Nghiên cứu ảnh hưởng của giống và thời gian tưới nước đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số giống ngải cứu tại hà nội - Pdf 41

MỤC LỤC
Lời cam đoan

ii

Lời cảm ơn

iii

Mục lục

iv

Danh mục bảng

vii

Danh mục hình

ix

MỞ ĐẦU

1

1

Tính cấp thiết của đề tài

1


7

1.1.4 Yêu cầu sinh thái của cây ngải cứu

8

1.1.5

Đặc điểm sinh trưởng trong năm của cây ngải cứu

1.2 Giá trị sử dụng của cây ngải cứu

8
9

1.3 Một số nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam

10

1.3.1 Một số nghiên cứu trên thế giới

10

1.3.2 Một số nghiên cứu ở Việt Nam

14

1.4 Một số kết quả nghiên cứu về thời gian tưới nước cho cây trồng

16

24

2.2 Nội dung nghiên cứu

24

2.2.1 Thí nghiệm 1: Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng
suất của một số mẫu giống ngải cứu trồng tại Gia Lâm – Hà Nội

24

2.2.2 Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian tưới đến sinh
trưởng, phát triển của một số mẫu giống ngải cứu

25

2.3 Các chỉ tiêu theo dõi

26

2.4 Phương pháp phân tích số liệu

29

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

30

3.1 Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất của một số
mẫu giống ngải cứu trồng tại Thanh Trì – Hà Nội vụ xuân 2015 trong


3.1.7 Mùi, vị các mẫu giống ngải cứu

38

3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian tưới đến sinh trưởng, phát triển
của một số mẫu giống ngải cứu

39

3.2.1 Ảnh hưởng của thời gian tưới đến động thái tăng trưởng chiều cao
cây của các giống ngải cứu

39

3.2.2 Ảnh hưởng của thời gian tưới đến động thái phân cành của các
giống ngải cứu
3.2.3

41

Ảnh hưởng của thời gian tưới đến động thái ra lá của các giống
ngải cứu được trồng tại Gia Lâm – Hà Nội

v

42


3.2.4

3.2.10 Ảnh hưởng của thời gian tưới đến chỉ số diệp lục lá của các giống
ngải cứu

54

3.2.11 Ảnh hưởng của thời gian tưới đến mức độ nhiễm sâu, bệnh hại
của các giống ngải cứu trồng tại Gia Lâm – Hà Nội

56

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

59

TÀI LIỆU THAM KHẢO

60

PHỤ LỤC

65

vi


DANH MỤC BẢNG
STT

Tên bảng



40

3.9 Ảnh hưởng của thời gian tưới tới động thái tăng trưởng cành của các
giống ngải cứu

42

3.10 Ảnh hưởng của thời gian tưới tới động thái tăng trưởng số lá của các
giống ngải cứu

43

3.11 Ảnh hưởng của thời gian tưới tới động thái tăng trưởng chiều dài lá
của các giống ngải cứu

45

3.12 Ảnh hưởng của thời gian tưới tới động thái tăng trưởng chiều rộng lá
của các giống ngải cứu

47

3.13 Ảnh hưởng của thời gian tưới đến động thái tăng trưởng diện tích lá
của các giống ngải cứu

48

3.14 Ảnh hưởng của thời gian tưới tới động thái tăng trưởng số rễ C1 của
các giống ngải cứu

3.20 Ảnh hưởng của thời gian tưới nước đến tình hình sâu bệnh hại của các
giống ngải cứu trồng tại Gia Lâm – Hà Nội

viii

56


DANH MỤC HÌNH
STT

Tên hình

Trang

1.1 Cấu tạo hoa ngải cứu

6

1.2 Thân ngầm cây ngải cứu

7

ix


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngải cứu là loại cây trồng mọc hoang dại chủ yếu ở châu Á và châu Âu, ở
nước ta ngải cứu phân bố ở tất cả các vùng trong cả nước. Ngải cứu còn gọi là

người sản xuất.
Xuất phát từ những thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu ảnh hưởng của giống và thời gian tưới nước đến sinh trưởng,
phát triển và năng suất của một số giống ngải cứu tại Hà Nội”.
2. Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích của đề tài
Đánh giá đặc điểm nông sinh học và ảnh hưởng của thời gian tưới nước là
cơ sở chọn giống và xác định thời gian tưới thích hợp cho cây ngải cứu, nâng cao
năng suất và chất lượng ngải cứu, góp phần xây dựng quy trình trồng ngải cứu
năng suất cao tại Thanh Trì – Hà Nội.
2.2. Yêu cầu của đề tài
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất, chất lượng của
các mẫu giống ngải cứu.
- Đánh giá ảnh hưởng của thời gian tưới đến sinh trưởng, phát triển và
năng suất của cây ngải cứu.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
3.1. Ý nghĩa khoa học
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học nghiên cứu cơ sở khoa học
để tuyển chọn các giống ngải cứu. Góp phần xây dựng quy trình sản xuất giống ngải
cứu có năng suất cao phục vụ nhu cầu sử dụng tiêu thụ rau ăn và chữa bệnh của người
dân.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài bổ sung thêm tài liệu cho công tác nghiên
cứu khoa học, tài liệu giảng dạy, tài liệu tham khảo cho các cán bộ kỹ thuật nông
nghiệp.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Về xã hội: Từ kết quả nghiên cứu của đề tài, tiếp tục tiến hành chọn tạo
ra giống ngải cứu phù hợp với mục đích sử dụng, kết hợp với việc thực hiện tốt
các biện pháp kỹ thuật là cơ hội để người dân sản xuất ngải cứu theo hướng hàng
hóa, góp phần làm tăng năng suất và chất lượng ngải cứu, đáp ứng nhu cầu tiêu
dùng của xã hội.

Ngải cứu (Artemisia vulgaris L.) thuộc: Chi Artemisia, Họ Cúc (Asteraceae),
Bộ Cúc (Asterales), Lớp hai lá mầm (Magnoliopsida), Ngành hạt kín (Magnoliophyta)
(Võ Văn Chi, 2004).
Trên thế giới, chi Artemisia có khoảng 300 loài phân bố ở ôn đới Bắc Mỹ,
Tây Nam Mỹ, Nam Phi, châu Á. Ở nước ta chi Artemisia có 14 loài, trong đó có
3 loài vừa được sử dụng làm thuốc dùng trong (thuốc uống) vừa được sử dụng
làm thuốc dùng ngoài (bôi, xoa bóp): Artemisia vulgaris L., Artemisia apiacea
Hance, Artemisia capilaris Thunb; 2 loài được sử dụng làm thuốc dùng trong:
Artemisia annua L., Artemisia maritima L. (Võ Văn Chi, 2004).
(1) Artemisia vulgaris L. (Ngải cứu, Thuốc cứu)
Cỏ, đa niên, cao 0,5 – 2 m, có mùi thơm đặc sắc. Lá có lông trắng nằm
mặt dưới, có thùy và khía sâu; cuống có cánh. Hoa chùm – tụ tán như gié, dài 2 –
10 cm, đứng ở nách, mang hoa đầu 1 – 3, nhỏ, trắng xanh, to 3 – 4 mm; toàn hoa

4


ống. Quả bế không lông mào.
(2) Artemisia annua L. (Thanh cao, Thảo cao)
Cỏ nhất niên, thơm, cao đến 1 m, thân có rãnh, gần như không lông. Lá có
phiến xoan, 2 – 3 lần kép thành đoạn hẹp nhọn, không lông. Chùm-tụ tán cao ở
ngọn, mang chùm dài, hẹp; hoa đầu cao 1,8 – 2 mm; lá hoa ngoài hẹp, có lông
xanh, lá hoa giữa trong, xoan rộng; hoa toàn hình ống, hoa ngoài cái, hoa trong
lưỡng phái. Bế quả láng, cao 0,5 mm, không lông mào.
(3) Artemisia apiacea Hance (Thanh cao ngò, Hương cao)
Cỏ nhất niên, thân không lông. Lá thơm, có phiến bầu dục, dài đến 7 – 9
cm, 2 – 3 lần kép, thành đoạn hẹp nhọn, không lông. Phát hoa ở ngọn và nách lá,
nhánh dài 5 – 7 cm; hoa đầu cao 3 mm; lá hoa xoan, có bìa trong trong, gần như
không lông; hoa nhiều, toàn hình ống, hoa ngoài cái, hoa trong lưỡng phái.
(4) Artemisia capilaris Thunb (Thanh cao chỉ, ngải lá kim)

kích thước 1 mm.
Loài A.vulgaris được tìm thấy có đặc điểm hình thái thay đổi nhiều. Một
số quần thể A.vulgaris ở phía đông Mỹ, đó là những cây cao khoảng 2 m và
không phân cành. Trong khi đó một số quần thể khác cây lại phân nhánh nhiều
(Võ Văn Chi, 2004).

6


Sự thay đổi về đặc điểm hình thái còn thể hiện ở hệ thống thân ngầm dưới
đất. Một số quần thể có thân ngầm với đường kính 0,5 – 1 cm, phân nhánh ít.
Trong khi đó những quần thể khác lại có thân ngầm với đường kính nhỏ hơn 0,5
cm và thân ngầm phân nhánh nhiều.

Hình 1.2. Thân ngầm cây ngải cứu
Có những tài liệu nói về sự khác biệt về hình dạng trong loài ở vùng núi
phía Bắc Hymalaya (có độ cao 3700 m), một phần của Siberia và Liên Xô cũ. Sự
thay đổi nhiều về đặc điểm hình thái của loài cần có sự so sánh. Những nghiên
cứu ở Bắc Mỹ đã đưa ra được các chỉ tiêu để so sánh:
1. Đặc điểm phân cành, nhánh.
2. Mức độ phân cành.
3. Đặc điểm hình thái của lá.
4. Đường kính thân ngầm.
Mặc dù đặc điểm hình thái học của loài A.vulgaris là khá lớn, nhưng
chúng vẫn được mô tả là các cây bụi nhỏ (Võ Văn Chi, 2004).
1.1.3. Thành phần hóa học của cây ngải cứu
Trong cây ngải cứu chứa tinh dầu với hàm lượng 0,20 – 0,34%. Thành

7



điều

kiện

khô

hạn

cây

vẫn

sinh

trưởng

phát

triển được.
1.1.5. Đặc điểm sinh trưởng trong năm của cây ngải cứu
A.vulgaris sinh trưởng mạnh trong khoảng thời gian từ mùa xuân đến mùa
hè. Vào cuối hè, đầu thu cây bắt đầu ra hoa và hình thành hạt và phát tán hạt. Mùa
đông, phần thân trên mặt đất thường lụi đi, trong khi đó phần thân ngầm trong đất

8


vẫn tồn tại. Đến đầu vụ xuân năm sau, các thân ngầm trong đất sẽ mọc trồi lên khỏi
mặt đất và hình thành nên cây con mới. Đồng thời hạt cũng bắt đầu nảy mầm (Lê



ngủ. Mỗi liệu trình điều trị trong 15 ngày. Và thực hiện liên tục từ 3 – 5 tháng.
Ngoài ra ngải cứu còn sử dụng trong điều trị các bệnh đau đầu, thuốc điều
hòa kinh nguyệt và giúp lưu thông khí huyết cho phụ nữ sau khi sinh (Đỗ Tất
Lợi, 2006).
Trong thân lá của loài A.vulgaris có chứa estrogenic flavonoid và ankaloid.
Tinh dầu của A.vulgaris còn được sử dụng làm thuốc trừ sâu, trừ vi khuẩn và các
sinh vật kí sinh. Ngoài ra, tinh dầu của A.vulgaris còn có tác dụng đặc biệt như xông
hơi và xua đuổi côn trùng (loài Musca domestica) (Viện Dược Liệu, 2006).
Chiết xuất từ lá của loài A.vulgaris còn được sử dụng để xua đuổi muỗi
(Võ Văn Chi, 2004).
Tác động của dịch chiết xuất từ thân rễ ngải cứu lên sự nở trứng, tỷ lệ tử
vong, sự lây nhiễm cây chủ của tuyến trùng Meloidogyne megadora đã được
nghiên cứu (Costa et al., 2003).
Polyacetylenes được chiết xuất từ A. vulgaris có tác dụng gây chết 100%
con trưởng thành ở loài Caenorhabditis elegans ở nồng độ 0,5 mg/ml, nhưng
hoạt động của nó phụ thuộc vào sự hoạt hóa polyacetylen bởi sự phát xạ UV
(Wat et al., 1981).
1.3. Một số nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam
1.3.1. Một số nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về đặc điểm thực vật học, thành phần
hóa học và tác dụng dược lý của cây ngải cứu.
Thống kê toàn bộ lượng vật chất của cây ngải cứu ở tất cả các giai đoạn
sinh trưởng cho thấy hàm lượng protein trung bình chiếm 31,5% (giai đoạn trước
ra hoa protein chiếm 31%, giai đoạn trưởng thành chiếm 32%). Hàm lượng
protein có trong cây ngải cứu thu hoạch vào tháng 11 là 12%. Hàm lượng
photpho trong suốt quá trình sinh trưởng của cây ngải cứu trung bình là 0,54%
(Schuman and Howard, 1978).
Nghiên cứu của Judžentienė và Buzelytė (2006) trên cây ngải cứu trồng

giảm thương tổn gan, bảo vệ chức năng gan (Dược liệu, 2012). Nghiên cứu về
các hợp chất hóa học đã xác định có hơn 20 loại flavonoid có trong dịch chiết cây
ngải cứu. Một vài flavonoid được tìm thấy trong dịch chiết ngải cứu như
acetylenes, counmarins, sesquiterpene lactones (Lee, 1998).
Theo y học cổ truyền Trung Hoa, ngải cứu được sử dụng như một nhân tố

11


giúp giảm đau, kết hợp với phép chữa bệnh bằng thuật châm cứu (Yoshikawa et
al., 1996), chữa trị bệnh viêm bao tử (Repetto and Llesuy, 2002), bệnh viêm gan
(Tan et al., 1999), chống lại chứng tăng huyết áp (Tigno et al., 2001), chống lại
quá trình oxy hóa (Luo et al., 2007). Nghiên cứu của Zhao et al. (2011) tiến hành
trên 24 tình nguyện viên tại Đại học Y Bắc Kinh Trung Quốc đã kết luận khói
của điếu ngải có thể làm gia tăng hoạt động của hệ thần kinh tự trị. Sử dụng điếu ngải
có thể tạo ra hiệu quả giảm đau đối với cơ thể người. Cũng theo y học cổ truyền, các
phần trên mặt đất của ngải cứu được sử dụng để kháng khuẩn, chống lại các cơn co
thắt và là một chất bổ cho các bộ phận trong cơ thể (Duke et al., 2002).
Lá ngải cứu được dùng như một thảo dược. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra
thành phần chính của naphtha ngải cứu là eudesmol, thujone, camphor, borneo
camphor, 4-terpene alcohol, caryophyllene, axit oleanolic, juniper camphor…
Những thành phần này có thể tồn tại trong khói của bông để cứu ngải (Jin et al.,
2010). Axit artemisic và artemisinin B chiết xuất từ ngải cứu có khả năng chống lại
khối u (Sun et al., 1992). Hoạt động kháng côn trùng cũng đã được tìm thấy ở tinh
dầu ngải cứu (Wang et al., 2006).
Cho dù ảnh hưởng có lợi đã được mô tả bởi những người dùng, tuy nhiên
việc sử dụng ngải cứu và các chế phẩm của nó mà không có sự hướng dẫn của
dược sĩ có thể gây nguy hiểm. Một vài trường hợp ảnh hưởng đã được báo cáo,
tương tác thuốc và ảnh hưởng biên của những sản phẩm này vẫn chưa được hiểu
biết một cách đầy đủ.

nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của ánh sáng được tiến hành với 2 mẫu hạt ngải
cứu thu thập từ vùng Antalya và Tokat. Hạt được đặt trong các khoang sinh
trưởng trong 3 điều kiện chiếu sáng (tối hoàn toàn, 12 giờ tối/ngày và 24 giờ
sáng/ngày) ở 3 mức nhiệt khác nhau (20, 25, và 300C). Kết quả thí nghiệm cho
thấy tỷ lệ nảy mầm của 2 mẫu giống ở tất cả các công thức khác nhau không có ý
nghĩa. Tác giả đã kết luận tốc độ nảy mầm của hạt không chịu ảnh hưởng của
điều kiện chiếu sáng.
Ảnh hưởng của thời điểm thu hái và mật độ trồng đối với năng suất lá,
tinh dầu và artemisinin của một loài cây cùng họ với cây ngải cứu là Artemisia
annua L. đã được tiến hành nghiên cứu bởi Damtew et al. (2011). Thí nghiệm
được tiến hành trên 5 mức mật độ (6.944, 10.000, 15.625, 27.777 và 49.383
cây/ha) và 4 thời điểm thu hái (4, 5, 6 và 7 tháng sau trồng). Kết quả cho thấy năng
suất lá khô cao nhất (3,15 tấn/ha), năng suất tinh dầu cao nhất (19,2 kg/ha) và năng

13


suất artemisinin cao nhất (10,9 kg/ha) thu được ở công thức mật độ 27.777 cây/ha
và thu hoạch vào thời điểm 5 tháng sau trồng.
1.3.2. Một số nghiên cứu ở Việt Nam
Việt Nam hiện có 4.000 loài cây thuốc, hơn 50 loài tảo biển, 75 loài
khoáng vật và gần 410 loài động vật làm thuốc, trong đó có nhiều loại dược liệu
quý được thế giới công nhận như cây hồi, quế, atisô, sâm Ngọc Linh... Tổng sản
lượng dược liệu trồng ở Việt Nam ước tính đạt khoảng 100.000 tấn/năm. Với sự
đa dạng về khí hậu và thổ nhưỡng - đất đai, ngay từ cuối những năm của thập kỷ
60-80 ở Việt Nam đã hình thành những vùng trồng, sản xuất cây dược liệu có
tính chuyên canh. Điều này đã cho thấy nguồn dược liệu ở nước ta rất phong phú.
Tuy nhiên, cho đến nay, nguồn dược liệu nước ta vẫn phải phụ thuộc rất nhiều
vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu mà chưa phát huy được hết những tiềm năng
thảo dược tự nhiên (Sức khỏe đời sống, 2014).

tạo một số hợp chất hóa học trong tinh dầu từ cây ngải cứu ở Quảng Nam. Kết
quả nghiên cứu đã xác định được độ ẩm (lá ngải cứu non là 84,33%, lá ngải cứu
già là 80,89%), hàm lượng tro vô cơ (lá ngải cứu non là 13,92%, lá ngải cứu già
là 15,24%), hàm lượng tinh dầu (lá ngải cứu non là 1,27%, lá ngải cứu già là
1,57%), hàm lượng kim loại nặng trong lá ngải cứu nằm trong giới hạn cho phép
sử dụng của Bộ Y tế. Nghiên cứu đã kết luận dung môi tối ưu để chiết tách các
cấu tử trong lá ngải cứu là metanol. Đồng thời nghiên cứu đã định danh được các
chất có trong tinh dầu ngải cứu, trong đó các cấu tử chủ yếu thuộc các nhóm
monoterpen, secquiterpen, diterpen bao gồm dẫn xuất của phenol, ancol, xeton...
Về ảnh hưởng của mật độ trồng đến sinh trưởng, phát triển và năng suất
của ngải cứu, Nguyễn Tiến Cường (2012) đã kết luận: Mật độ trồng khác nhau có
ảnh hưởng rõ đến sinh trưởng phát triển cây ngải cứu. Mật độ trồng tăng dần từ
15 cây/m2 đến 40 cây/m2 làm tăng khả năng tăng trưởng về chiều cao cây, số
mầm tái sinh, chỉ số diện tích lá cũng như tỷ lệ thân/lá. Mặt khác lại làm giảm số
lá/cây, đường kính thân, tỷ lệ tươi/khô.
Theo kết quả nghiên cứu của Ninh Thị Phíp và cs. (2015) cho rằng đặc điểm
sinh trưởng của các giống ngải cứu khá đa dạng. Khi nghiên cứu 10 mẫu giống, kết
quả phân tích hàm lượng tinh dầu và flavonid khác nhau. Giống G13, G14 là những
giống cho hàm lượng tinh dầu và flavonoid cao đây là những giống thích hợp để
chiết xuất tinh dầu. Đồng thời kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra, giống khác nhau, khả
năng sinh trưởng ảnh hưởng lớn đến thời gian thu hái và số lứa/hái/năm.

15


1.4. Một số kết quả nghiên cứu về thời gian tưới nước cho cây trồng
1.4.1. Vai trò của nước và ảnh hưởng của hạn đối với cây trồng
Nước là một trong những nhân tố quan trọng nhất đới với tất cả các cơ thể
sống. Nước chiếm trên 90% khối lượng chất nguyên sinh và nó quyết định tính
ổn định của cấu trúc keo nguyên sinh. Với thực vật, khi hàm lượng nước trong tế

chất nguyên sinh, cuối cùng ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất bình thường
của cơ thể. Trong thời gian cây bị hạn, hàm lượng nước tự do trong lá giảm
xuống nhưng hàm lượng nước liên kết lại tăng lên. Chất nguyên sinh của tế bào
có tính đàn hồi lớn thì cây có khả năng chịu hạn cao. Hạn còn ảnh hưởng đến hô
hấp. Trong thời gian khô hạn, ở những cây trung sinh thường tăng cường hô hấp.
Nhờ gia tăng hô hấp mà cây giữ được độ ngậm nước của keo nguyên sinh chất.
Sự tăng cường quá trình thuỷ phân khi gặp điều kiện khô hạn là nguyên nhân
tăng cường hô hấp trong cây. Khi mất nước ban đầu hô hấp tăng, nhưng sau đó
giảm đột ngột, nếu tình trạng thiếu nước kéo dài.
Thiếu nước ảnh hưởng đến quang hợp. Hạn hán đã ảnh hưởng xấu đến quá
trình hình thành diệp lục, phá hoại lạp thể nên hiệu suất quang hợp giảm xuống
nhanh chóng. Cây trúc đào khi bị hạn thì cường độ quang hợp giảm 40%. Hạn
ảnh hưởng đến hoạt động hút khoáng của hệ rễ, dẫn đến tình trạng thiếu những
nguyên tố dinh dưỡng quan trọng trong quá trình trao đổi và tổng hợp các chất
hữu cơ khác nhau trong cơ thể thực vật. Hạn ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình
sinh trưởng các tế bào, đặc biệt là trong pha giãn của tế bào, từ đó mà ảnh hưởng
đến quá trình sinh trưởng của toàn cây (dẫn theo Hoàng Minh Tấn và cs., 2006).
1.4.2. Các nghiên cứu về đánh giá khả năng chịu hạn của cây trồng
Ảnh hưởng của chế độ nước đến sinh trưởng của cây trồng đã được đề
cập đến ở mức độ tế bào trong những nghiên cứu của Kramer (1983),… Về mặt
hình thái, Boyer (1968) cho rằng sự lớn lên của lá rất nhạy cảm với chế độ
nước, khi thiếu nước lá cây thường nhỏ. Tổng khối lượng khô của cây bạch đàn
Eucalyptus globules bị giảm nhiều trong điều kiện thiếu nước, nguyên nhân do
sự phát triển của lá mới bị hạn chế dẫn đến tổng diện tích lá giảm (Metcalfe et
al., 1989). Đối với loài thông đỏ sự nảy chồi và tỷ lệ sống bị giảm rất nhiều
trong điều kiện độ ẩm không khí thấp. Rễ của loài này có xu hướng ngừng phát
triển khi bị thiếu nước (Wilcox and Farmer, 1968).
Ảnh hưởng đầu tiên và quan trọng nhất của hạn hán là nảy mầm (Harris et
al., 2002). Sinh trưởng tế bào được coi là một trong những quá trình sinh lý rất


thuộc vào sự khác biệt của bộ máy quang hợp (PSA) trong thời kỳ khô hạn mà
chia thành 2 nhóm cây chịu khô hạn là Homochlorophyllous chịu khô hạn (HDT)
và Poikilochlorophyllous chịu khô hạn (PDT) (Bewley, 1979). Sự khác biệt

18


quang trọng nhất giữa HDT và PDT là PSA của HDT vẫn có khả năng phục hồi
lại, còn ở PDT thì chlorophyll và hệ thống màng thylakoid bị suy thoái và cần
phải phục hồi và tái tạo lại. Kết quả của thiếu nước là khí khổng đóng, tốc độ
thoát hơi nước giảm, giảm lượng nước trong mô, quang hợp giảm và ức chế sinh
trưởng, tích lũy ABA, proline, manntiol, sorbiol, hình thành gốc tự do trong các
hợp chất như (Ascorbate, Glutathione, α-tocopherol…) protein tổng hợp và
mRJAs. Bên cạnh những phản ứng sinh lý thực vật cũng trải qua các thay đổi về
hình thái. Một trong những thay đổi lớn nhất là sự thích nghi của lục lạp với ánh
sáng mạnh và ánh sáng yếu.
Ở thực vật, khi đề cập cơ chế chịu hạn người ta thường chú ý đến vai trò
của bộ rễ và khả năng điều chỉnh áp suất thẩm thấu của tế bào.
Ở cây đậu tương sự thích nghi với các điều kiện hạn hán chủ yếu thông
qua việc phát triển rễ trụ để có thể tìm kiếm các nguồn nước từ các lớp đất sâu
(Taylor et al., 1978). Bên cạnh đó hệ thống rễ sợi phát triển cũng giúp cho cây có
thể vươn tới các lớp đất có độ ẩm cao và tìm kiếm các chất dinh dưỡng. Một
trong những nhân tố chính ảnh hưởng đến độ sâu của rễ đậu tương là tỉ số kéo dài
rễ trụ. Do rễ trụ được hình thành đầu tiên ở đậu tương, chính vì thế việc xác định
các giống đậu tương có đặc tính kéo dài rễ trụ nhanh sẽ cho phép xác định khả
năng đâm sâu của rễ. Sự khác nhau về tính trạng kéo dài bộ rễ ở các giống đậu
tương đã được nghiên cứu khá chi tiết ở trong điều kiện nhà lưới. Kaspar et al.
(1984) đã đánh giá 105 giống đậu tương khác nhau cho thấy tỉ số kéo dài rễ trụ
khác nhau giữa các giống vào khoảng 1,3 cm/ngày. Những nghiên cứu tiếp theo
trên các giống có tỉ số kéo dài rễ trụ cao cho thấy những giống này có thể lấy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status