạt. Đối với người Việt Nam hoa lan tượng trưng cho sự
trang trọng và thanh cao. Những người chơi lan chủ yếu là những người giàu
có, những Nho sĩ, cụ già nhàn rỗi… Mục “Hoa thảo” trong “Vũ trung tuỳ bút”
của Phạm Đình Hổ đã mô tả nhiều loài hoa như Thạch hoa, Thanh lan, Đông
lan, Kiết lan đồng thời có nói rõ kỹ thuật trồng lan. Đặc biệt trong sách về
cây thuốc của Hải Thượng Lãn Ông có nói đến những cây lan làm thuốc
chữa bệnh (Việt Chương; Nguyễn Việt Thái, 2002) [5]. Tuy nhiên dấu vết về
buổi đầu nghiên cứu lan ở Việt Nam không rõ rệt, có lẽ người đầu tiên khảo
sát về lan ở Việt Nam vào khoảng thế kỷ 17 là nhà truyền giáo người Bồ
Đào Nha - Joanisde Loureiro. Nhưng chỉ sau khi người Pháp đến Việt Nam
thì mới có những công trình nghiên cứu đáng kể. F. Gagnepain và A.
Ginillaumin mô tả 70 chi gồm 101 loài lan cho cả ba nước Đông Dương
trong cuốn “Thực vật chí Đông Dương” do H. Lecomte chủ biên xuất bản
năm 1932 đến 1934. Đến năm 1972, Phạm Hoàng Hộ trong bộ “Cây cỏ miền
Nam Việt Nam” (Quyển II) [8] đã mô tả kèm hình vẽ 289 loài lan gặp ở Việt
Nam. Năm 1993 ông lại công bố có 755 loài lan ở nước ta trong cuốn “Cây
cỏ Việt Nam” (Quyển III) [8].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

6
1.1.2 Vị trí phân bố cây hoa lan
Họ lan là một họ có tính chất toàn cầu, chúng xuất hiện và có mặt mọi
nơi trên trái đất nhưng có khoảng 4/5 tập trung ở các vùng nhiệt đới. Những
vùng khí hậu khắc nghiệt như khu vực gần các địa cực thuộc Bắc cực và Nam
cực người ta vẫn thấy sự xuất hiện của hoa lan. Tuy nhiên số lượng địa lan ở
đây rất ít ỏi chỉ có một vài loài địa lan với sức sống vô cùng mạnh mẽ. Ở các
vùng Ôn Đới hoa lan bắt đầu phong phú hơn, phân bố nhiều loài địa lan sống
sát mặt đất. Nó phân bố từ 68

phong phú, chúng phân bố từ Bắc vào Nam. Một số loài chỉ xuất hiện ở các
tỉnh phía Bắc, một số khác chỉ phân bố ở các tỉnh phía Nam và một số ít phân
bố rộng từ Bắc vào Nam làm cho sự phân chia về phân bố khá phức tạp. Tuy
nhiên có thể sơ bộ chia sự phân bố đó làm 6 khu vực sau:
- Khu Đông Bắc Bộ: đây là nơi có vĩ độ cao và khí hậu lạnh nhất nước
ta, tập trung một số loài lan Á nhiệt Đới, nhiệt Đới như Cymbidium,
Phalaenopsis, Vanda, Paphiopedium, Dendrobium
- Khu Tây Bắc Bộ: nằm ở vị trí có vĩ độ cao, tuy nhiên có nhiều dãy núi
che chắn và có gió Lào vào mùa hè nên các loài lan ở đây chịu nóng tốt hơn
như: Eria, Bulbophylum, Rhynchostylis, Dendrobium
- Khu Trường Sơn Bắc: đây là vùng chuyển tiếp của khu hệ phong lan
miền Bắc và miền Nam. Một số loài chủ yếu: Habenaria, Phaius,
Flickingeria, Dendrobium
- Khu Trường Sơn Nam: do địa hình chia cắt nhiều nên các loài lan
phân bố ở đây rất phức tạp, có những loài nhiệt Đới và Á nhiệt Đới, đặc biệt
có loài chịu khô, nóng kéo dài như: Eria, Cleisostoma, Liparis , loài chịu ẩm
như Bromheadia, Calanthe
- Khu đồng bằng miền Nam: khí hậu ở đây nhiệt Đới với 2 mùa mưa và
khô rõ rệt. Số lượng loài phong phú, tập trung chủ yếu các loài:
Bulbophyllum, Acampe, Dendrobium, Eria
- Khu đảo: các loài chủ yếu: Bulbophylium, Apostasia, Liparis, Eria
1.1.3 Phân loại hoa lan
Năm 1753, Linnê đã dùng luôn danh từ Orchid để chỉ các loài lan. Đến
năm 1836, John Lindley (1779 - 1865) dùng danh từ Orchid để chỉ chung cho

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

8
các loài lan và từ đó các loài lan được xếp thành một họ trong hệ thống phân
loại gọi là Orchidaceae. Ông công bố, sắp xếp các tông thuộc họ lan và tên

có thể thu nhập 500 triệu đến 1,0 tỷ đồng/năm, cao hơn nhiều lần so với trồng
lúa và một số hoa màu khác. Ngoài ra, nếu lan được dùng cho xuất khẩu thì
lợi nhuận thu được còn lớn hơn nhiều [6].
Trong những năm gần đây xuất khẩu hoa lan Việt Nam tăng mạnh.
Chín tháng đầu năm 2008, kim ngạch xuất khẩu hoa phong lan lại tăng 218%
so với tháng 8/2008, đạt 61,0 nghìn USD. Nhật Bản là thị trường xuất khẩu
hoa lan tiềm năng của chúng ta [6].
1.2 Điều kiện trong nuôi trồng hoa lan
1.2.1 Yêu cầu nhiệt độ
Theo Charles Morden Fitch (1981) căn cứ vào nhiệt độ có thể chia họ
lan thành 3 nhóm (dẫn theo Nguyễn Công Nghiệp, 2000)[15]:
+ Nhóm lan ôn đới: (từ vĩ độ 28 - 40
0
) gồm những loài lan chịu được
nhiệt độ ban ngày trong khoảng 18 - 24
0
C, và ban đêm trong khoảng 13 -
18
0
C. Những cây lan này xuất xứ từ vùng hàn Đới, ôn Đới và khu vực núi cao
vùng nhiệt Đới (Lycaste, Cymbidium ).
+ Nhóm lan cận nhiệt đới: (vĩ độ từ 16 - 21
0
) gồm những loài lan thích
hợp với nhiệt độ ban ngày trong khoảng 21 - 30
0
C, và ban đêm trong khoảng
16 - 21
0
C (Cattleya, Dendrobium, Oncidium ).

Nam bộ. Nhiệt độ trung bình năm 13 - 15
0
C.
1.2.2 Ánh sáng
Tuỳ theo các loài Phong lan khác nhau mà yêu cầu sống cần ánh sáng
nhiều hay ít. Tuy nhiên không loài phong lan nào không cần ánh sáng vì lá
cây cần ánh sáng để quang hợp, tạo lên chất hữu cơ để nuôi cây. Phong lan có
thể chia thành 3 nhóm (Nguyễn Công Nghiệp, 2000) [15]:
- Nhóm ưa sáng có thể chịu được 90 - 100% ánh sáng trực tiếp như các
loài: Vanda, Arachnis, Renanthera
- Nhóm chịu bóng chỉ cần 30 - 40% cường độ ánh sáng như
Phalaenopsis, Paphiopedilum
- Nhóm trung sinh cần khoảng 50% cường độ ánh sáng như Dendrobium,
Eria, Bulbophyllum
1.2.3 Yêu cầu về độ ẩm
Độ ẩm là yếu tố vô cùng cần thiết cho lan sinh trưởng và phát triển. Độ
ẩm quá thấp cây sẽ cây sẽ còi cọc, sinh trưởng phát triển kém, độ ẩm quá cao
tạo môi trường cho nấm bệnh phát triển. Ẩm độ (của vườn trồng lan) lý tưởng
cho hầu hết các loài lan là từ 40 - 70% (Trần Duy Quý, 2005) [16]. Độ ẩm của
giá thể (chậu trồng) lan cần chú ý 1 ướt 1 khô vì rễ phong lan không chịu
được úng lâu ngày.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

11
1.2.4 Yêu cầu về độ thông thoáng
Theo Nguyễn Công Nghiệp (2000) [15] độ thoáng gió là một trong
những đặc tính quan trọng về sinh thái của cây lan. Trong điều kiện tự nhiên,
các loài hoa lan thường mọc trên các cành cao, ở tầng giữa của rừng. Cây lan
ít khi mọc trên các cây của tầng trên và gần mặt đất, bởi lẽ tầng trên thì gió

1.3.2 Thân cây
Nhờ khả năng thích nghi cao và sự phong phú đa dạng về chủng loại
mà phong lan có mặt ở khắp nơi trên trái đất. Chúng là những cây thân thảo
sống lâu năm ở dưới đất gọi là địa lan (Terestrials), trong các kẽ đá gọi là
thạch lan (Lithophyte), sống bám trên những thân gỗ lớn với bộ rễ khí sinh gọi
là phong lan (Epiphytes), hoặc sống trên các lớp rêu hay gỗ mục gọi là hoại
lan (Saprophytes) (Trần Duy Quý, 2005) [16].
Mỗi loài phong lan khác nhau sẽ có hình dáng chiều dài, đường kính
thân cũng khác nhau. Có loài trên thân mang rất nhiều lá nhưng cũng có loài
có rất ít hoặc không có lá (Trần Văn Bảo, 2001) [1].
Theo Pfizer (1882) thân lan có thể xếp thành hai nhóm (dẫn theo
Nguyễn Tiến Bân, 1997) [4].
Nhóm lan đa thân (Sympodial): gồm các chi lan Kiếm (Cymbidium),
lan Hài (Paphiopedilum), lan Vũ Nữ (Oncidium), Cát lan (Cattleya), lan
Hoàng Thảo (Dendrobium) cây trong nhóm này thường không tăng trưởng
liên tục mà có thời gian nghỉ sau những mùa tăng trưởng. Thông thường, phần
nhìn thấy của cây lan chỉ có lá, hoa và cuống. Chúng được mọc nên từ một
đoạn phình to, giống như củ hành nên người ta gọi là giả hành. Giả hành rất
phong phú về hình dạng đặc trưng cho loài. Giả hành có thể rất dài như
Hoàng Thảo Phi Điệp (có thể dài tới 1,0m tùy từng loài), có thể ngắn hình
thoi như Hoàng Thảo Vảy Rồng, cũng có thể nhỏ như lan Kiếm [4]
Nhóm lan đơn thân (Monopodial): gồm các chi Vanda, Hồ Điệp
(Phalaenopsis), Phượng Vỹ (Renanthera), Ngọc Điểm (Rhychostylis), Giáng
Hương (Aerides) thân lan đơn thân, phát triển theo chiều thẳng đứng. Khi
đỉnh bị tổn thương, chồi bên xé rách bọc lá để hình thành chồi mới.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

13
1.3.3 Lá cây

đài lưng hơi khác với 2 cánh đài bên như các loài thuộc chi lan Hài, đôi khi cả
3 cánh đài đều dính lại với nhau như loài Hoàng Thảo Báo Hỉ.
Cánh hoa: là bộ phận quan trọng nhất để tạo nên vẻ đẹp quyến rũ của
hoa lan. Hai cánh hoa bên rất giống về màu sắc, kích thước với cánh đài rời
hay dính với cánh đài bên [9].
Cánh hoa phía dưới (cánh môi) đây là bộ phận quyết định phần lớn giá
trị thẩm mỹ của hoa lan. Cánh môi rất đa dạng, xếp đối diện với cánh đài lưng
và có kích thước thường lớn hơn cả. Cánh môi có thể nguyên, chia thùy, khía
răng, có tua viền, hay chia cắt thành các sợi mảnh. Bề mặt cánh môi hoặc
nhẵn, có nhiều gân hay nổi lên các phần phụ đa dạng. Gốc cánh môi thường
mang tuyến mật.
Trụ hoa: nằm giữa bông hoa, có chứa cả nhị và nhụy. Đầu trụ là nắp
chứa hạt phấn. Ở hoa lan, hạt phấn được kết với nhau bằng một chất sáp tạo
thành những khối phấn, số lượng khối có thể là 2, 4, 6, 8 tuỳ loài. Khi hạt
phấn rơi vào đầu nhụy tạo nên sự thụ phấn, hoa héo đi nhanh chóng, bầu hoa
phình to thành quả lan. Nhụy gồm có một bầu hạ không có ranh giới rõ rệt với
cuống hoa và khi hoa nở bầu có 3 lá noãn dính với nhau thành 1 ô. Vòi nhụy
dính liền với nhị đực và có ba đầu nhụy trong đó có hai đầu bên làm nhiệm vụ
sinh sản (Trần Hợp, 1990) [9].
1.3.5 Quả
Quả lan thuộc dạng quả nang, khi quả chín sẽ nứt dọc theo 3, 6 khe.
Quả có dạng từ dạng quả cải dài đến dạng hình trụ ngắn, phình to ở giữa. Khi
chín, quả mở ra các hạt bị gió cuốn đi còn lại mảnh vỏ đính lại với nhau ở
phía gốc. Ở một số loài khi quả chín vỏ quả không nứt ra, hạt chỉ ra khỏi vỏ
khi vỏ này bị mục nát (Hoàng Ngọc Thuận, 2003)[17].

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

15
1.3.6 Hạt

rất tốt và được xuất sang nhiều nước trên thế giới trong đó chủ yếu là Hà Lan
và Hoa Kỳ. Chính phủ Thái Lan đang nỗ lực để xúc tiến hoạt động quảng bá
ngành hoa nước này ra thị trường thế giới thông qua hội chợ triển lãm về
hoa[6]
Ở Singapore, nghề trồng hoa lan xuất khẩu trên quy mô lớn bắt đầu
năm 1987. Nhà nước đã thấy rõ tiềm năng xuất khẩu loại hoa này trên thị
trường thế giới nên đã mở rộng các trang trại trồng hoa phong lan. Năm 1992,
xuất khẩu đạt hơn 18 triệu USD, năm 1995 đạt 37,0 triệu USD, chiếm 12,0%
thị trường phong lan trên thế giới (Phan Thúc Huân, 1989) [10]. Chính phủ
Singapore đặt kế hoạch vào năm 2010, xuất khẩu lan đạt 100,0 triệu USD.
Ấn Độ đã đưa tiến bộ kỹ thuật cấy mô vào nghề trồng hoa lan để sản xuất
mỗi năm 10 triệu cây lan các loại. Mặt khác, Ấn Độ được xem là một nước có
nhiều giống lan nguyên thuỷ, khoảng 140 loài với hơn 1.300 giống. Mặc dù bị
khai thác triệt để trước đây, nhưng tới nay nhà nước đã hình thành các khu bảo
tồn bảo vệ các loài lan quí để phục vụ cho ngành trồng lan thương mại.
Hoa lan là loại hoa mới được thương mại hoá ở Mỹ. Tuy nhiên, chúng
đã chiếm được cảm tình của người tiêu dùng, doanh thu của chúng đem lại
tăng lên rất nhanh chóng. Năm 2006 với tổng giá trị thu thập từ một số loại
hoa chính đạt trên 800 triệu USD trong đó hoa lan chậu là một trong những
loại hoa được bán nhiều nhất (đứng thứ 2 sau hoa Trạng Nguyên) đạt 144,0
triệu USD [10]. Theo thống kê từ năm 1996 đến năm 2006 giá trị lan chậu
bán ra tăng 206,4%, Trạng Nguyên chỉ tăng 12,6% trong khi đó nhiều loại
hoa chủ lực trước đó lại không tăng đặc biệt nhiều chủng loại còn đạt giá trị là
-37,20% như hoa Hồng, Violet là -32,90%, Cúc là -18,60% [10]
Hà Lan đã đầu tư 20,0 triệu USD vào Ấn Độ để lắp đặt các thiết bị máy
móc… tạo điều kiện cho việc xuất khẩu hoa tại thị trường này.
Thị trường xuất khẩu hoa lan trên thế giới ngày càng mở rộng. Kim
ngạch thương mại hoa lan cắt cành trên thế giới năm 2000 đạt 150,0 triệu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

18
Trong những năm gần đây xuất khẩu hoa lan Việt Nam tăng mạnh.
Chín tháng đầu năm 2008, kim ngạch xuất khẩu hoa phong lan lại tăng 218%
so với tháng 8/2008, đạt 61,0 nghìn USD. Nhật Bản là thị trường xuất khẩu
hoa lan tiềm năng của chúng ta [10].
Theo các chuyên gia, Việt Nam được đánh giá là nước có tiềm năng lớn
trong sản xuất phong lan. Nhưng một thực tế hiện nay là: Trong khi nhu cầu
hoa lan nội địa và nhu cầu xuất khẩu đang ở mức cao thì Việt Nam vẫn phải
chi hàng tỷ đồng mỗi năm để nhập khẩu lan. Tìm giải pháp phát huy tiềm
năng của ngành lan Việt Nam là một trong những vấn đề được quan tâm trong
Đề án phát huy tiềm năng xuất khẩu rau hoa quả mà Bộ Thương mại đã và
đang triển khai hiện nay. [6]
Phong lan là giống cây trồng có đặc điểm sinh trưởng rất phù hợp với
điều kiện tự nhiên và khí hậu của Việt Nam. Với khoảng hơn 755 loại lan
hiện có cùng rất nhiều giống lan mới được lai tạo từ công nghệ nuôi cấy mô,
Việt Nam có nhiều tiềm năng trở thành nước sản xuất lan lớn trong khu vực.
Theo thống kê, hiện nhu cầu tiêu thụ hoa lan của Việt Nam là khá cao. Chỉ
tính riêng tại thành phố Hồ Chí Minh, năm 2003 doanh thu từ kinh doanh hoa
lan và cây cảnh mới chỉ đạt 200-300 tỷ đồng thì đến quý I năm 2006, con số
này đã tăng lên mức 400 tỷ đồng. Ngoài ra, các cơ sở kinh doanh hoa lan, cây
cảnh cũng tăng từ 264 cơ sở năm 2003 lên trên 1.000 cơ sở, với lương phong
lan tiêu thụ trung bình mỗi năm lên tới 1 triệu cây [10].
Trên thực tế, tình hình sản xuất phong lan hiện nay ở Việt Nam còn chưa
tương xứng với tiềm năng. Qua khảo sát, hiện mới chỉ có một số công ty lớn,
trong đó có những công ty nước ngoài trồng phong lan tại Đà Lạt, TP. Hồ Chí
Minh, Đồng Nai với diện tích khoảng 50-60 ha/doanh nghiệp. Một vài địa phương
khác cũng tiến hành trồng phong lan nhưng mới dừng ở quy mô gia đình, trên

với nấm để gây sự nảy mầm, ông nhận thấy rằng các cây lan con nảy mầm
trong rừng đều bị nhiễm nấm, ông đã cô lập các nấm ở rễ cây lan con và cấy
vào hạt lan, chính bằng phương pháp này ông là người đầu tiên làm cho 100%
hạt lan nảy mầm. Hans Burgff (1909) đã làm nảy mầm hạt lan trên môi trường
dinh dưỡng 0,33% đường saccarose trong điều kiện hoàn toàn bóng tối. Năm
1922, Lewis Krudso một nhà khoa học người Mĩ lại thành công trong việc gieo

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

20
hạt ở môi trường thạch và ông nhận thấy rằng sự nảy mầm của hạt còn phụ
thuộc vào thời gian thu hái quả (dẫn theo Ajchara - Boonrote, 1987) [23].
Về biện pháp kỹ thuật bón phân cho lan thì theo công thức của Le
Comfle (1981) để kích thích cây ra rễ dùng phân có hàm lượng lân cao
(10:10:20). Khi cây ra hoa dùng loại phân có hàm lượng các chất là (6:30:30)
để hoa mập và tươi hơn (dẫn theo Trần Văn Bảo, 2001) [1].
Theo Le Coufle (1981) cho rằng: nước mưa, nước suối, nước giếng rất
tốt cho sự phát triển của lan rừng và độ pH thích hợp từ 5 - 6. Tuy nhiên cũng
có sự thay đổi tuỳ từng giống, với lan Hồ Điệp pH = 5,2; lan Hài pH = 6,5 -
7,0 (dẫn theo Nguyễn Công Nghiệp, 2005) [15].
1.5.2 Một số kết quả nghiên cứu về hoa lan ở Việt Nam
Kết quả chọn tạo giống
Hà Thị Thúy và cộng sự (2007) [21] đã đánh giá được các đặc điểm hình
thái và động thái ra hoa của 31 giống lan Hồ Điệp thuộc chi Phalaenopsis ở
Việt Nam và các giống nhập nội. Dựa vào phân tích các đặc điểm ưu việt của
mỗi giống, thiết kế sơ đồ lai và đã lai thành công một số cặp lai giữa lan Hồ
Điệp dại với lan Hồ Điệp truyền thống và lan Hồ Điệp nhập nội, và đã tạo
được vật liệu khởi đầu bằng phương pháp nuôi cây in vitro.
Không chỉ cá c cơ quan khoa họ c nghiên cứ u công tá c lai tạ o giố ng hoa
lan mà cả cá c cá nhân vớ i lò ng say mê và yêu thích hoa lan cũ ng đi sâu nghiê n

hoa hình thành so với đối chứng.
1.6 Một số kết quả nghiên cứu về điều kiện để nuôi trồng hoa lan ở Việt Nam
1.6.1 Thiết kế vườn
Nếu chỉ có vài giò trồng để làm cảnh ta có thể treo chúng vào các chỗ
dâm mát, các gốc cây quanh nhà. Tuy nhiên nếu trồng với mục đích kinh
doanh, cần phải thiết kế một nhà lưới chắc chắn với bộ khung giàn có thể làm
bằng sắt hay hợp kim. Trên mái dàn dùng lưới đen che để làm giảm cường độ
ánh sáng chiếu vào cây, tránh ánh sáng trực xạ. Xung quanh phải làm hàng
rào bảo vệ có thể dùng các tấm lưới làm bằng thép để che xung quanh. Khi bố
trí treo lan trong vườn cần chú ý chọn hướng treo để tránh ảnh hưởng của gió
lộng và tránh ánh nắng trực tiếp từ buổi trưa đến khoảng 15h chiếu vào cây.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn

22
Vườn thường được làm theo hướng Bắc - Nam (Trần Văn Bảo, 2001) [1].
1.6.2 Cây giống
Cần tuyển chọn những giống, loài lan khỏe mạnh, không sâu bệnh.
Hiện nay có một số loài, chi đang có giá trị thương mại cao như chi Aerides,
Rhynchostylis, Dendrobium, Cymbidium, Vanda, Cattleya…[19].
1.6.3 Chậu và giá thể
Các loài lan khác nhau có các đặc tính khác nhau và chúng cũng thích
hợp với các loại giá thể khác nhau. Việc lựa chọn chất liệu và kích thước chậu
phụ thuộc vào độ tuổi và kích cỡ của cây. Tuy nhiên, vẫn có những chuẩn
mực chung để đánh giá một chậu trồng lan lý tưởng.
+ Kích thước chậu phù hợp với kích cỡ cây.
+ Chất liệu chậu phải phù hợp với từng loài, từng chi.
+ Chậu phải đảm bảo độ thoáng và thoát nước.
Các loại giá thể thường dùng để trồng lan như: vỏ cây, than hoa, xơ
dừa, mùn cưa (mùn của các loại cây có nhựa đắng không thể dùng để trồng

1.6.5 Bón phân
Có hai cách để bón phân cho lan đó là sử dụng phân bón khô (phân chậm
tan) và sử dụng phân bón lỏng (phân bón lá). Trong đó phân bón lỏng thường
được sử dụng nhiều hơn bởi nó có nhiều ưu điểm hơn so với phân bón khô
(Trần Hợp, 1990) [9].
Hiện nay có các loại phân bón qua lá được sử dụng là phân vô cơ, phân
hữu cơ, phân phức hữu cơ có nguồn gốc từ EDTA và các aminoacid thủy
phân từ các chất hữu cơ giàu prôtêin.
- Cách sử dụng phân vô cơ: các loài khác nhau ở các giai đoạn sinh
trưởng khác nhau sẽ phù hợp với phân có thành phần và tỷ lệ khác nhau.
+ Ở thời kỳ cây con, những cây đang nảy chồi và những cây sau khi cắt
hoa nên sử dụng loại phân có hàm lượng đạm cao (30:10:10).
+ Bón theo công thức của Le Comfle (1981): để kích thích cây ra rễ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status