Khảo sát hoạt động của một số nhà thuốc GPP tại hà nội thông qua một số chỉ tiêu của thực hành nhà thuốc tốt - Pdf 34

MỤC LUC

TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHU LUC


QUI ƯỚC VIẾT TẮT

ĐTV

Điều tra viên

FIP

GPP

International Pharmaceutical Federation (Hiệp hội Dược Quốc tế)
Good Pharmacy Practice (Thực hành tốt nhà thuốc)

HDSD

Hướng dẫn sử dụng

HSD

Hạn sử dụng

NTTN

Nhà thuốc tư nhàn


mon tir nam 2005-2007.
S6 luong nha thuOc vi pham cac quy djnh ve chit luong thuoc
tir nam 2005-2007.
So lirong nha thuoc GPP cua Ha Noi tinh den
30/06/2009.
So sanh ty le nha thuoc dat GPP vdri cac nha thuoc chira dat
GPP tai khu virc Ha Noi tai thcri diem 30/06/2009.
So luong nha thuOc dat GPP tai khu virc ha N6i qua tirng giai
doan.
SO luong cac nha thuoc dat GPP tinh thco tirng quan tai khu
vuc Ha Noi.
Co cau cac nha thuoc dupe cap GPP tai Ha Noi tir 7/2(K)7
den 6/2009.
So luong cac nha thuOc benh vien dat GPP theo tirng nam tir
2007 den 6/2009 tai Ha Noi.
Cac 16i vi pham cua cac nha thuOc GPP thco ket qua thanh
tra cua So Y tO Ha NOi.
Ke't qua khao sat mot so tieu chuain ve CSVC cua cac nha
thuOc GPP.
Ket qua khao sat ve trang thiet bj cua nha thuoc.
Ket qua khao sat viec ni6m yet gia thuOc va thong bao cac
thuoc bi thu hoi tai cac nha thuoc.

Trang
16
17
18
18
29
30

3.5

Kết quả khảo sát việc mặc áo blu, deo thẻ của nhân vicn nhà
thuốc.
Kết quả khảo sát về SDK và hạn sử dụng của các thuốc mua
được.
Kết quả khảo sát về nhãn thuốc và bao bì đựng thuốc của các
thuốc mua dược.
Kết quá kháo sát về việc thực hiộn qui dinh sử dụng bao bì để
dựng thuốc cho khách hàng.
Số lượng các nhà thuốc có nhân viên bán hàng dặt câu hỏi khi
ĐTV đến hỏi mua thuốc.
Các câu hỏi mà nhân viên bán hàng đưa ra khi ĐTV yêu cầu
được mua vỉ Chlorpheniramin.
Các câu hỏi của nhân viên bán hàng khi ĐTV yêu cầu mua
Voltaren.
Sô lượng nhà thuốc có đưa ra lời khuyên khi ĐTV dến mua
thuốc.

43
44
45
47
49
52
54
56

Kết quả khảo sát về những lời khuyên đã được đưa ra cho
T ê nChlorpheniramin.

HDSD
mà06/2009.
nhà thuốc đã đưa ra cho khách hàng khi mua
Tỷ lệ các nhà thuốc đạt GPP tính theo từng quận tại Hà Nội.
Chlorpheniramin.
Các HDSD nia nhà thuốc đã dưa ra cho khách hàng khi mua

3.29

Cơ cấu các nhà thuốc được cấp GPP tại Hà Nội từ 7/2007
Voltarcn.
Kết
khảo sát về việc ghi HDSD cho khách.
đến quả
6/2009.

3.6

Tỷ lệ nhà thuốc có thực hiện qui định sử dụng bao bì khi bán

30
61
31
62
63
33
64
35
65
47

là người cung cấp thuốc mà còn có vai trò là những nhà tư vấn, cung cấp những
thông tin quan trọng về thuốc cho bệnh nhân để thoả mãn yêu cầu của họ. Hơn nữa,
người dược sĩ phải là người hướng dẫn và giám sát việc sử dụng thuốc, phải luôn coi
trọng bộnh nhân, coi trọng và phối hợp với những người làm việc trong lĩnh vực sức
khoẻ cộng đồng hay đúng hơn các dược sĩ chính là một bộ phận của hộ thống chăm
sóc sức khoe có vai trò quản lý, phân phối thuốc [21].
Bên cạnh đó, một thực tế mà toàn thế giới trong đó có Việt Nam đang phải đối
mặt là tình trạng lạm dụng thuốc, sử dụng thuốc bừa bãi, đặc biệt là lạm dụng kháng
sinh, corticoid, các loại vitamin... Tại Hội nghị quốc tế họp tại Luân Đôn ngày
16/7/1996, các nhà khoa học đã cảnh báo “ thế giới đang đứng trên bờ vực của cuộc
khủng hoảng sức khoẻ cộng đồng do tình hình kháng kháng sinh của vi khuẩn gia
tăng, nhiều bệnh nhân không còn đáp ứng với kháng sinh và chết do không có thuốc
hiệu lực” [1]. Việc lạm dụng thuốc không chỉ do người sử dụng mà còn do cả các
nhân viên y tế trong đó bao gồm cả những người bán thuốc.
Trước tình hình cấp bách đó, trên cơ sở dựa vào các nguyên tắc chung về
“Thực hành tốt nhà thuốc” (Good Pharmacy Practice, viết tắt là GPP) mà Liên đoàn


6

Dược phẩm quốc tế đã xây dựng, căn cứ vào tình hình thực tế của Việt Nam, ngày 24
tháng 1 nãm 2007 Bộ y tế- Cục quản lý dược Việt Nam dã chính thức ban hành văn
bản “ GPP của Việt Nam”, đồng thời cũng dã xây dựng một lộ trình cụ thể cho việc
triển khai GPP tại Việt Nam. Theo đó, kể từ ngày 01/01/2011 tất cả các nhà thuốc
trên cả nước phải đạt GPP. Riêng Hà nội ( cùng với Đà Nẩng, thành phố Hồ Chí
Minh và Cần Thơ), kể từ ngày 01/07/007, các nhà thuốc bổ sung chức năng kinh
doanh thuốc hay thành lập mới tại nội thành đều phải đạt GPP.
Với khoảng gần 2000 cơ sở bán lẻ thuốc đang hoạt động trên địa bàn, thì việc
triển khai GPP đúng lộ trình mà Bộ y tê đã đặt ra là một thách thức không nhỏ đối
với các cơ quan chức năng của Hà nội. Đặc biệt là trong khoảng thời gian đầu, viộc

Tại Delhi năm 1988 và Tokyo năm 1993, WHO đã tổ chức các cuộc họp để
khẳng định và thống nhất về “ vai trò của người dược sỹ”.
Năm 1992 Hiệp hội Dược Quốc tế ( International Pharmaceutical FederationFIP) đã lần đầu tiên xây dựng tiêu chuẩn về GPP.
Năm 1993 FIP công bố hướng dẫn thực hiện GPP.
Tháng 4/1997, sau nhiều lần sửa dổi, FIP cùng với WHO thống nhất nội dung
của GPP. Và cũng trong năm này, đại hội FIP đã chính thức thông qua nội dung GPP.
Đến thời điểm hiện tại, các nội dung của GPP đã được tuyên truyền rộng rãi
và được công bố chính thức bằng ba thứ tiếng Anh, Pháp và Tây Ban Nha.
1.1.2. Thực hành tốt nhà thuốc và vai trò mói của người dược sỹ.
1.1.2.1.

Khái niệm và các yêu cầu cơ bản của thực hành tốt nhà thuốc.

> Khái niêm về thưc hành tốt nhà thuốc:
“Thực hành tốt nhà thuốc" (Good Pharmacy Practice, viết tắt là GPP) là văn
bản đưa ra các nguyên tắc cơ bản của người dược sỹ trong thực hành nghề nghiệp tại
nhà thuốc trên cơ sở tuân thủ các tiêu chuẩn đạo đức và chuyên môn ở mức cao hơn
những yôu cầu pháp lý tối thiểu [9].
Trong tuyên ngôn Tokyo năm 1993, Liên đoàn Dược phẩm quốc tế đã đưa ra
khái niệm thực hành tốt nhà thuốc như sau: nhà thuốc thực hành tốt là nhà thuốc
không chỉ nghĩ đến lợi nhuận kinh doanh của riêng mình mà còn quan tâm đến lợi ích
của người mua hàng, lợi ích chung của toàn xã hội. Sau đó Tổ chức y tế thế giới đã
phối hợp với Liên đoàn dược phẩm quốc tế ban hành tiêu chuẩn về chất lượng phục
vụ của nhà thuốc, bao gồm các kỹ năng thực hành và thông tin hướng dẫn sử dụng
thuốc, được gọi là Chế độ thực hành tốt nhà thuốc (GPP) [24].
>

Muc đích của thưc hành tốt nhà thuốc:



Mỗi điểm trên đều có tính riêng biệt và có ảnh hưởng lẫn nhau trong hành nghề

của người dược sĩ .
>

Nhiêm vu của thưc hành tốt nhà thuốc Í91:
o Tăng cường sức khoẻ, phòng ngừa bệnh tật nhằm đạt các mục tiêu y tế.
o Cung cấp, sử dụng thuốc và các sản phẩm chăm sóc sức khoẻ.


9

o HỖ trợ cho viộc tự chăm sóc sức khoẻ bao gồm cả tư vấn và nếu thích hợp
bao gồm cả việc cung ứng một thuốc hoặc biộn pháp điều trị chứng bệnh
để người bệnh tự diều trị.
o Gây ảnh hưởng đến việc kê đơn và sử dụng thuốc [9].
>

Nỏl dunư thưc hành tốt nhà thuốc 191:
o Các hoạt động liên quan đến tăng cường sức khoẻ và phòng ngừa bệnh tật.
o Các hoạt động liên quan đến viộc cung ứng, sử dụng thuốc và các sản phẩm y
tế.
o Các hoạt động liên quan đến tự chăm sóc sức khoẻ.
o Các hoạt động liên quan có khả năng ảnh hưởng tới thực hành kê đơn và sử
dụng thuốc.
Ngoài ra thực hành tốt nhà thuốc cũng bao gồm:
o Sự phối hợp với các cán bộ y tế khác nhằm giảm thiểu sự lạm dụng và sử
dụng sai về thuốc.
o Các đánh giá nghề nghiệp về quảng cáo thuốc và các sản phẩm y tế khác.
o Việc phổ biến các thông tin đánh giá về thuốc và công tác chăm sóc sức khoẻ.

khách hàng cần phải thực hiện đầy đủ các bước: Q - A- T , trong đó [29]:
- Q : Questions: Những câu hỏi mà người bán thuốc đã hỏi khách hàng.
-

A: Advices: Những lời khuyên mà người bán thuốc đưa ra cho khách hàng.

-

T : Treatment: Thuốc mà người bán thuốc đã bán cho khách hàng.

Người bán thuốc kiến thức càng sâu thì QAT càng phong phú, chất
lượng phục vụ càng tốt, uy tín với khách hàng càng cao [29].
Theo hướng dẫn của một nghiên cứu ở Ghana, quá trình tư vấn cho khách
hàng gồm 6 bước, viết tắt là G A T H E R [32]:
G: Greeting: Cách đón tiếp khách hàng.
A: Asking: Hỏi bệnh nhân..
T : Telling: Nói về các tác dụng phụ có thể có của thuốc.
H : Help: Giúp khách hàng lựa chọn thuốc phù hợp.
E: Explaining: Hướng dẫn cách sử dụng thuốc.
R : Retum: Kế hoạch cho những lần gặp sau .
Thuốc là hàng hoá đặc biệt đóng vai trò quan trọng đối với sức khoẻ và tính
mạng của người dùng. Vì vậy, người bán thuốc phải thường xuyên thận trọng và đặt
sức khoẻ, tính mạng của người bệnh lôn trên hết. Hơn nữa khách hàng là những
người bệnh đang có những đau khổ và lo lắng. Do đó người bán thuốc phải có thái độ
nhã nhặn, lịch sự, luôn tỏ ra tế nhị, thông cảm và tôn trọng khách hàng.


1
1


- Cung cấp thõng tin về những loại thuốc mà mình bán cho khách hàng.
- Khuyên khách hàng không nên dùng thuốc khi không cần thiết.


12



Người cung ứng thuốc có chất lượng

- Chỉ bán thuốc khi có nguồn gốc rõ ràng.
- Thuốc phải được bảo quản đúng theo yêu cầu.
- Thuốc phải có nhãn rõ ràng, chính xác.


Người huấn luyện và giám sát

-

Cam kết tham gia các hoạt động có liên quan đến đào tạo liên tục về y cũng
như về dược.

-

Giám sát và đào tạo nhân viên của mình (dược trung, dược tá,...). “Chuyển”
khách hàng đến nhà thuốc khác khi thấy cần thiết.



Cộng tác viên


1
3

Trong những năm gần đây, khái niệm chăm sóc dược (pharmaceutical- care)
đã được đưa ra và xem như một triết lý cho thực hành dược mà trong đó bệnh nhân
và cộng đồng là những đối tượng hưởng lợi đầu tiên từ những thực hành của người
dược sỹ. Khái niệm này đặc biệt thích hợp với những nhóm đối tượng đặc biệt như
người già, các bà mẹ, trẻ em và bệnh nhân bị các bệnh mãn tính cũng như toàn cộng
đổng nếu xét về khía cạnh chi phí. Trong khi các khái niệm cơ bản về chăm sóc dược
và thực hành nhà thuốc tốt là tương đối giống nhau thì có thể nói thực hành nhà thuốc
tốt là cách thức để thực hành chăm sóc dược tốt [33].
Như vậy, với tiêu chuẩn này, người dược sĩ nói riông hay người bán thuốc nói
chung không chỉ là người bán thuốc đơn thuần mà còn là người tư vấn người mua
thuốc về những tình huống thông thuờng hay gặp ở nhà thuốc [15].
1.2.

Một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn dịch vụ dược của

cộng đồng và vai trò của dược sĩ trong việc cung ứng thuốc.
Trên thế giới vân đề tự cung ứng thuốc (nguồn ngoài ngân sách nhà nước)
ngày càng được thúc đẩy và được coi là biện pháp làm giảm gánh nặng cho ngân
sách nhà nước. Tuy nhiên, việc này cũng làm nảy sinh nhiều vấn đề mà điển hình là ở
các nước kém phát triển, do chính sách trên nên gần như tất cả các thuốc đều có sẵn
trên thị trường và đều có thể mua bán không cần đơn. Bên cạnh đó là xu hướng gia
tăng số người tự sử dụng các thuốc có tính chất thương mại hoá, sự xuất hiện của
những người bán thuốc bất hợp pháp. Sự phát triển nhanh chóng về sô' lượng, các sản
phẩm sần có và sự thay đổi sức mua của người tiêu dùng làm cho sức khoẻ đang dần
bị dược phẩm hoá và con người ngày càng lê thuộc vào thuốc [30],
Một vài nghiên cứu đã chỉ ra rằng xu hướng người bệnh thường đi thẳng đến

riêng minh. Sẽ không bao giờ có một tiêu chuẩn GPP chung cho tất cả các quốc gia,
nhưng tất cả các tiêu chuẩn về GPP phải dược xây dựng trên một khung chung (do
F1P và WHO đề xuất). Các quốc gia có thể điều chỉnh các qui định cho phù hợp và
dễ triển khai ở mỗi nước [ 23]. Tại hội nghị ở Hague năm 1998, FIP cũng đã thông
qua bản hướng dẫn triển khai GPP cho các nước đang phát triển. Theo đó, bản hướng
dãn đã thiết kế ra những bước cơ bản nhằm hỗ trợ ban đầu cho các quốc gia này


1
5

trong việc thực hiện GPP như xây dựng chính sách thuốc quốc gia, thắt chặt pháp chế
về dược, xây dựng các tiêu chuẩn về cơ sở vật chất, đào tạo dược sỹ...[25]
Trên cơ sở các hướng dẫn của FIP và WHO, các quốc gia Châu Âu đã cụ thể
hoá chế độ GPP thành quy trình QAT ( Đưa ra những câu hỏi đúng, đưa ra lời
khuyên đúng và bán đúng thuốc) khi bán thuốc/cấp phát thuốc cho khách hàng/người
bệnh. Ở các nước Bắc Mỹ cũng cụ thể hoá GPP thành quy trình GATHER về cơ bản
cũng như QAT [23].
Khi khái niệm vẻ GPP được FIP đề xuất và chấp nhận, nó cũng được hiộp hội
dược châu Âu (PGEU) chấp nhận và triển khai trên một số quốc gia thành viên [23].
Một số nước Bắc Âu như Nauy, Thụy Điển, Phần Lan đã có những quy định vẻ GPP
cho từng nước. PGEƯ cũng đưa ra thời gian biểu khác nhau cho từng nội dung cũng
như từng hoạt động của GPP [29].
Tại Ấn Độ, Hiệp hội Dược phẩm (IPA) đã ban hành hướng dẫn GPP năm
2004. Và để thúc đẩy thực hiện GPP, IPA đã tiến hành dự án đào tạo cho các nhân
viên nhà thuốc về sử dụng thuốc an toàn, hợp lý. Đồng thời, với sự giúp đỡ của cơ
quan đại diện của WHO tại An Độ, IPA đã xây dựng và cho ban hành sách hướng
dẫn dược sỹ cộng đồng với các nội dung rất chi tiết, cụ thể về các hoạt động trong
nhà thuốc như mua bán thuốc, bảo quản thuốc, phân phối thuốc, bán lẻ thuốc, kiểm
kê hàng hóa, tư vấn cho bệnh nhân, ghi chép và lưu trữ hồ sơ bệnh nhân [27]. Từ

vấn đề như các qui định về nhà thuốc chưa được tuân thủ nghiêm ngặt, nhận thức của
cộng đồng còn thấp đặc biệt là nhận thức của các dược sỹ trẻ về GPP còn rất nhiều
hạn chế do việc tuyên truyền và quảng bá về ưu điểm cũng như lợi ích của GPP còn
chưa được chú trọng.
Tại Lào, để xúc tiến việc thực hiện GPP, 10 chỉ báo về GPP đã được xây
dựng, bao gồm : 1. Điều kiện về cơ sở vật chất, diện tích. 2. Các thuốc cấm lưu hành.
3. Sự có sẵn các thuốc thiết yếu. 4. Chất lượng thuốc và hạn dùng của thuốc. 5. Hóa
đơn mua thuốc. 6. Thực hành cấp phát thuốc. 7. Việc bán thuốc sốt rét và tiêu chảy.


1
7

8. Bán kháng sinh phải có đơn. 9. Sự sẵn có các tài liệu cần thiết cho viộc thực hành
phân phối thuốc tốt. 10. Sự có mặt của các dược sỹ tại nhà thuốc.
Mông Cổ cũng đã xây dựng kế hoạch cải thiện việc thi hành pháp chế dược để
thúc đẩy thực hiện GPP bao gồm: đổi mới tiêu chuẩn quốc gia về nhà thuốc trên
nguyên tắc chung của FIP và WHO; phát triển và ban hành các tài liệu tham khảo vể
GPP; đào tạo nhân viên y tế về GPP; hướng dẫn sử dụng máy tính trong các hiệu
thuốc. Hiện tại, các nhà thuốc GPP ở đây vãn phải đối mặt với nhiều vấn đề khó khăn
như số lượng dược sỹ làm việc tại nhà thuốc không nhiều, rất ít khách hàng đến mua
thuốc có mang theo đơn thuốc, sự hợp tác giữa bác sỹ và dược sỹ cộng đồng chưa
được coi trọng và gần như không có.
Như vậy, dù đã có nhiều nước bắt đáu triển khai thực hiện GPP, tuy nhiên kết
quả thu được trên thực tế chỉ mới đáp ứng được một số tiêu chí chính của GPP. Điều
này cũng đã được chứng minh thông qua một cuộc khảo sát về nhà thuốc cộng đồng
do FIP tiến hành tại 6 nước khu vực Đông Nam Á vào hai tháng 4 và 5 năm 2007.
Trong cuộc khảo sát này, các tiêu chí như cơ sở vật chất, quá trình cấp phát, bao gói,
dán nhãn thuốc, lưu trữ hồ sơ bệnh nhân và sự tư vấn cho bệnh nhân đã được đánh
giá dựa trên các tiêu chuẩn mà FIP và WHO đã ban hành. Kết quả cho thấy, hầu hết

hiểu rõ về quy chế “ kê đơn và bán thuốc theo đơn” nhưng không thực hiện một cách
nghiêm túc, đặc biệt là trong việc bán thuốc kháng sinh [18]. Ngoài ra, theo một số
nghiên cứu, tỷ lệ người bán thuốc có hỏi người mua về triệu chứng, tiền sử... của
bệnh nhân lại rất thấp [13] [16].
Hiện nay, Hà nội là điạ phương có số lượng nhà thuốc lớn thứ hai trong tổng
số 9000 nhà thuốc tư nhân của cả nước ( chỉ sau thành phố Hồ Chí Minh) [19]. Số
lượng nhà thuốc ở Hà nội trong một số năm gần đây được thể hiện qua bảng 1.1:
Bảng 1.1. Sô lượng nhà thuốc trên địa bàn Hà Nội từ nám 2004-2008.
Năm

2004

Sô lượng

1072

ị Nguồn: Sở Y tế Hà nội)

2005
1180

2006

2007

2008

1355

1503

môn và thực hiện đúng các yêu cầu mà các cơ quan quản lý đặt ra là rất khó khăn.
Đây chính là một thách thức mà các nhà quản lý phải lường được trước khi tiến hành
triển khai GPP. Bởi việc thanh tra, kiểm tra thường xuyên là một trong những biện
pháp để duy trì và nâng cao hơn nữa chất lượng của các nhà thuốc GPP, đảm bảo cho
các nhà thuốc này luôn thực hiện đúng các tiêu chí và quy định của GPP mà Bộ Y tế
đã xây dựng.
Mặc dù mỗi năm sở Y tế Hà Nội chỉ thanh tra được một số lượng không nhiều
các nhà thuốc (số lượng nhà thuốc được thanh tra qua các năm 2005, 2006, 2007 lần
lượt là 289, 202, 298), tuy nhiên cũng đã phát hiện nhiều nhà thuốc vi phạm các quy
định và quy chế chuyên môn. Dưới đây là thống kê về số lượng các nhà thuốc vi
phạm qua một số năm:
• Các nhà thuốc vi phạm các quy định về cơ sở vật chất, trang thiết bị:


21

Bảng 1.2. Số lượng nhà thuốc vi phạm các quy định vê cơ sở vật chất, trang
thiết bị từ năm 2005-2007.
Các quy định bị vi
STT
2005
2006
2007
phạm
1

Địa diểm hành nghé

5


9

6

5

Nhà thuốc không riêng biệt

2

6

3

( Nguồn: Sở Y tế Hà Nội)
i

• Các nhà thuốc vi phạm việc thực hiện các quy chế chuyên môn:
Bảng 1.3. Sô' lượng nhà thuốc vi phạm việc hiện các quy chế chuyên môn từ
năm 2005-2007.
STT

Vi phạm quy định

2005

2006

2007


4

Niêm yết giá thuốc không đúng quy định.

59

15

92

5

Không ghi chép sổ sách.

76

46

28

20

8

10

6

Không mặc áo blu và đeo thẻ khi bán hàng.


Thuốc không có SDK

8

10

3

Thuốc kém chất lượng về mặt cảm quan

5

1

10
1

( Nguồn: Sở Y tế Hà Nội)
Các kết quả thanh tra ở trên đã cho thấy, trên địa bàn Hà Nội, hàng năm vẫn còn rất
nhiều các nhà thuốc vi phạm các qui định rất quan trọng như dược
sỹ váng mặt khi nhà thuốc hoạt động, khổng ghi chép sổ sách tài liệu, bán thuốc hết
HSD, thuốc không có SDK, không niêm yết giá thuốc theo yêu cầu,... Điều này đã
một phẩn nào chứng minh rằng, hộ thống các NTTN ở khu vực Hà Nội vẫn đang còn
nhiều hạn chế. Ý thức chấp hành các qui định của các nhà thuốc chưa cao, chưa thực
s ự chú trọng tới sức khoẻ người bệnh mà chỉ tập trung vào lợi ích kinh tế. Đặc biệt,
vai trò của người dược sỹ phụ trách chuyên môn còn chưa được đánh giá đúng ,
nhiều nhà thuốc không thực sự do dược sỹ điều hành mà do dược tá thậm chí cả
những người không có chuyên môn phụ trách. Bên cạnh đó về cơ sở vật chất, trang
thiết bị của nhà thuốc cũng còn nhiều bất cập, nhiều nhà thuốc không có đủ diện tích
theo yêu cẩu, vấn đề bảo quản còn chưa được chú trọng...

sáng, nhiệt độ, độ ẩm, sự ô nhiễm, sự xâm nhập của côn trùng như: tủ, quầy, giá kộ
chắc chắn; nhiệt kế, ẩm kế, hệ thống chiếu sáng, quạt thông gió, tủ lạnh. Yêu cầu
nhiệt độ phòng duy trì dưới 30°c, độ ẩm không vượt quá 75%.


Về hồ sơ sổ sách và tài liệu chuyên môn của nhà thuốc:
Có các tài liệu hướng dẫn sử dụng thuốc, các quy chế dược hiên hành, các hồ

sơ sổ sách liên quan đến hoạt dộng kinh doanh thuốc như sổ theo dõi bán hàng, sổ
nhập hàng.... Phải xây dựng và thực hiện theo các quy trình thao tác chuẩn dưới dạng
văn bản, tối thiểu phải có các quy trình sau: quy trình bán thuốc theo đợn, quy trình
bán thuốc không kê đơn, quy trình mua thuốc và kiểm soát chất lượng, quy trình bảo
quản và theo dõi chất lượng, quy trình giải quyết đối với thuốc bị khiếu nại hoặc thu
hồi.


Về các hoạt động chủ yếu trong nhà thuốc:
Các hoạt động chủ yếu trong nhà thuốc gồm mua thuốc, bán thuốc và bảo

quản thuốc. Đối với hoạt động bán thuốc, yêu cầu nhân viên bán hàng phải tuân thủ
những bước cơ bản như sau:


24

o Người bán lẻ phải hỏi những câu hỏi liên quan đến bệnh và thuốc mà người
mua yêu cầu.
o Người bán lẻ tư vấn cho người mua về lựa chọn thuốc thích hợp, cách dùng
thuốc, cách sử dụng thuốc bằng lời nói.
o Trường hợp không có đơn thuốc kèm theo, người bán lẻ phải hướng dẫn sử

o Kể từ ngày 01/01/2011, tất cả các nhà thuốc trong cả nước đểu phải đạt GPP.
o Kể từ ngày 01/01/2013, tất cả các quầy thuốc trong cả nước đều phải đạt GPP.
Công việc chính trong việc triển khai khái niệm GPP chính là hoạt động thông
tin, giáo dục về GPP tới nhà thuốc và nhân sự tại nhà thuốc. Mọi người phải hiểu,
chấp nhận và nhìn thấy lợi ích của GPP.
1.6.

Một số công trình nghiên cứu về vấn đề GPP đã được thực hiện

trước đây.
Năm 1997-2000, Trường ĐH Dược Hà nội phối hợp với viện
Karolinska( Thụy Điển), Trường ĐH Y học lâm sàng nhiệt đới London (Anh), và Bộ
y tế Thái Lan triển khai dự án “ Hướng tới việc thực hiện chế độ thực hành nhà thuốc
tốt ở Thái Lan và Việt Nam”. Dự án này đã áp dụng các biện pháp can thiệp đối với
các nhà thuốc tư ở Hà nội để thúc đẩy các nhà thuốc tư nhân tiếp cận và thực hiện
theo quy trình QAT khi cung ứng/cấp phát thuốc [11].
Năm 1998-2002, đề tài về tiến hành các biện pháp đa can thiệp đối với các cơ
sở hành nghề Y học cổ truyền tư nhân trên địa bàn Hà nội để hướng các cơ sở này
thực hiện quy trình QAT trong hoạt động cung ứng/cấp phát thuốc cho khách hàng,
được thực hiện bởi Nguyễn Thanh Bình 11].
Một công trình nghiên cứu về tình hình cung ứng thuốc cho cộng đồng của
các nhà thuốc tư và biện pháp nâng cao hiệu quả, của tác giả Nguyễn Thị Kim Chúc,
luận án Phó tiến sỹ khoa học y Dược, đã được tiến hành thực hiện vào năm 1996 [8].
Năm 2005, đề tài nghiên cứu cấp trường về Đánh giá chất lượng dịch vụ cung
ứng thuốc của nhà thuốc tư và hiệu thuốc trên địa bàn Hà nội, được thực hiện bởi
Nguyễn Thanh Bình, Đỗ Xuân Thắng [2].
Như vậy, mặc dù các nghiên cứu ở trên đều có đề cập tới vấn đề này, tuy
nhiên, tất cả những nghiên cứu đó đều được tiến hành tại thời điểm chưa có sự ra đời



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status