BỘ GIÁO DỤC VÀ ðÀO TẠO
TRƯỜNG ðẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI
NGUYỄN BÁ THẾ
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ
THUẬT ðẾN SINH TRƯỞNG CỦA CÂY LAN HOÀNG
THẢO TAM BẮC (ðENROBIUM DEVONIANUM PAXT)
TẠI MƯỜNG KHƯƠNG LÀO CAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI NĂM 2013LỜI CAM ðOAN
Tôi xin cam ñoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn “Nghiên cứu
ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật ñến sinh trưởng của cây lan Hoàng Thảo tam
bảo sắc (ðenrobium devonianum paxt) Tại Mường Khương Lào Cai” là trung thực, là
kết quả nghiên cứu của riêng tôi.
Các tài liệu, số liệu sử dụng trong luận văn do Tổng cục Thuế, Cục thuế tỉnh Hưng
Yên, UBND huyện Ân Thi, Chi cục thuế huyện Ân Thi cung cấp và do cá nhân tôi thu thập
từ các báo cáo của Ngành thuế, sách, báo, tạp chí Thuế, các kết quả nghiên cứu có liên
quan ñến ñề tài ñã ñược công bố Các trích dẫn trong luận văn ñều ñã ñược chỉ rõ nguồn
gốc.
ðHNN Hà Nội, ngày 25 tháng 10 năm 2013
Tác giả luận văn Nguyễn Bá Thế
3
4
Phần 1
MỞ ðẦU
1. 1. ðặt vấn ñề
Việt Nam là nước thuộc vùng khí hậu nhiệt ñới gió mùa ñiển hình với
các tiểu vùng khí hậu ña dạng từ ñó hình thành nên hệ thống rừng tự nhiên,
kết cấu nhiều tầng vì vậy cũng là nơi có sự phân bố ña dạng các loài lan vào
bậc nhất trên thế giới. Hiện nay tồn tại khoảng trên 200 loài, trong ñó có
nhiều loài ñặc hữu quý hiếm (Hài ñỏ, Kim tuyến, Hoàng thảo sừng ), nhiều
loài có giá trị thương mại lớn như ñịa ñịa lan Trần Mộng Xuân, các loài chi
Dáng hương, các loài chi Hoàng thảo (Hoàng thảo Phi ðiệp, Hoàng thảo Tiểu
kiều ñặc biệt có loài Hoàng Thảo Tam Bảo Sắc (Dendrobium deavoniaum
Paxt) có giá trị sử dụng rất ña dạng (vừa cho hoa ñẹp vừa có thể tận dụng làm
dược liệu). Mặc dù nước ta có ñiều kiện tự nhiên ưu ñãi với miền Nam khí
hậu gió mùa ổn ñịnh, miền Bắc có mùa ñông lạnh nhưng giá trị xuất khẩu hoa
lan của Việt Nam còn khiêm tốn, từ 1998 - 2003 chỉ ñạt khoảng 90,000 -
150,000 USD/năm [21].
Lan Hoàng thảo Tam Bảo Sắc (Dendrobium devonianum Paxt) ngoài
giá trị làm cảnh còn có giá trị làm dược liệu. Thân lá lan Hoàng thảo Tam bảo
sắc dùng ñể chữa bệnh sốt cao, thương tổn bên trong cơ thể, miệng khô phiền
khát, hư nhiệt sau khi bị bệnh. Hiện nay người dân vẫn chủ yếu vào rừng khai
thác ñể bán cho các tư thương với giá 1 -1,5 triệu ñồng/kg thân lá, vì vậy nguy
cơ bị tuyệt chủng trong tự nhiên của cây lan hoàng thảo ngày càng cao. Hiện
nay, nhiều hộ trồng lan tại huyện Sa Pa, Mường Khương – Lào Cai và các
huyện Tam ðường, Thân Thuộc, thị xã Lai Châu - tỉnh Lài Châu ñang nuôi
trồng cây lan Hoàng thảo Tam Bảo Sắc, nhưng do thiếu các biện pháp kỹ thuật
nên khả năng sinh trưởng và phát triển còn rất hạn chế, dịch bệnh phát sinh
làm tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy, nghiên cứu việc nuôi trồng và
chăm sóc cây hoa lan Hoàng thảo Tam bảo sắc nhằm mục ñính thu thân lá
6
tươi làm dược liệu và rau.
- Kết quả nghiên cứu ñề tài sẽ góp phần xây dựng qui trình nuôi trồng
lan Hoàng thảo Tam bảo sắc có ý nghĩa quan trọng trong công tác bảo tồn và
phát triển các nguồn gen thực vật quý hiếm, có giá trị làm dược liệu và làm
cảnh mang lại hiệu quả ñầu tư cho các tỉnh miền núi phía Bắc.
1. 4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở nghiên cứu xác ñịnh các yếu tố ảnh hưởng ñến sinh trưởng
sẽ góp phần bổ sung một số biện pháp kỹ thuật, giúp các tổ chức, cá nhân hộ
gia ñình có ñiều kiện phát triển mạnh mẽ việc nuôi trồng, kinh doanh cây hoa
lan Hoàng thảo tam bảo sắc nhằm mục ñích lấy thân lá tươi làm dược liệu.
- Nhóm thứ ba hay còn gọi là nhóm Callista khi ra hoa thì hoa rủ xuống
phía dưới như Dendrobium Chrysotoxum, Dendrobium Farmeri
- Nhóm thứ tư là nhóm Latoura với chùm hoa mọc thẳng ñứng như
Dendrobium Atroviolaceum, Dendrobium Spectabile
- Nhóm thứ năm là nhóm Formosae có ñặc ñiểm là trên thân và lá có
8
lông màu ñen và hoa thường màu trắng như Dendrobium Draconis, Dendrobium
Formosum
2.1.2. ðặc ñiểm thực vật học của chi lan Hoàng Thảo (Dendrobium
Sw.)
Hoàng Thảo là những loài lan sống bám trên cây hay ñá, mọc thành bụi
nhiều hành giả. Các giả hành có thể phân thành các ñốt như cây tre. Nhiều
loài có rãnh dọc theo giả hành [1].
- Rễ lan: Rễ thuộc loại rễ chùm, có màu trắng và nhỏ hơn rễ của một số
loài lan khác, rễ có khả năng tái sinh mạnh, khả năng hút nước và dinh dưỡng
tốt. Rễ Hoàng Thảo nhỏ, tập trung ở gốc do ñó cần giữ ẩm cho rễ.
- Thân lan: Hoàng Thảo có thân dài, ñược tạo bởi các ñốt, trên các ñốt
có bẹ lá bao bọc, mỗi ñốt có 1 mầm ngủ, mầm ngủ này có khả năng tái sinh
tạo thành một cá thể mới.
- Lá lan: Lan Hoàng Thảo có lá nhỏ, mọc ñối xứng nhau trên thân, lá
dày, màu xanh ñậm, tuổi thọ của lá kéo dài từ 1-2 năm.
- Hoa lan: Hoa của lan Hoàng Thảo cũng mang ñặc trưng chung của
các loài lan. Thuộc hoa mẫu 3, bao hoa có 6 bản xếp thành 2 vòng, mỗi vòng
3 bản, trong ñó có 3 cánh ñài, 3 cánh tràng, giữa là cánh môi. Màu sắc của
hoa rất phong phú và ñộ bền dài. Trục hoa mọc ở ñỉnh sinh trưởng của cây.
Một thân có thể có từ 1-4 cành hoa, mỗi cành hoa màng từ 5-16 hoa tùy theo
giống, ñộ tuổi của cây và ñiều kiện chăm sóc. Hoa có khả năng ñậu quả rất
nam có 30 loài. [5].
Chi Dendrobium Sw. gồm những cây thảo bì sinh. Thân có ít hoặc
nhiều gióng. Những thân dài thường thõng xuống. Lá phẳng. Hoa ñơn ñộc
hoặc tập họp thành cụm chùm ñơn hoặc chùm kép (Dương ðức Tiến, Võ Văn
Chi, Phân loại thực vật bậc cao, trang 464 - 473, NXB ðại học và trung học
chuyên nghiệp, năm 1978) [4].
Hoàng thảo Tam bảo sắc Dendrobium devonianum Paxt. là loài Lan sống
phụ sinh, thân mảnh có thể dài ñến 1m, buông xuống. Lá hình giải, dài 6 - 10cm,
10
rộng 1cm, thuôn nhọn ở ñỉnh có bẹ ở gốc. Cụm hoa 2 hoa ở ñốt già. Hoa lớn,
ñường kính 5cm, cánh hoa màu trắng ngà có ñỉnh màu hồng hay ñỏ. Cánh môi
gần tròn có 3 thùy, mép có sợi màu hồng, gốc có 2 ñốm màu cam. Phân bố của
loài Lan này chủ yếu ở vùng núi cao: Sapa (Lào Cai), Tam ðảo (Vĩnh Phúc), ðà
Lạt (Lâm ðồng), Gia Lai, Kontum và loài này còn phân bố ở Ấn ðộ, Mianma,
Thái Lan, Trung Quốc - Trần Hợp, Phong lan Việt Nam NXB Khoa học và kỹ
thuật Hà Nội, trang 88 [1].
2.2. Yêu cầu về ngoại cảnh của chi lan Hoàng Thảo.
2.2.1. Ẩm ñộ
Ẩm ñộ là yếu tố ảnh hưởng rất lớn ñến quá trình sinh trưởng và phát
triển của hoa lan, là một trong những ñiều kiện cơ bản nhất ñể trồng hoa lan.
ẩm ñộ tương ñối của không khí là tỷ số giữa sức trương của hơi nước thật và
sức trương hơi nước bão hoà ở nhiệt ñộ ñó.
Ẩm ñộ tương ñối thay ñổi theo mùa trong năm và tuỳ theo giờ trong
ngày, mùa mưa cao hơn mùa nắng, buổi sáng cao hơn buổi trưa. ða số các
loài lan thích hợp với mức ẩm ñộ tương ñối tối thiểu 70%.
Ở nước ta, ẩm ñộ trung bình hàng năm thay ñổi từ 80-90%. Tuy nhiên
trong từng mùa vụ cụ thể ñộ ẩm tương ñối có sự thay ñổi có ảnh hưởng lớn
C
- Lan vùng trung gian: Phân bố từ vĩ tuyến 15-28º, vùng này có nhiệt
ñộ xấp sỉ 9
o
C vào tháng giêng và xấp sỉ 32
o
C vào tháng 7
Căn cứ vào ñộ cao so với mặt biển người ta chia làm 3 mức [6].
- Mức < 1.000m là vùng nóng
- Mức từ 1.000m - 2.000m là vùng trung gian
- Mức >2.000m trở lên là vùng lạnh
Căn cứ vào nhu cầu nhiệt ñộ của lan, người ta chia làm 3 nhóm [16]:
- Nhóm lan ưa nóng: Bao gồm những loài lan chịu nhiệt ñộ ban ngày
không dưới 21
o
C, ban ñêm không dưới 18,5
o
C. Những loại lan này thường có
nguồn gốc ở vùng nhiệt ñới.
- Nhóm lan ưa nhiệt ñộ trung bình: Bao gồm những loài lan chịu nhiệt
ñộ ban ngày không dưới 14,5
o
C, ban ñêm không dưới 13,5
o
C.
- Nhóm lan ưa lạnh: Bao gồm những loài lan chịu nhiệt ñộ ban ngày
không quá 14
o
C, ban ñêm không quá 13
o
- Nhóm lan ưa ánh sáng mạnh: Vanda, Renanthera, Cattleya
- Nhóm lan ưa ánh sáng yếu: Phalaenopsis, Paphiopedelium
- Nhóm lan ưa ánh sáng trung bình: Dendrobium, Cymbidium
Ánh sáng ảnh hưởng ñến khả năng phân hoá mầm hoa và ra hoa của
một số loài lan. Hầu hết các loài thuộc chi Cattleya, Dendrobium nếu thiếu
ánh sáng cây không ra hoa.
13
2.2.4. Sự thông gió
Sự thông gió ñặc biệt quan trọng với loài lan ñơn thân và ña thân. Do
cấu trúc ñã thích nghi với ñiều kiện khí hậu thoáng mát, các loài ñơn thân
thường có rễ trên không mọc thẳng từ thân và lơ lửng trong không khí. Trong
rừng các loài ñơn thân có thể mọc vắt từ cành này sang cành khác và rễ rủ
xuống lơ lửng trong không khí hay bám vào các cành cây.
ðiều kiện thông gió là một trong nhiều yếu tố giúp lựa chọn ñịa ñiểm
thiết kế vườn lan. Lan trồng ở nơi kín gió thì chậm phát triển và dễ bị bệnh
hơn là ở nơi thoáng gió. ðặc biệt sự thông gió về ban ñêm giúp cho lan phát
triển tốt và không bị bệnh. Gió làm giảm nhiệt ñộ, tuy nhiên nếu thông gió
quá thì làm giảm ẩm ñộ cần thiết, gây thuỷ xuất và hô hấp quá cao, ñiều ñó lại
làm cho lan kém phát triển. Vì vậy tuỳ theo ñộ thông gió mà ta cấu tạo giàn
che và giá thể cho hợp lý trong vườn lan.
2.2.5. Yêu cầu dinh dưỡng ñối với cây hoa lan
Cũng như các loại cây trồng khác, dinh dưỡng có vai trò quan trọng ñối
với toàn bộ hoạt ñộng sống của cây lan. Dinh dưỡng sẽ ảnh hưởng trực tiếp
ñến quá trình sinh trưởng và phát triển cũng như năng suất và chất lượng của
lan. Cây lan ñược cung cấp ñầy ñủ chất dinh dưỡng sẽ sinh trưởng khoẻ và
cho hoa to, màu sắc ñẹp và ñộ bền cao. Nếu không ñủ chất dinh dưỡng cây
lan sẽ còi cọc và kém phát triển, hoa nhỏ và xấu, nhanh tàn. Cây lan không
nhỏ, cây yếu, dễ ñổ ngã và sâu bệnh tấn công.
* Vai trò của Mg: Là một trong những nguyên tố tạo nên diệp lục, giúp
cho cây phát triển cân ñối, hài hoà. Phân bón có nhiều Mg, lá lan to xanh,
nhưng nếu quá nhiều Mg thì màu sắc lá nhạt, lá bị héo, thiếu Mg thì rễ phát
triển tốt nhưng thân lá lại không phát triển, tỷ lệ rễ, thân, lá không cân ñối.
* Vai trò của S: Là thành phần của các axit amin chứa lưu huỳnh cũng
như các amino axit. Liên quan ñến hoạt ñộng trao ñổi chất của vitamin,
thiamin, biotin, và coenzimA giúp cho cấu trúc protein ñược vững chắc.
Thiếu lưu huỳnh, lá non chuyển màu vàng nhạt, cây còi cọc, kém phát triển,
sinh trưởng của cây bị hạn chế, số hoa giảm.
15
Các nguyên tố vi lượng: Fe, Cu, Zn, Mn, Bo, Mo cây lan cần với
lượng rất nhỏ nhưng không thể thiếu ñược. Thường những nguyên tố này có
sẵn trong nước tưới, phân bón, nhưng cũng cần bổ sung thêm các nguyên tố
này cho cây, nhưng phải làm sao không gây ñộc cho cây.
Hầu hết các loại lan sống tự dưỡng, một số loài sống cộng sinh với nấm
nên việc lấy dinh dưỡng từ môi trường bên ngoài khá thuận lợi. ðặc biệt trong
sản xuất với quy mô công nghiệp thì cần bổ sung dinh dưỡng cho lan. Có
nhiều cách ñể cung cấp dinh dưỡng, nhưng cách phun phân qua lá là thích
hợp hơn cả [23].
2.2.6. Yêu cầu ngoại cảnh của chi lan Hoàng Thảo (Dendrobium Sw)
2.2.6.1. Nhiệt ñộ
Nhiệt ñộ ảnh hưởng nhiều ñến sự tăng trưởng phát triển của lan
Dendrobium thông qua con ñường quang hợp và hoạt ñộng trao ñổi chất.
Nhiệt ñộ thích hợp cây quang hợp tốt, khả năng tích lũy vật chất khô cao nên
sinh trưởng và phát triển của cây tốt. Ngược lại nếu nhiệt ñộ quá cao hoặc quá
thấp sẽ ảnh hưởng xấu ñến sinh trưởng và phát triển của lan.
như thoát nước dễ dàng.
2.2.6.3. Ánh sáng
Ánh sáng giúp cho cây tạo ra chất dinh dưỡng giúp cho cây
tăng trưởng nhanh.
Hoàng Thảo là loài lan ưa sáng, nó cần tới 70% ánh sáng, cường ñộ ánh
sáng từ 15.000-30.000 lux. Nếu thiếu ánh sáng, cây sinh trưởng và phát triển
kém, không ra hoa, hoặc ít ra hoa. Trái lại thừa ánh sáng sẽ làm cho cây xấu
ñi vì lá quá vàng, hoặc các giả hành trơ trụi, nhưng cây sẽ thích nghi dần và
vẫn ñảm bảo ra hoa ñẹp và nhiều. Dù sao ñiều kiện ánh sáng lí tưởng vẫn cho
kết quả tốt nhất.
Nhìn chung mùa hè của miền Bắc cường ñộ ánh sáng mạnh, nhu cầu
ánh sáng của lan Hoàng Thảo khoảng 70-80% ánh sáng trực tiếp. Trong ñiều
kiện râm mát cây thường yếu, mọng nước rất dễ nhiễm bệnh. Về mùa ñông
cường ñộ ánh sáng yếu và thời gian chiếu sáng ngắn, ñể lan Hoàng Thảo sinh
trưởng và phát triển tốt và ra hoa ñược thì cần bổ sung ánh sáng bằng cách
thắp ñiện cho vườn lan.
2.2.6.4. Dinh dưỡng:
Lan Hoàng Thảo cũng yêu cầu một lượng dinh dưỡng nhất ñịnh ñể sinh
trưởng và phát triển. Tuy không ñòi hỏi số lượng lớn nhưng phải ñầy ñủ các
thành phần dinh dưỡng N,P,K và các nguyên tố trung và vi lượng. Tùy từng
17
giai ñoạn sinh trưởng mà nhu cầu ñối với các thành phần dinh dưỡng có khác
nhau [10].
2.3. Các ñiều kiện cơ bản trong nuôi trồng lan
2.3.1. Kỹ thuật trồng và sử dụng giá thể cho lan
Khi ñã có những ñiều kiện ñầy ñủ và lý tưởng cho trồng lan thì ta cần
chọn phương pháp trồng lan thích hợp nhất.
bệnh, không mục nát và có khả năng giữ nước, hấp thụ dinh dưỡng tốt. Phù
hợp với nhiều loại lan như Cattleya, Rhychostylis, Oncidium…
+ Gạch nung: Trồng lan rất tốt nhưng phải nung già, ngăn rêu mọc, tạo
ñộ thoáng cho bề mặt rễ bám, nhưng có nhược ñiểm là nặng chỉ phù hợp cho
trồng trong chậu thích hợp với nhiều loài lan thuộc chi Cymbidium…
+ Xơ dừa: Là giá thể thuộc loại rẻ tiền, dễ kiếm, tuy nhiên lại có nhược
ñiểm là giữ nước, chóng mục, vì vậy dễ phát sinh sâu bệnh. Do ñó khi sử
dụng loại giá thể này phải thường xuyên phun thuốc phòng trừ sâu bệnh.
+ Rễ bèo tây (rễ lục bình): Giữ ẩm tốt, dễ kiếm rẻ tiền, có một phần
chất dinh dưỡng trong rễ bèo, nhưng lại có nhược ñiểm là chóng mục, dễ bị
sâu bệnh, vì thế cũng phải thường xuyên phun thuốc phòng trừ sâu bệnh.
Cây lan khi trồng phải ñược cố ñịnh trong chậu, không lung lay gốc khi
tưới hoặc gió thổi. ðặt cây lan trong chậu sao cho hướng phát triển của chồi
non ñược hướng về khoảng trống rộng hơn trong chậu.
2.3.2. Tưới nước
Nước cần thiết cho quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lan. Nếu
thiếu nước cây lan sẽ khô héo và chết, thừa nước thì cây thối rễ mà chết. Vì
vậy khi tưới nước cho cây lan phải là cả một quy trình mang tính khoa học,
bởi vì nước và cách tưới nước là nguyên do của nhiều vấn ñề [14].
Tưới nước cho lan có một số yếu tố cần chú ý là: Lượng nước tưới và
chất lượng nước tưới.
Lượng nước tưới nhiều hay ít tuỳ thuộc vào ẩm ñộ, sự thông gió, giá
thể loài lan, mùa tăng trưởng, nhiệt ñộ, sự che sáng nơi trồng.
Chất lượng nước tưới với lan là rất quan trọng, nước phải sạch (không
19
nhiễm mặn, phèn, pH nước tưới phải ở môi trường a xít yếu hoặc trung tính.
Nước mưa: Là nguồn nước lý tưởng thích hợp cho lan vì có ñộ pH từ 6-
béc phun có tia cực nhỏ tạo mù trong giàn lan. Khi tưới không tưới ñậm ngay
trong một khu vực mà tưới ñi tưới lại cho giá thể ngấm nước dần và phải tưới ñẫm
(quan sát nước chảy xuống ñáy chậu ra ngoài là ñược).
Sáng sớm và chiều tối ẩm ñộ tương ñối cao và giảm vào khoảng giữa trưa.
Vì vậy ñể tạo ñộ ổn ñịnh trong ngày thì cần tưới nước. Nên tưới 2 lần/ngày, cần
tưới vào buổi sáng sớm hoặc chiều mát. Nếu trời nắng nóng ẩm ñộ không khí thấp
buổi trưa có thể tưới mát môi trường xung quanh, không tưới trực tiếp vào cây.
2.3.3. Phân bón
Phân bón là những chất hay hợp chất có chứa một hay nhiều chất dinh
dưỡng khoáng thiết yếu với cây trồng, nó có tác dụng thúc ñẩy sự sinh trưởng
và phát triển của cây trồng.
ðặc biệt phân bón lá chiếm vị trí thiết yếu trong nền nông nghiệp sạch
nhất là rau, hoa quả. Cây hoa lan cũng không nằm ngoài ảnh hưởng này. Cây
lan mang về trồng thì nguồn dinh dưỡng từ nước mưa, vỏ cây, lá mục, rêu,
dương xỉ bị cắt ñứt, các giá thể trồng lan chỉ có tác dụng giữ ẩm, ñỡ cây
nên cần thiết phải bón thêm phân cho lan.
Cách thích hợp nhất hiện nay là dùng phân bón qua lá (phân lỏng).
Phân bón khô khó sử dụng ñồng ñều, nếu nó hoà tan có thể gây hại cho rễ
non. Phân bón lỏng dễ sử dụng và phân ñược phân tán trong chậu, mau thấm
xuống rễ và lá. Phân bón bọc nhựa, giải phóng chậm, cũng có thể dùng ñược
cho lan.
Hiện nay trên thị trường Việt Nam có khoảng 40 loại phân bón lá khác
nhau, trong ñó có rất nhiều loại phân bón lá vô cơ dùng cho lan, phần lớn là
các sản phẩm nhập ngoại, hoặc ñược sản xuất theo quy trình của nước ngoài. Do
chủng loại phân phong phú và ña dạng nên việc tính toán bón phân cho lan
phải tuỳ thuộc vào từng giai ñoạn sinh trưởng của cây mà bón cho phù hợp,
ñem lại hiệu quả kinh tế nhất [11].
Phân bón qua lá gồm: phân hoá học (vô cơ), phân hữu cơ (xác bã ñộng
pha chế phân bón: 100ml nước tiểu và 100g bã ñậu phụ với 0,8 lít nước cho
22
lên men từ 7-10 ngày, lọc lấy phần nước trong tưới cho lan. Mỗi tháng tưới 1-
2 lần tỷ lệ 1:4 thích hợp cho Dendrobium, Phalaenopsis, Paphiopedelium,
Oncidium, Renather
+ Xác bã ñộng vật, phân gia súc, phân tôm cá, khô dầu lạc, khô dầu vừng:
cần phải ngâm ủ cho hoai mục trước khi sử dụng ñể tránh ngộ ñộc cho lan.
Các nhà vườn ở Thái Lan ñã pha chế loại phân hữu cơ như sau: Dùng 3
kg rác thực vật (rau, củ, quả, hoa, lá…) với 1 kg ñường ñen, ñể trong bình
không rỉ, ñậy nắp nhưng không cần kín, ñể chỗ râm mát. Sau một tháng sẽ
chắt lấy nước sử dụng: Hoà 1/1000 tưới cho rau, 1/5000 tưới cho lan rất tốt.
- Cách tưới phân
Có rất nhiều cách tưới phân cho lan nhưng nguyên tắc chung là khi tưới
phân phải ñạt ñược hai yêu cầu sau:
Tưới phân cho cây hấp thụ ñược nhiều nhất
Tưới phân sao cho có hiệu quả kinh tế nhất.
Rễ là cơ quan chính giúp cây lan hấp thụ nước và muối khoáng, ngoài
ra lá và thậm chí có loài thân cũng có khả năng hấp thụ nước và muối khoáng.
Vì vậy tưới phân như tưới nước sẽ phải sử dụng nhiều phân không tiết kiệm
ñược phân. Do ñó khi tưới phân cho lan ta phải tưới qua một lượt nước, sau
ñó mới tưới phân, có như vậy cây hấp thụ phân mới dễ dàng hơn.
Nên tưới phân vào buổi sáng sớm hay lúc xế chiều, không nên tưới phân
vào lúc buổi trưa. Khoảng cách của các lần tưới phụ thuộc vào nhiều yếu tố như
ñiều kiện khí hậu, chất trồng, tình trạng cây, loại phân, nồng ñộ phân…
Bình thường tưới một lần trong một tuần, nhưng nếu vườn lan râm mát
thì khoảng cách tưới dài hơn (10-15 ngày/lần). Nếu vườn lan nhiều ánh sáng
có thể tưới 2 lần /tuần. Sau khi tưới phân nên gia tăng lượng nước tưới của
bệnh ngay từ ñầu là vấn ñề cần thiết. Cần có các biện pháp quản lý sâu bệnh
một cách tổng hợp như sau:
- Chọn giống lan sạch bệnh
-Vệ sinh vườn lan sạch sẽ và thoáng mát, có ánh sáng ñể làm giảm tỷ lệ
sâu bệnh hại.
24
- Kiểm tra cây ñịnh kỳ ñể phát hiện bệnh sớm và có biện pháp phòng
trừ thích hợp.
Cây hoa lan thường bị một số loại sâu bệnh hại sau:
- Bệnh ñốm vòng – thán thư (Colletotrichum gloeosporioides). Triệu
chứng ñầu tiên là lá mầu nâu và giả hành có vết dạng hình tròn, lõm không
ñều, màu sắc vàng hơi xanh nhạt, nhận thấy rất rõ.
Phòng trừ: cắt bỏ lá bị bệnh, xử lý thuốc như Zineb, Ridomin – MZ
(0,2%), Anvil (0,2%).
- Bệnh thối rễ, căn hành và giả hành do vi khuẩn Erwinia Carotovora
subsp và Erwinia chrysanthemi. Triệu chứng xuất hiện khi nhiệt ñộ tăng kết
hợp với ñộ ẩm cao. Các vi khuẩn này là loài ký sinh trên lá và xâm nhập vào
những mô ñã bị thương tổn. Các vùng bị bệnh sẽ úa mềm, có mầu nâu và mùi
khó chịu. Những vết úa thường lan nhanh trong lá, rễ và chậm hơn ở căn hành
và giả hành.
Phòng trừ: Dùng thuốc diệt khuẩn như Physan, Caviben 50 HB,
Thiram, Kitazin, thuốc diệt nấm gốc Sunphat ñồng 1% cũng cho kết quả tốt
với vi khuẩn. Ngoài ra cũng có thể sử dụng Steptomicin và Penicilin.
- Virus
Virus có thể làm thay ñổi hình thái của cây hoa lan từ chóp rễ ñến ñỉnh
ngọn. ảnh hưởng dễ thấy nhất là sự chuyển màu vàng (chlorosis) và mô bị
chết (necrosis). Cây bị bệnh trở nên yếu, chồi ngắn và hoa ít. Một số giống lan