1
PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1. ĐẶT VẤN ĐỀ
May mặc là nhu cầu không thể thiếu của con người từ xưa đến nay.
Trải qua quá trình phát triển của nhân loại đã nghiên cứu tìm ra nhiều
nguyên liệu phục vụ cho nhu cầu may mặc của bản thân mình. Trong đó tơ
tằm là một nguyên liệu có truyền thống từ lâu đời và vẫn được duy trì, phát
triển đến tận ngày nay.
Nhắc đến tơ tằm là ta nghĩ ngay đến nghề trồng dâu nuôi tằm. Nghề
trồng dâu nuôi tằm có lịch sử phát triển từ rất lâu đời, cho đến nay chưa ai
khẳng định được nguồn gốc của nghề trồng dâu nuôi tằm bắt nguồn từ
đâu. Theo nhiều tài liệu nghiên cứu cho rằng nghề trồng dâu nuôi tằm bắt
nguồn từ Trung Quốc đã hơn 5000 năm trước [7]. Ở Việt Nam trồng dâu
nuôi tằm là nghề truyền thống có từ rất lâu chỉ sau nghề trồng lúa nước.
Cho đến nay nhân dân ta vẫn còn lưu truyền và sử sách vẫn còn ghi câu
chuyện Nguyên Phi Ỷ Lan thời đại vua Lê Thánh Tông dạy nhân dân nghề
trồng dâu ươm tơ dệt lụa.
Cây dâu đã được con người biết đến và sử dụng từ rất lâu. Quả dâu
được sử dụng là một vị thuốc làm tăng sức khoẻ. Lá dâu dùng để chữa bệnh
mất ngủ, rễ dâu dung để chữa bệnh khát nước, tiểu nhiều, chữa nhọt, rắn
cắn… Quả dâu còn được dùng làm mứt, rượu, sirô dâu [1]. Nhưng mục đích
chính vẫn là lấy lá để phục vụ cho nuôi tằm.
Chất lượng của tơ tằm đã được khẳng định qua thời gian tồn tại của nó
và được nhiều ngành khoa học công nhận. Tơ tằm là nguyên liệu để sản xuất
Ngày nay cùng với sự phát triển của rất nhiều những tiến bộ khoa học
kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng và sản lượng của các ngành, nông nghiệp
cũng không đứng ngoài xu thế phát triển đó. Đối với tằm dâu ( Bomby mori
L) thì lá dâu là thức ăn duy nhất và không thể thay thế. Đồng thời theo các tài
liệu nghiên cứu của Anomymons ( Nhật Bản) thì 70% prôtêin trong tơ tằm
được tổng hợp trong lá dâu. Chính vì vậy biện pháp nhằm làm tăng chất
lượng và sản lượng của tơ tằm trực tiếp qua việc lai tạo các giống tằm cho
năng suất phẩm chất kén cao, bên cạnh đó còn thông qua việc nâng cao chất 3
lượng của lá dâu nguồn thức ăn duy nhất của tằm. Có thể nói lá dâu cũng là
một yếu tố quyết định năng suất và chất lượng của kén tằm. Bên cạnh đó theo
tính toán thì 60% chi phí sản xuất tơ tằm phục vụ cho quá trình chăm sóc, thu
hoạch và quản lý dâu. Chính vì vậy mà một trong những mục tiêu quan trọng
được đặt ra ở các nước có ngành trồng dâu nuôi tằm phát triển là đảm bảo
năng suất và chất lượng lá dâu để đảm bảo chất lượng tơ kén cao trên 1 ha.
Nhiều giống dâu cho năng suất lá cao và chất lượng lá tốt đã được tạo ra, ở
Việt Nam cũng có những thành tựu đáng kể, các nhà khoa học đã tạo ra các
dâu lai F1: VH
9
, VH
13
cho năng suất lá cao và chất lượng tốt. Ngoài việc sử
dụng các giống dâu cho năng suất cao thì các biện pháp canh tác cũng là một
yếu tố quan trọng quyết định năng suất và chất lượng lá dâu. Trong sản xuất
cây dâu yếu tố canh tác được sử dụng để nâng cao năng suất đầu tiên được sử
nuôi tằm.
- Xác định nồng độ chế phẩm Lá dâu xanh phun cho cây dâu thích hợp
cho sinh trưởng, phát triển, năng suất chất lượng lá dâu.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của phun chế phẩm lá dâu xanh lên lá dâu đã
thu hoạch về nhà trước khi cho tằm ăn tới năng suất và chất lượng kén tằm.
- Xác định nồng độ Lá dâu xanh thích hợp phun lên lá dâu thu hoạch về
nhà trước khi cho tằm ăn đạt năng suất và chất lượng kén tốt nhất.
5
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN
2.1.1. Cơ sở lý luận khoa học.
Sự phát triển của loai người kéo theo hàng loạt các phát minh mới,
các công nghệ khoa học kỹ thuật ra đời, và chúng dược áp dụng triệt để vào
các nghành sản xuất để nâng cao hiệu quả kinh tế. Đối với nông nghiệp
ngày càng được chú trọng đầu tư các biện pháp khoa học kỹ thuật nhằm
nâng cao năng suất cây trồng như: chọn tạo các giống cây trồng mới, sử
Chi: Morus.
Loài : Alba.
Tên khoa học : Morus alba L.
Cây dâu là cây ưa khí hậu mát mẻ và khoẻ nên có thể sống ở nhiều nơi,
mọc nhiều ở vùng nhiệt đới và ở vùng ôn đới mọc nhiều vào mua hè. Là cây
thân gỗ lâu năm, tuổi thọ 8 – 12 năm, cho năng suất từ năm thứ 2 cho đến
năm thứ 8. Nếu đất tốt, chăm sóc tốt tuổi thọ có thể đạt 50 năm. Thân cành
nhiều nhựa không gai, trên thân cành có nhiều mầm, mầm đỉnh, mầm nách
khi cắt tỉa mầm có khả năng bật mầm. Lá hàng năm rụng vào mùa đông. Rễ
ăn sâu và rộng 2- 3m, nhưng phân bố nhiều ở tầng đất 10 – 30 cm và rộng
theo tán cây [17].
Lá dâu là thức ăn duy nhất của tằm dâu Bombyx mori L nên trong sản
xuất tơ tằm cây dâu vô cùng quan trọng. Ngày nay trên thế gới có hơn 50
nước sản xuất tơ tằm chứng tỏ sự phân bố rất rộng rãi của cây dâu trên thế gới
và tạo nên sự phong phú về giống loài. Tuy nhiên đối với mỗi tuổi tằm lại yêu
cầu loại lá dâu phù hợp. Vì vậy các nhà nghiên cứu dâu tằm đã không ngừng
nghiên cứu tạo ra các giống dâu có chất lượng lá dâu tốt năng suất cao và cho
thu hoạch quanh năm. Ngoài ra do đặc điểm của ngành nên cây dâu là cây cho
thu hái lớn từ 8 -9 lứa một năm nên các biện pháp kỹ thuật chăm sóc là yếu tố
quan trọng góp phần quyết định năng suất, chất lượng lá dâu. Vì vậy người
dân rất chú trọng chăm sóc một trong những biện pháp mang lại hiệu quả cao
là sử dụng phân bón. Ngoài biện pháp bón phân truyền thống qua đất thì biện
pháp bón phân qua lá cũng đã được đưa vào sản xuất. Loại chế phẩm Lá dâu 7
xanh đã được sử dụng khá hiệu quả đối với cây dâu, đã đã được nhập nội
8
Để hiểu rõ hơn ngoài những nghiên cứu về đặc tính thực vật học và
phân loại cây dâu các nhà khoa học trên thế giới còn đi sâu vào nghiên cứu
cấu tạo giải phẫu của chúng để hiểu rõ về bản chất các quá trình trao dổi chất
diễn ra trong cây. Melykian Babyan (1971) cho rằng trên lá dâu có một vài
nơi tế bào phát triển lớn và hình thành các tế bào đặc dị, vỏ ngoài của lớp tế
bào biểu bì được cutin hoá và độ dày của lớp cu tin hoá phụ thuộc vào loài
dâu. Số lượng của tế bào đặc dị, chiều dày của phiến lá có liên quan chặt chẽ
tới chất lượng lá dâu, lá dâu có lớp cutin mỏng, phiến lá mỏng, ít tế bào đặc dị
thích hợp với tằm hơn (Sengupta. K and S. B. Dandin, 1989) [11].
Mục đích của trồng dâu là để lấy lá nuôi tằm. Năng suất lá dâu phụ
thuộc vào điều kiện khí hậu, đất đai và khả năng chăm sóc của từng vùng.
Năng suất kén lại phụ thuộc vào chất lượng lá dâu. Chính vì thế một trong
những mục tiêu quan trọng được đặt ra ở các nước có nghề trồng dâu là đảm
bảo năng suất và chất lượng lá dâu để đảm bảo năng suất và chất lượng kén
tằm. Để đảm bảo năng suất cao thì hướng nghiên cứu của các nhà khoa học là
chọn tạo các giống dâu mới có năng suất cao, chất lượng lá tốt, chống chịu
sâu bệnh và phù hợp với vùng sinh thái cũng như phù hợp với sinh trưởng
phát triển của con tằm.
Ngoài chọn tạo các giống mới bằng cách lai tạo thì các nhà khoa học
còn nghiên cứu tạo ra các giống dâu đa bội thể. Osawa (1920) nghiên cứu quá
trình phân nhiễm và giảm nhiễm ở hom một số giống dâu thuộc loài M.
bombycis Koiz; M. multicaulis hoặc các giống tam bội đột biến. Janaki
Ammal (1948) giải đáp sự đa bội ở các loài dâu như M. nigra 2n = 308 được
bao bọc bởi các thể lưỡng bội và khám phá ra giống dâu M. cathyana có 2n =
26, 2n = 84 và 2n = 112 (Lim. S. H, Kim. I. T and Lee. S. P, 1990) [12].
Song song với quá trình cải tiến giống, các nhà khoa học còn tìm nhiều
phương pháp khác nhau để nâng cao năng suất chất lượng lá dâu, sử dụng
bón quá nhiều đạm thì sẽ phá vỡ sự cân bằng giữa đạm và hydratcacbon làm
cho cành lá phát triển quá mạnh dẫn đến tính đề kháng của cây dâu giảm, tằm
ăn lá dâu bón nhiều đạm tuy con to nhưng dễ nhiễm bệnh.
* Lân.
Trong lá dâu lân có khoảng 0.19 – 2.44 %. 10
Lân là thành phần cấu tạo nên tế bào, men và vitamin, lân xúc tiến quá
trình thnàh thục của lá diễn ra nhanh hơn, nâng cao chất lượng lá, ngoài ra lân
còn xúc tiến sinh trưởng của bộ rễ giúp cho cây chịu han tốt. Nếu thiếu thì
hoạt tính của men giảm gây cản trở hoạt động của mô phân sinh làm cho sự
sinh trưởng của thân cành yếu.
* Kali.
Trong lá kali có khoảng 0.51 – 0.56%.
Kali là nguyên tố có quan hệ mật thiết với sự chuyển hoá tổng hợp
hydratcacbon và quá trình trao đổi chất trong cây. Người ta không tìm thấy
kali trong thành phần hợp chất nào vì nó không phải là yếu tố cấu tạo, vai trò
của nó là xúc tiến quá trình trao đổi chính trong cây, thông qua ảnh hưởng đến
hoạt động của men hoạt động quang hợp mà xúc tiến quá trình hình thành các
gluxit và các hydratcacbon trong lá và quá trình vận chuyển các chất tới cơ
quan dự trữ. Nhờ sự hình thành lignhin và và xenllulo, kali làm cho mô chống
đỡ của cây dầy và vững chắc.
Ngoài 3 nguyên tố trên trong phân tổng hợp còn có các nguyên tố vi
lượng cũng có vâi trò quan trọng như cấu thành một số sắc tố diệp lục có ảnh
hưởng đến sự tạo thành gluxit, chất béo và protit.
Đối với cây trồng chất điều tiết sinh trưởng tuy với hàm lượng rất nhỏ
hướng của cây , điều chỉnh hiện tượng ưu thế ngọn, kích thích sự hình thành
rễ, quả, làm cho quả lớn lên và tạo quả không hạt.
Gibberellin là nhóm phytohormon thứ hai được phát hiện sau auxin.
Các nhà khoa học Nhật Bản là những người đầu tiên khám phá được sự tồn tại
của Gibberellin. Gibberellin có tác dụng kích thích sự sinh trưởng kéo dài của
thân, sự vươn dài của lóng cây hoà thảo, kích thích sự nảy mầm của hạt, củ ,
căn hành… ảnh hưởng đến sự ra hoa của một số thực vật và có tác dụng rút
ngắn thời gian sinh trưởng dinh dưỡng của cây. Gibberellin ảnh hưởng rõ rệt
đến các quá trình trao đổi chất, các quá trình sinh lý xảy ra trong cây.
Xitokinin là phytohormon thứ 3 được phát hiện ra. Xitokinin có trong
tất cả các thực vật. Xytokinin có tác dụng kích thích mạnh mẽ sự phân chia tế
bào, ảnh hưởng rõ rệt lên sự hình thành và phân hoá cơ quan, đặc biệt là sự
phân hoá chồi. Xytokinin kích thích sự nảy mầm của hạt và chồi ngủ, điều
chỉnh ưu thế ngọn, nó kìm hãm quá trình trao đổi chất đặc biệt là quá trình
sinh tổng hợp axit nucleic, prôtêin, diệp lục và do đó mà ảnh hưởng đến quá
trình sinh lý của cây. 12
Bên cạnh những phytohormon được tổng hợp từ thực vật, ngày nay
bằng con đường hoá học con người đã tổng lên hàng loạt các chất khác nhau,
nhưng có tác dụng tương tự các hormon thực vật để làm phương tiện điều
chỉnh về mặt hoá học sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng nhằm cho năng
suất cao và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Tuy các chất điều tiết sinh trưởng đã được sử dụng rộng rãi đối với
nhiều loại cây trồng khác nhau nhưng đối với cây dâu thì các nghiên cứu về
việc sử dụng các chất điều tiết sinh trưởng còn nhiều han chế. Một số chế
Thái Lan
955 1510 1510 1500 1420
Việt Nam
780 2035 2200 750 750
Đơn vị: Tấn
Tại Châu Á, Ấn Độ là nước sản xuất dâu tằm lớn thứ 2 chỉ đứng sau
Trung Quốc, và ở hang thứ 3 thế giới sau Brazil. Sản xuất dâu tằm tơ được
coi là một ngành sản xuất chính và mang lại hiệu quả kinh tế cao. Sản lượng
tơ tằm của Ấn Độ cung cấp cho thế giới chiếm khoảng 13%.
Ngoài Trung Quốc và Ấn Độ là hai nước có diện tích dâu tằm lớn ra,
chúng ta cần phải nói đến Nhật Bản, Hàn Quốc hai nước sản xuất không lớn
nhưng có trình độ sản xuất dâu tằm cao. Sản lượng dâu tằm trên thế giới vẫn
tiếp tục tăng và nhu cầu tơ tằm ngày càng cao.
2.2.2. Tình hình nghiên cứu và sản xuất dâu tằm tơ tại Việt Nam.
a. Tình hình nghiên cứu.
Chúng ta vẫn còn nhớ câu chuyện Lịch sử Nguyên Phi Ỷ Lan triều vua
Lê Thánh Tông dạy nhân dân nghề trồng dâu nuôi tằm, điều đó chứng tỏ
ngành dâu tằm tơ nước ta có lịch sử rất lâu đời và là một nghề truyền thống
của nhân dân ta.
Trước đât cây dâu chỉ được nghiên cứu chọn lọc một cách tự nhiên,
chưa đi sâu nghiên cứu hệ thống cho nên đã không tạo nên những đột phá
về năng suất và chất lượng lá dâu. Theo tài liệu “ Dự thảo lịch sử ngành
dâu tăm tơ” của GS. Lê Văn Liêm thì trong thời kỳ Pháp thuộc nước ta đã 14
có một số cơ sở giống và phòng nghiên cứu dâu tằm tơ ở khắp miền Bắc,
VA- 15, VA- 18 từ giống dâu VA- 186. PGS. TS. Hà Văn Phúc thực hiện gây 15
đột biến trên hom dâu Hà Bắc bằng Colchicine và kết quả thu được các giống
dâu tứ bội. Từ những giống dâu tứ bội đem lai với các giống lưỡng bội tạo ra
các giống tam bội như: giống số 7, số 12…(Hà Văn Phúc, Nguyễn Thị Tám,
Vũ Đức Ban, 1986) [5].
Biên pháp sử dụng chất kích thích để tăng năng suất cho dâu ở nước ta
rất hiếm. Nguyên nhân do việc nghiên cứu và sử dụng các chất kích thích sinh
trưởng và tăng năng suất cây trồng ở nước ta còn nhiều hạn chế. Trước năm
1990 có rất ít các cơ sở sản xuất chế phẩm chất kích thích sinh trưởng. Hiện
cả 3 miền đã có nhiều cơ sở sản xuất và có một số cơ quan nghiên cứu cũng
như đã đưa ra thử nghiệm hàng loạt sản phẩm. Ở Miền Nam chủ yếu là các
công ty TNHH, còn ở Miền Bắc có sản phẩm của trường ĐHNN I, viện công
nghệ sinh học TTKHTN và CNQG, Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp.
Trong những năm gần đây các nghiên cứu thử nghiệm các chất kích thích
nhằm tăng năng suất và chất lượng lá dâu đã được nghiên cứu và đưa vào sử
dụng như chế phẩm Tang Tằm Bảo, và mới đây nhất là chế phẩm Lá dâu
xanh. Tất cả đều nhằm mục đích tăng năng suất lá dâu trên một đơn vị diện
tích, tăng chất lượng kén tằm, nâng cao hiệu quả kinh tế, giảm giá thành sản
phẩm. Bên cạnh đó trong việc nhân giống dâu vô tính các chất kích thích
được sử dụng tăng tỷ lệ sống, tỷ lệ ra rễ của hom giống. Để nâng cao tỷ lệ
sống của hom giống có thể xử lý hom bằng một số chất kích thích sau: NAA
nồng độ 1000ppm trong 3- 5 phút, IBA nồng độ 1000ppm trong 3- 5 phút.
b. Tình hình sản xuất dâu tằm tơ trong nước.
Việt Nam nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, có khi hậu thuận
triệu người.
Do trình độ sản xuất của nông dân chưa cao nên việc áp dụng các biện
pháp khoa học kyc thuật còn nhiều hạn chế. Thực tế sản xuất cho thấy ruộng
râu sau khi chuyển sang trồng mới từ các cây trồng khác thì một số năm đầu
thường nuôi tằm cho năng suất và chất lượng kén cao, sau khi khai thác vài
năm thì năng suất và chất lượng kén càng giảm do bón phân không cân đối.
Theo kết quả điều tra ở Thái Bình, Hà Nam, Hà Tây cho thấy: 100% các hộ
nông dân không bón kali cho dâu; 60% số hộ bón 10 – 15 kg lân Lâm Thao
trên một sào cho dâu, bón một lần vào vụ đông, số lượng này chưa đủ đáp 17
ứng nhu cầu của cây. Mặt khác lân Lâm Thao dễ bị rửa trôi nên cây đã thiếu
lân càng thiếu nghiêm trọng, 10% số hộ sử dụng phân NPK của lú bón cho
dâu, không phù hợp[8].
2.2.3. Đặc điểm của chế phẩm Lá Dâu Xanh.
Nguồn gốc: Chế phẩm Lá dâu xanh được sản xuất ở tinh Quảng Tây-
Trung Quốc. Chế phẩm dược sản xuất từ những năm 80 của thế kỷ trước. Chế
phẩm được sản xuất từ đất hiếm có chứa rất nhiều các nguyên tố vi lượng.
Tác dụng của chế phẩm Lá dâu xanh:
Theo nghiên cứu của Sở dâu tằm tơ Quảng Đông - Trung Quốc thì sau
khi phun chế phẩm lá dâu xanh lên cây dâu trong thời kỳ sinh trưởng và phát
triển đã làm tăng số mầm sinh trưởng 6.4 – 9.0%, chiều dài mầm tăng 6.98 –
22.4%, diện tích lá tăng 11.67 – 16.67%, trọng lượng lá tăng 12.57 – 31.49%,
vì thế năng suất lá dâu tăng 13.43 – 16.67%.
Tác dụng chính của chế phẩm Lá dâu xanh.
- Thúc đẩy sinh trưởng cành, lá tăng năng suất lá dâu.
a. Thí nghiệm ngoài đồng.
Để nghiên cứu ảnh hưởng của chế phẩm LXD tới sinh trưởng, phát
triển và năng suất lá dâu thí nghiệm được tiến hành trên đồng ruộng. Thí
nghiệm tiến hành phun chế phẩm LDX lên cây dâu đang trong giai đoạn sinh
trưởng phát triển. Dâu được đốn vào vụ hè, sau khi dâu bật mầm và phát triển
cao khoảng 15 cm thì tiến hành thí nghiệm.
Thí nghiệm gồm 4 công thức.
- Công thức 1: Phun chế phẩm Lá dâu xanh nồng độ 1/900, phun 2 lần.
- Công thức 2: Phun chế phẩm Lá dâu xanh nồng độ 1/1000, phun 2 lần.
- Công thức 3: Phun chế phẩm Lá dâu xanh nồng độ 1/1200, phun 2 lần.
- Công thức 4: Đối chứng phun nước lã. 19
Thí nghiệm được bố trí ngẫu nhiên hoàn toàn, mỗi công thức nhắc lại 3
lần. Diện tích mỗi lần nhắc lại là 10m
2
, diện tích khu thí nghiệm là 120m
2
.
Phương pháp phun.
- Cách phun: Phun dung dịch ướt đều hai mặt lá dâu đang ở ruộng sinh
trưởng vụ thu.
- Lượng phun: Phun với liều lượng 200 lít/ ha. Chế phẩm được phun
đều ướt đẫm hai mặt lá.
- Thời gian phun: Phun hai lần cách nhau 10 ngày. Lần 1 phun ngày
21/7/2007.
lượng lá dâu nuôi tằm, chúng tôi tiến hành thí nghiệm 2.
Thí nghiệm gồm 4 công thức.
- Công thức 1: Cho tằm ăn lá dâu phun chế phẩm Lá dâu xanh
nồng độ 1/400.
- Công thức 2: Cho tằm ăn lá dâu phun chế phẩm Lá dâu xanh
nồng độ 1/500.
- Công thức 3: Cho tằm ăn lá dâu phun chế phẩm Lá dâu xanh
nồng độ 1/600.
- Công thức 4: Cho tằm ăn lá dâu phun nước lã, phun 1 lần khi đã
thu hoạch về nhà. Công thức đối chứng.
Mỗi công thức được nhắc lại 3 lần, mỗi lần nhắc lại có 300 tằm tuổi 4.
Tằm cho ăn lá dâu thí nghiệm khi dậy tuổi 4 ăn dâu được 2 bữa cho đến khi
kết kén. Tằm tuổi 1 - 3 được nuôi tập chung bằng lá dâu bình thường, khi tằm
dậy tuổi 4 thì tiến hành thí nghiệm. Mỗi ngày cho ăn hai bữa vào 10 giờ sáng
và 6 giờ chiều, các bữa còn lại cho tằm ăn lá dâu bình thường chung cho toàn
bộ các công thức.
Cách phun:
- Phun 1 lần ướt đều hai mặt lá. Để ráo nước rồi mới cho tằm ăn,
- Liều lượng: Phun với liều lượng 0.5l/ 10kg lá dâu.
Cả hai thí nghiệm nuôi tằm được tiến hành cùng một thời điểm, tại
phòng Nuôi tằm của bộ môn Dâu tằm - Ong mật khoa Nông học Trường ĐH
NN I Hà Nội. Giống nhau về thời gian cho ăn, thời gian hái lá… 21
3.4. CÁC CHỈ TIÊU THEO DÕI VÀ CÔNG THỨC TÍNH TOÁN.
3.4.1. Các chỉ tiêu về sinh trưởng.
đếm cách nhau 5 ngày. Tốc độ ra lá được tính bằng công thức :
T
1
=
t
RR
12
(lá/ ngày)
Trong đó :
- T
1
: Tốc độ ra lá của cây (lá/ ngày).
- R
2
: Số lá đếm lần sau.
- R
1
: Số lá đếm lần trước. 22
- t : Khoảng thời gian giữa 2 lần đếm.
*Tốc độ tăng trưởng chiều cao thân.
Mỗi lần nhắc lại tiến hành theo dõi 5 cây, tại 5 vị trí khác nhau. Tiến
hành theo dõi liên tục, 5 ngày theo dõi 1 lần đến khi nào thấy số đo 3 lần liên
tiếp ko thay đổi thì ngừng theo dõi.
vuông góc với gân chính.
- Chiều dài lá: Chiều dài lá được đo từ gốc cuống lá tới đầu lá.
Mỗi lần nhắc lại đo 5 thành thục trên 5 mầm của 5 cây ở mỗi lần nhắc lại. 23
* Diện tích lá:
Diện tích lá được xác định theo phương pháp cân nhanh. Mỗi lần nhắc
lại theo dõi 5 lá ở cùng vị trí trên cành.
S
lá
= ( P
lá
x 4)/ P
4cm
2
(cm
2
).
Trong đó :
- S
lá
: Diện tích lá.
- P
lá
: Trọng lượng của lá.
- P
24
* Tỷ lệ tằm lên né.
Tổng số tằm lên né
Tỷ lệ tằm lên né (%) = x 100
Tổng số tằm nuôi
* Tỷ lệ tằm kết kén
Tổng số kén thu được
Tỷ lệ tằm kết kén (%) = x 100
Tổng số tằm nuôi
* Năng suất kén : Tiến hành cân toàn bộ kén của mỗi lần nhắc lại rồi
tính năng suất kén bình quân của mỗi công thức.
* Khối lượng toàn kén ( P
k
).
Mỗi lần nhắc lại lấy 20 kén đực và 20 kén cái đem cân, K
k
được tính
bằng công thức.
P
20kc
+ P
20kđ
P
k
=
40
25
PHẦN IV
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. THÍ NGHIỆM NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHẾ PHẨM LÁ
DÂU XANH ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT VÀ
CHẤT LƯỢNG LÁ DÂU.
Nghiên cứu vấn đề này chúng tôi tiến hành ngoài đồng về ảnh hưởng
của chế phẩm LDX tới sinh trưởng, phát triển, năng suất lá dâu và thí nghiệm
trong phòng kiểm định chất lượng lá dâu thông qua nuôi tằm.
4.1.1. Ảnh hưởng của chế phẩm Lá dâu xanh tới sinh trưởng, phát triển,
và năng suất lá dâu.
Thời gian từ lúc trồng đến lúc thu hoạch sự sinh trưởng của thân dâu
cho biết khả năng sinh trưởng của cây dâu. Sự tăng trưởng của thân dâu là yếu
tố quan trọng liên quan chặt chẽ tới năng suất của dâu sau này. Thân dâu phát
triển cao, đường kính thân lớn sẽ cho nhiều lá sản phẩm thu hoạch của cây
sau này. Sự phát triển cua thân phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau.
Thí nghiệm nghiên cứu được tiến hành trên giống dâu VH9, là giống
dâu lai có sự sinh trưởng tốt. Thời gian tiến hành thí nghiệm là vụ thu năm
2007 tại Trường ĐHNN I Hà Nội. Cây dâu tiến hành thí nghiệm được đốn sát
gôc, khi mầm dâu mọc được 15 cm thì tiến hành phun chế phẩm Lá dâu xanh
với các nồng độ 1/900, 1/1000, 1/1200. Để đánh giá ảnh hưởng của chế phẩm
Lá dâu xanh tới sinh trưởng và phát triển của cây dâu, chúng tôi tiến hành
dựa trên các chỉ tiêu sau.
a.
Đặc điểm hình thái của cây.
Giống là yếu tố chủ yếu quyết định các đặc điểm hình thái của cây