1. Mở đầu
1.1. Đặt vấn đề
Cây đậu tơng [Glicinemax (L) Merill] là cây công nghiệp quen thuộc ở n-
ớc ta và các nớc trên thế giới. Vì mọi bộ phận cây đậu tơng đều có giá trị nhất
định đối với con ngời nh mang lại lợi ích kinh tế, dinh dỡng và cải tạo đất. Các
loại thức ăn đợc chế biến từ đậu tơng rất giàu đạm (40 - 45%), có thể thay thế
cho thịt do protein của đậu tơng chứa đủ các axit, amin quí không thay thế rõ
nhiều vitamin thích hợp với ăn kiêng, ăn chay không kém gì các thực phẩm cao
cấp khác, không bị ảnh hởng bởi các chất hoá học, các loại phụ gia nhân tạo
cũng nh quá trình biến đổi gen (hay còn gọi là thực phẩm chuyển gen (GM) gây
ra (Norman AG, 1967) [49].
Hạt đậu tơng còn chứa một lợng dầu rất lớn 12 -24 % đứng đầu trong các
loại chất béo có hoạt tính sinh học cao, gluxit 31,1% và nhiều chất khoáng,
vitamin...vv (Rahaminna ands Nikkuni, 2002) [51]. Các acid béo omega -3
(anpha linoneic) trong đậu tơng có tác dụng bảo vệ tim mạch, giúp máu lu
thông tốt, tim đập đều hơn. Đây cũng là tiền thân của chất DHA (Deco
sahexaenic acid) chiếm 1/4 lợng chất béo chứa trong não; Vì vậy, những thực
phẩm chế biến từ hạt đậu tơng rất tốt cho việc phát triển trí não của trẻ em.
Ngoài ra acid omega - 3 và DHA còn đợc ghi nhận giảm triệu chứng của bệnh
viêm ruột, giảm chứng tiền sản giật ở phụ nữ. Các acid béo không no trong hạt
đậu tơng cùng với protein có khả năng kết hợp với cholesterol tạo thành lipo
protein có tỉ trọng cao HDL - C (High Desnity) vận chuyển cholesterol từ các tổ
chức mô về gan để chuyển hoá làm giảm lợng cholesterol chung, làm tăng lợng
cholesterol có lợi và làm giảm lợng cholesterol có hại. Ngoài 2 thành phần
chính là lipit và protein, hạt đậu tơng còn chứa các chất khoáng, vi lợng, các
loại hoomon tự nhiên (phytoestroen), phitattanin và sơ hoà tan có tác dụng
1
phòng chống ung th, ức chế hay làm giảm quá trình nhả đờng của máu, làm
tăng quá trình cung cấp năng lợng cho cơ thể, (http:// viwipedia.org viki/) [43].
Cây đậu tơng không chỉ cung cấp dinh dỡng cho con ngời và còn có tác
dụng về mặt y học. Hạt đậu tơng cũng nh các phụ phẩm của nó, đặc biệt là khô
việc thiếu hụt các nguyên tố vi lợng trong đất, làm cho cây đậu tơng có năng suất
thấp và dễ dàng bị nhiễm bệnh hại. Để khắc phục hiện tợng trên, trong thâm
canh, ngời ta khuyến cáo nên bón phân hữu cơ hoặc phân đa yếu tố có vi lợng
(giá thành cao) hoặc phân vi lợng thông qua lá. Đối với phân bón lá hiện nay trên
thị trờng có rất nhiều loại phân bón lá cần đợc nghiên cứu về hiệu lực của chúng
trên cây đậu tơng nên chúng tôi thực hiện đề tài:
"ảnh hởng của một số chế phẩm dinh dỡng qua lá đến sinh trởng,
phát triển, năng suất và chất lợng của đậu tơng giống DT84, DT12 trồng vụ
thu đông và vụ xuân hè trên đất Chơng Mỹ - Hà Tây "
1.2. Mục đích và yêu cầu của đề tài.
1.2.1. Mục đích
Trên cơ sở tìm hiệu lực của một số chế phẩm dinh dỡng qua lá đến sinh
trởng, phát triển, năng suất và chất lợng của hạt đậu tơng mà đề xuất kĩ thuật sử
dụng dinh dỡng qua lá góp phần xây dựng quy trình thâm canh cây đậu tơng
trên đất Chơng Mỹ - Hà Tây.
1.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Điều tra thực trạng sản xuất đậu tơng, hàng hoá ở huyện Chơng Mỹ.
- Nghiên cứu ảnh hởng của một số chế phẩm dinh dỡng đến sinh trởng,
phát triển, năng suất, chất lợng của đậu tơng giống DT84 trồng ở vụ thu đông và
vụ xuân hè.
3
- Nghiên cứu ảnh hởng của một số chế phẩm dinh dỡng đến sinh trởng,
phát triển, năng suất, chất lợng của đậu tơng giống DT12 trồng ở vụ thu đông và
vụ xuân hè.
1.3. ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài.
1.3.1. ý nghĩa khoa học của đề tài
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học về ảnh
hởng của một số chế phẩm dinh dỡng qua lá đến sinh trởng, phát triển, năng
suất và chất lợng cây đậu tơng.
- Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo khoa học về cây
C, trên 30
o
C hạt
nảy mầm nhanh nhng mầm yếu.
Thời kì cây con từ lá đơn đến 3 lá kép, đậu tơng chịu rét khá hơn ngô, ở
thời kì lá đơn có thể chịu đợc nhiệt độ dới 0
o
C, lá kép phát triển ở nhiệt độ
trên12
o
C. Nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trởng là từ 22
o
C - 27
o
C. Nhiệt độ thấp
sẽ ảnh hởng xấu đến ra hoa kết quả. Nhiệt độ ở 10
o
C ngăn cản sự phân hoá
mầm, hoa, nhiệt độ ở dới 18
o
C, tỷ lệ đậu quả thấp. Nhiệt độ cao hơn 39
o
C ảnh h-
ởng xấu đến tốc độ hình thành đốt, cây đậu tơng sẽ phát triển lóng và phân hoá
hoa. Nhiệt độ thích hợp nhất của lá đậu tơng trong vụ hè từ 25
o
C - 40
o
C. Trong
các thời kì sinh trởng, phát triển cuối cùng, nếu nhiệt độ quá thấp, hạt khó chín,
phát triển của đậu tơng là 5,2- 6,5 (Ngô Thế Dân, 1982) [6].
2.2. Vai trò của các yếu tố dinh dỡng đối với sự sinh
trởng và phát triển của cây đậu tơng
2.2.1. Đạm
Đạm là nguyên tố dinh dỡng quan trọng nhất và hút đợc nhiều nhất của
cây đậu tơng do hạt đậu tơng có hàm lợng protein cao. Để đạt năng suất 3 tấn/ ha
thì cây đậu tơng cần 285 kg N/ha. Mặc dù cây đậu tơng có khả năng tự túc phần
lớn N nhng việc cung cấp N hợp lí cho đậu tơng có tác dụng làm cây mọc nhanh,
6
phát triển hệ rễ, tạo cơ sở cho việc hình thành nốt sần. Đồng thời phát triển thân,
lá và cành; tăng tỉ lệ đậu quả và tỉ lệ quả chắc, tăng trọng lợng hạt và hàm lợng
protein trong hạt (Nguyễn Nh Hà, 2006) [12].
Trong cây đậu tơng, đạm đợc tích luỹ khá nhiều ở thời kì đầu và nhiều
nhất ở thời kì ra hoa kết quả, đặc biệt là từ khi hoa nở rộ cho đến khi hạt mẩy.
Cây đậu tơng thiếu đạm, lá chuyển thành màu xanh vàng và bị rụng khi có gió,
phiến lá hẹp và diện tích lá nhỏ, cằn cỗi, lá kép sau nhỏ hơn hay bằng lá kép tr-
ớc, hoa và quả rụng nhiều hoặc lép, trọng lợng hạt giảm (Đỗ Thị Báu, 2000) [1].
Nhng thừa đạm, lại cản trở sự xâm nhập của vi khuẩn vào nốt sần và việc cố
định N của cây đậu tơng. Thừa đạm còn có khả năng làm cây phát triển quá
mạnh, ức chế ra hoa và quả làm ảnh hởng đến năng suất và chất lợng hạt
(Nguyễn Nh Hà, 2006) [11].
Thời kì ra hoa, đậu quả nếu không cung cấp đủ đạm thì số hoa, quả rụng
nhiều hoặc lép, trọng lợng hạt thấp. Do rễ của cây đậu tơng có khả năng sống
cộng sinh với vi khuẩn cố định đạm và nguồn đạm này có thể đáp ứng 60% lợng
đạm mà cây cần, cho nên việc cung cấp đạm cho cây ngay từ ban đầu của con
ngời là không nhiều nhng lại rất quan trọng để nó thúc đẩy cho quá trình cố định
nitơ của vi khuẩn (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs, 1996) [14]
2.2.2. Lân
Lân có tác dụng xúc tiến cho sự phát triển của bộ rễ và sự hình thành nốt
sần, các cơ quan sinh sản. Đủ lân số lợng và trọng lợng nốt sần tăng lên rõ rệt,
cọc, có một số quả không bình thờng. Thiếu molipden ảnh hởng xấu đến hoạt
động của vi khuẩn nốt sần và đồng hoá đạm của cây. Kết quả đều ảnh hởng xấu
đến năng suất và phẩm chất đậu tơng (Nguyễn Nh Hà, 2006) [11].
Bo rất cần thiết cho quá trình phân bào và lớn lên của đỉnh thân, chóp rễ,
8
cho sự nảy mầm của hạt phấn và cho sự thụ tinh. Bo tạo thuận lợi cho việc di
chuyển đờng và tổng hợp các acid nucleic và các kích thích tố thực vật.
2.2.5. Chất hữu cơ
Muốn đạt đợc năng suất cao đặc biệt trên các loại đất cát, đất đồi, đất bạc
màu cần phải bón các loại phân chuồng và các loại phân hữu cơ khác vì ngoài
việc cung cấp các chất dinh dỡng cần thiết cho cây còn có tác dụng cải tạo đất.
(Nguyễn Nh Hà, 2006) [11], (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs, 1996) [14], (Đỗ Thị
Báu, 2000) [1].
2.3. Tình hình sản xuất đậu tơng trên thế giới và Việt
Nam
2.3.1. Tình hình sản xuất đậu tơng trên thế giới
Cây đậu tơng chiếm một vị trí quan trọng hàng đầu trong 8 cây lấy đều
quan trọng của thế giới; Đậu tơng, bông, lạc, hớng dơng, cải dầu, lanh, dừa và
cọ dầu. Do vậy đợc trồng phổ biến hầu hết các nớc trên thế giới, nhng tập trung
nhiều nhất ở các nớc châu Mỹ chiếm tới 73,0% tiếp đó là các nớc thuộc khu
vực châu á (Trung Quốc, ấn Độ) chiếm 23,15%. (Lê Hoàng Độ và ctv, 1997)
[8].
Thức ăn cho ngời và thức ăn chăn nuôi từ đậu tơng đã tăng nhanh ở nhiều
nớc trong 30 năm qua góp phần cung cấp thực phẩm giàu dinh dỡng nhiều hơn
cho nhân dân trên thế giới. Vì vậy diện tích trồng đậu tơng trên thế giới có xu h-
ớng tăng nhanh để khắc phục nạn suy dinh dỡng do đói protein trong khẩu phần
thức ăn hàng ngày. (Đỗ Thị Báu, 2000) [1].
Bảng 2.1. Diện tích, năng suất sản lợng đậu tơng trên thế giới
(1996 - 2006)
Năm Diện tích Năng suất Sản lợng
10
đợc xuất khẩu.
- Năm 2001 sản xuất đợc 78,67 triệu tấn đậu tơng và đến năm 2005 tăng
lên 82,82 triệu tấn, tăng 4,15 triệu tấn so với năm 2001.
Phần lớn sản lợng đậu tơng của Mỹ để nuôi gia súc hoặc để xuất khẩu
mặc dù nhu cầu tiêu thụ của ngời dân Mỹ ngày càng tăng; Trong đó đậu tơng
chiếm tới 80% lợng đậu tơng đợc tiêu thụ ở Mỹ. Sau Mỹ phải kể đến Braxin, là
nớc sản xuất đậu tơng lớn thứ 2 trên thế giới cũng nh ở châu Mỹ. Năng suất của
nớc này ít thay đổi trong 20 năm qua. Tuy nhiên cho đến năm 2003 năng suất
đậu tơng đạt kỉ lục 28,08 tạ / ha vợt trội lên so với năng suất trung bình của thế
giới (23,79 tạ / ha) là 4,29 ha. Hiện nay Braxin cũng là nớc cung cấp và sản
xuất đậu tơng lớn trên thế giới, đậu tơng của Braxin cũng đợc các nớc nhập
khẩu rất a chuộng. (Phạm Văn Biên và cs, 1976) [2].
ở Achentina đậu tơng thờng đợc luân canh với lúa mì. Năng suất bình quân
của đậu tơng khoảng 1,1 tấn / ha vào những năm 60. Vào đầu những năm 70
năng suất đạt kỉ lục là 2,3 tấn / ha. (Ngô Thế Dân và cs, 1982) [6]. Từ năm 2001 -
2005, diện tích và năng suất đậu tơng ở nớc này đã tăng lên rất nhiều: Năng suất
đậu tơng năm 2003 đạt 28,01 tạ / ha cao hơn so với năng suất trung bình của thế
giới (23,79 tạ / ha) là 4,22 tạ / ha. Hiện nay Achentina phát triển mạnh cây đậu t-
ơng, nên Achentina đã trở thành nớc sản xuất đậu tơng đứng thứ 3 trên thế giới
(Hymowitz and Nelwell, 1981) [53].
Trung Quốc là nứơc sản xuất đậu tơng đứng đầu châu á và đứng thứ t trên
thế giới. Trớc chiến tranh thế giới thứ 2, Trung Quốc là nớc đứng đầu thế giới
về diện tích và sản lợng đậu tơng. Từ năm 2001 - 2005 năng suất và sản lợng
đậu tơng tăng liên tục. Tập trung chủ yếu ở vùng Đông Bắc chiếm gần 59% sản
lợng đậu tơng của cả nớc và vùng đồng bằng sông Hoàng Hà, sông Hoàng Hà
chiếm 45% sản lợng đậu tơng của cả nớc. (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs, 1996)
[14]. Mặc dù Trung Quốc đứng hàng thứ 4, song hiện nay Trung Quốc vẫn là n-
11
ớc đứng đầu châu á về diện tích, năng suất sản lợng đậu tơng. Do dân số đông
- Năm 1984 tiêu thụ dầu ăn không tới 30 vạn tấn, năm 2003 đã tiêu thụ dầu
ăn đã tới 7 triệu tấn, bã đậu 23,3 triệu tấn. Trớc đây, Trung Quốc là nớc xuất
khẩu đậu tơng, nay là nớc nhập khẩu đậu tơng lớn nhất thế giới.
- Năm 2003 Trung Quốc phải nhập 20,4 triệu tấn đậu tơng, 1,7 triệu tấn
dầu đậu tơng, cao hơn mức sản xuất trong nớc.
- Năm 2004 vẫn nhập 20,76 triệu tấn, tốn 6,98 tỉ USD. Trung Quốc có nhu
cầu đậu tơng 25 - 30 triệu tấn/năm, trong nớc mới chỉ sản xuất đợc 15 triệu tấn/
năm, còn thiếu hụt khoảng 10-15 triệu tấn/ năm.
Châu á sản xuất đậu tơng cũng đợc thúc đẩy mạnh là do nhu cầu thức ăn
và dinh dỡng của con ngời cũng nh gia súc cần rất lớn. Tuy nhiên năng suất đậu
tơng ở châu á vẫn còn thấp hơn nhiều so với năng suất bình quân của thế giới
mặc dù diện tích trồng đậu tơng ở châu á đứng thứ 2 trên thế giới. Sở dĩ nh vậy,
là đậu tơng ở châu á trồng nhiều nơi đất xấu, không đầu t về phân bón, chỉ với
mục đích cải tạo đất.
Hơn 10 năm nay, kể từ năm 1994, giống đậu tơng chuyển gen kháng
Glyphosat (thuốc trừ cỏ) đợc ứng dụng, diện tích trồng đậu tơng chuyển gen
tăng rất nhanh. Năm 2003, đạt 41,4 triệu ha, chiếm 55% diện tích đậu tơng toàn
cầu và chiếm 61% diện tích các cây chuyển gen vào năm đó, chủ yếu là đợc
trồng ở 8 nớc: Mỹ, Achentina, Braxin, Canada, Urugoay, Nam phi, Rumani.
Diện tích đậu tơng chuyển gen ở Mỹ lớn nhất, đạt 24 triệu ha, chiếm 81% diện
tích đậu tơng toàn nớc Mỹ, trong đó có 22 triệu ha trồng đậu tơng chuyển gen
Gliphosat. Hầu nh 100% diện tích đậu tơng ở Achentina là đậu tơng đã đợc
13
chuyển gen. Tháng 9/2003, Chính phủ Braxin đã bãi bỏ lệnh cấm sử dụng và
tiêu thụ đậu tơng chuyển gen đợc ban hành vào năm 2003 -2004, sau đó lại hợp
thức hoá việc trồng cây đậu tơng chuyển gen. Đến nay diện tích trồng đậu tơng
chuyển gen ở nớc này đã lên 10% tổng diện tích đậu tơng. Trồng giống đậu t-
ơng có chuyển gen kháng Glyphosat thì phun Glyphosat, diệt đợc sạch cỏ dại
mà đậu tơng không chịu ảnh hởng xấu đến sự sinh trởng, phát triển cây đậu t-
ơng. Từ đó, có thể sử dụng thuốc diệt cỏ mà không gây hại cho đậu tơng
và ẩm độ cao dẫn đến sâu bệnh nhiều nhất là đậu tơng vụ xuân làm cho năng
suất đậu tơng không ổn định, năng suất thấp có khi thất thu. Ngoài ra những
điều kiện khác nh điều kiện kinh tế xã hội còn hạn chế, sản xuất đậu tơng còn
gặp khó khăn, nh: kho bảo quản, cơ sở chế biến, chất lợng giống kém, kinh tế
cho nghiên cứu đậu tơng còn ít... Tuy nhiên, trong những năm gần đây, cây đậu
tơng đã và đang đợc chú ý nghiên cứu, có những diện tích đậu tơng nhân giống
mới, đợc hỗ trợ về giống và các vật t phân bón khác cho nông dân nên đã có
giống tốt cung cấp cho sản xuất đặc biệt là vụ đậu tơng đông ở miền Bắc. Miền
Bắc tuy là vùng có truyền thống sản xuất đậu tơng, nhng việc mở rộng diện tích
vẫn còn nhiều hạn chế, nh: thời vụ, giá cả thị trờng.., mặc dù tiềm năng vẫn còn
khá nhiều. Theo ý kiến của các nhà hoạch định, nếu có chính sách đầu t phát
triển khoa học, phổ biến kỹ thuật, hỗ trợ giống, vật t và tiêu thụ sản phẩm cho
nông dân sản xuất thì có thể mở rộng thêm hàng chục vạn ha theo hớng tăng vụ
ở vùng đồng bằng, thay đổi cơ cấu cây trồng, mở rộng diện tích ở vùng đồi.
ở miền Nam trớc ngày giải phóng cây đậu tơng đợc trồng ở một số nơi
nh: Lâm Đồng, Đồng Nai, Hậu Giang, Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Định, Quảng
Ngãi. Tính đến năm 1993, diện tích đạt 56.00 ha và đã có những điển hình năng
suất cao nh: Đồng Tháp, An Giang đạt (16 tạ -18 tạ/ ha). Nhìn chung năng suất
15
đậu tơng ở nớc ta còn thấp, nhiều nơi chỉ đạt 4 - 5 tạ/ ha. Nguyên nhân năng
suất đậu tơng ở nớc ta còn thấp do nhiều yếu tố có thể là do cha có giống tốt,
cha đầu t đầy đủ phân bón, gieo trồng cha kịp thời vụ... Do vậy để đa cây đậu t-
ơng trở thành một cây trồng chính, tơng xứng với giá trị chiến lợc của nó trong
sản xuất nông nghiệp ở nớc ta cần giải quyết toàn diện các vấn đề kinh tế xã hội
cũng nh khoa học kỹ thuật (Đỗ Thị Báu, 2000) [1].
-Về năng suất: Năng suất đậu tơng bình quân của nớc ta còn rất thấp, chỉ
ở mức từ 9,5 - 11 tạ/ha. Nếu lấy năng suất của năm 1992 để so sánh thì năng
suất của ta mới chỉ đạt (820 kg/ ha - 2088 kg/ha) năng suất bình quân của thế
giới. Nếu so với nớc có năng suất cao nhất thế giới thì năng suất thế giới so với
năng suất của ta chỉ mới bằng 22,87%. Tuy vậy, năng suất có tốc độ lại tăng tr-
thụ dầu ăn không tới 30 vạn tấn, năm 2003 đã tiêu thụ dầu ăn đã tới 7 triệu tấn,
bã đậu 23,3 triệu tấn. Trớc đây, Trung Quốc là nớc xuất khẩu đậu tơng, nay là
nớc nhập khẩu đậu tơng lớn nhất thế giới, năm 2003 nhập 20,4 triệu tấn đậu t-
ơng, 1,7 triệu tấn dầu đậu tơng, cao hơn mức sản xuất trong nớc, năm 2004 vẫn
nhập 20,76 triệu tấn, tốn 6,98 tỉ USD. Trung Quốc có nhu cầu đậu tơng 25 - 30
triệu tấn/năm, trong nớc mới chỉ sản xuất đợc 15 triệu tấn/ năm, còn thiếu hụt
10-15 triệu tấn/ năm.
ở nớc ta, đậu tơng đợc trồng ở hơn 30 tỉnh, trong đó có khoảng 60 %
diện tích trồng đậu tơng ở các tỉnh phía Bắc, còn lại đợc trồng ở Cao Nguyên,
đất nghèo dinh dỡng và có độ màu mỡ thấp. (Phạm Văn Thiều, 1988) [31].
Hiện nay, cả nớc ta đã hình thành 4 vùng chính sản xuất cây đậu tơng là:
Vùng đông Nam bộ có diện tích lớn nhất là 26,2%, miền núi và trung du Bắc bộ
là 24,7%, vùng đồng bằng sông Hồng là 17,5%, vùng đồng bằng sông Cửu long
có diện tích nhỏ nhất là 12,4%. Tổng diện tích của 4 vùng này chiếm tới 60%
17
diện tích trồng đậu tơng của cả nớc. (Ngô Thế Dân và cs,1982) [6]. Trong 4
vùng trồng đậu tơng trên, vùng đồng bằng sông Cửu Long có diện tích nhỏ nhất
nhng lại là vùng có năng suất cao nhất trong cả nớc (năng suất bình quân là
18,8 tạ/ ha), cá biệt có những nơi đạt 30 tạ / ha). Miền đông Nam Bộ, đậu tơng
tập trung chủ yếu trên vùng đất đỏ thuộc tỉnh Đồng Nai. Tuy có diện tích gieo
trồng không đợc lớn, nhng đã chiếm 1/3 sản lợng đậu tơng của cả nớc. (Phạm
Văn Thiều và cs, 1988) [32]. Về sản lợng, riêng 3 vùng, Đồng bằng sông Hồng,
Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long chiếm 63,8% sản lợng đậu tơng của
cả nớc. (Nguyễn Trọng Trang, 2005) [37].
Tuy nhiên, năng suất đậu tơng ở nớc ta còn rất thấp so với các nớc trong
khu vực châu á và chỉ bằng 43% so với năng suất bình quân của cả thế giới. Để
đáp ứng đợc nhu cầu ngày càng tăng ở trong nớc cũng nh xuất khẩu, theo kế
hoạch dự báo quốc gia thì đậu tơng cần đạt 770.442 tấn vào năm 2010 với diện
tích là 404.500 ha, Nhng đến năm 2005 sản lợng đậu tơng trong nớc mới chỉ đạt
245 nghìn tấn, năng suất mới chỉ đạt 13,24 tạ/ ha với diện tích mới chỉ có 185
Khi nông dân biết sử dụng thêm phân lân thì năng suất thì năng suất lúa đợc
tăng lên 3 -3,5 tấn/ha/vụ và khi biết sử dụng thêm phân Kali thì năng suất lúa
tăng lên 5-7 tấn/ha/vụ. Nh vậy: Đạm, lân và kali là những yếu tố chính hạn chế
năng suất cây trồng, nếu cây trồng đợc bón đủ, bón cân đối với đạm, lân, kali và
bón đúng kĩ thuật thì năng suất tăng đột biến. Kết quả nghiên cứu cũng cho
thấy, cây trồng không chỉ cần đạm, lân, kali mà còn rất nhiều chất dinh dỡng
khác nh vôi, magiê, lu huỳnh, silíc, sắt, bo, kẽm, đồng, chất hữu cơ, vv...sẵn có
trong đất và đợc bổ xung hàng năm bằng nguồn phân chuồng. Quá trình canh
tác hàng ngàn đời nay làm chất dinh dỡng cần thiết ngày càng cạn kiệt. mặt
khác cuộc cách mạng về giống hiện nay cho ra đời nhiều loại giống cây trồng
năng suất cao, đòi hỏi sử dụng nhiều chất dinh dỡng, nếu chỉ bón đạm, lân, kali
hay NPK thông thờng thì cây trồng không phát huy năng suất và ảnh hởng đến
chất lợng nông sản.Tuy nhiên trong thực tế không phải ngời nông dân nào cũng
sử dụng phân bón đúng kĩ thuật, nên có nhiều ngời đàu t thâm canh cao nhng
năng suất, chất lợng nông sản lại giảm do bón không cân đối, không đúng thời
điểm. Việc sử dụng phân bón qua lá sẽ khắc phục đợc các nhợc điểm trên. Theo
Chu Thị Thơm và cs, (2006) [25] thì phân bón qua lá là một tiến bộ kĩ thuật đợc
dùng nhiều trong thời gian gần đây. Tuy vậy, bón phân qua lá không thể hoàn
toàn thay thế đợc 100% bón phân qua đất. Các loại phân bón qua lá là những
hợp chất dinh dỡng, có thể là các nguyên tố đa lợng, trung lợng hoặc vi lợng, đ-
ợc hoà tan trong nớc và phun lên cây để cây hấp thu. Đây là cách bón phân mới
đợc phổ biến trong những năm gần đây, bởi vì thông thờng phân đợc bón vào
đất và đợc cây trồng hấp thu qua rễ.
20
Bón phân qua lá phát huy đợc hiệu lực nhanh. Tỷ lệ cây sử dụng chất
dinh dỡng thờng đạt ở mức cao, cây sử dụng đến 90% chất dinh dỡng bón qua
lá, trong khi đó bón qua đất cây chỉ sử dụng 45-50%.
Bón qua lá tốt nhất là các đợt bón bổ xung, bón thúc để đáp ứng nhanh
các nhu cầu dinh dỡng của cây. Đặc biệt là giúp cây chóng phục hồi sau khi bị
sâu bệnh, bão lụt gây hại, hoặc là khi trong đất vì những lí do khác nhau bị
lá có thể có nguồn gốc hoá học hoặc hữu cơ. Phân bón qua lá có nguồn gốc hoá
học thờng là các chất vi lợng.
Ngoài đạm, lân, kali và vi lợng, cây trồng còn cần những chất dinh dỡng
hữu cơ khác nh vitamin, đạm hữu cơ (protein), các chất kích thích sinh trởng
vv.. để sinh trởng và phát triển. Các chất này có cấu tạo phân tử lớn và phức tạp
hơn đạm, lân và kali, do vậy, rễ không hấp thu đợc mà chỉ có lá mới hấp thu đ-
ợc.
Để bổ xung kịp thời nguồn dinh dỡng cho cây trồng ngoài phơng pháp
bón phân hữu cơ, phân chuồng hoai mục...kết hợp với các loại phân khoáng, ng-
ời ta còn áp dụng phơng thức bón phân qua lá để tạo điều kiện cho cây trồng
hấp thu dinh dỡng, dễ dàng tạo điều kiện cho cây trồng sinh trởng và phát triển
tốt. Theo Vũ Cao Thái, (1996) [26], đã nhận định, bón phân qua lá là một giải
pháp chiến lợc an toàn dinh dỡng cho cây trồng. Khả năng hấp thu dinh dỡng
qua lá đợc phát hiện vào đầu thế kỉ XIX bằng phơng pháp đồng vị phóng xạ cho
thấy cây trồng ngoài bộ phận lá, các bộ phận khác nh thân, cành, hoa, trái đều
có thể hấp thu đợc chất dinh dỡng. Mặt khác, theo tác giả trên cho rằng diện
tích lá của cây bằng 15-20 lần diện tích đất do tán che phủ, do đó nhận đợc dinh
dỡng bằng phun qua lá đợc nhiều hơn.
Phân bón lá do các cơ sở ở trong nớc sản xuất đợc chia làm 2 dạng chính:
22
- Sử dụng các chất sinh trởng giúp cây tăng cờng sinh trởng, từ đó tăng
khả năng hấp thu các chất dinh dỡng đa lợng.
- Không chứa các chất sinh trởng mà chỉ dựa vào nguyên tố khoángvi l-
ợng, đa lợng đợc phối hợp trộn theo một tỉ lệ hợp lí giúp cây trồng sinh trởng ổn
định một cách tự nhiên.
Trong những năm 90 của thập kỉ 90, châu Âu đã chế tạo và sử dụng rộng
rãi các loại phân phức hữu cơ. Ưu điểm của loại phân bón lá phức hữu cơ là:
Nhờ khả năng tạo phức giữa các axit anim với các kim loại nh Cu
++
, Zn
nhanh, cây sinh trởng tốt, ít sâu bệnh, tiết kiệm phân bón và nhân lực, phẩm
chất rau và quả đạt chất lợng cao. (Hoàng Ngọc Thuận và CS, 1996) [27].
Qua thực tế phân bón lá phức hữu cơ Pomior có tác dụng cung cấp đầy
23
đủ và kịp thời các nguyên tố dinh dỡng cho các loại cây trồng ở mọi giai đoạn
sinh trởng. Đặc biệt là ở những giai đoạn khủng hoảng dinh dỡng của cây trồng
nh sau khi kết thúc nảy mầm (khi cây có một lá thật), thời kì cây tăng trởng
mạnh, thời kì phân hoá mầm hoa, thời kì nở hoa và thời gian thụ tinh, thụ phấn
hình thành quả. Phân bón lá phát huy đợc hiệu quả mạnh đối với cây trồng trên
đất mặn, đất hạn (thời kì hạn cây không thể hấp thu đầy đủ chất dinh dỡng
trong đất có khi đợc ngừng trệ hoàn toàn). (Hoàng Ngọc Thuận và CS, 2005)
[29].
Phân vi sinh qua lá BioGro là chế phẩm đợc chiết rút từ vi sinh vật nên
và vì vậy, nó mang nguồn gốc hữu cơ. Cũng chính do đây là chế phẩm đợc chiết
rút từ vi sinh vật nên tác dụng của nó có thể thấy nhanh hơn (5- 7 ngày) so với
vi sinh vật bón qua rễ. Phân vi sinh BioGro bón qua lá giúp cây trồng phát triển
nhanh hơn, năng suất cao hơn, rút ngắn thời gian thu hoạch (Chu Thị Thơm và
cs, 2006) [25]. Từ trớc đến nay, ngời ta vẫn phun cho lá các loại phân vi lợng,
đa lợng có nguồn gốc hoá học.
Phân vi sinh bón qua lá là chế phẩm đợc chiết rút ra từ vi sinh vật, cung
cấp các chất dinh dỡng hữu cơ, chất kích thích sinh trởng và các loại vitamin.
Cây trồng dễ hấp thu phân vi sinh bón qua lá... Phân vi sinh bón qua lá BioGro
có thể phun cho các loại cây trồng. Tuỳ từng loại cây, trong một vụ có thể phun
cho nhiều loại cây trồng, Tuỳ từng loại, trong một vụ có thể phun nhiều lần,
mỗi lần có thể phun cách nhau 2 tuần.
Với cây lúa, có thể phun 2-3 lần, phun cho luống mạ trớc khi cấy 5-7
ngày, trớc khi trỗ 5-7 ngày.
Với cây rau và ngô, từ khi có 3-4 lá, 2 tuần phun 1 lần trong 1.5 tháng đầu.
Với cây chè, phun sau mỗi lần hái 10-15 ngày, khi xuất hiện lá non.
Cây trong vừơn ơm và cỏ vận động rất thích hợp với phân vi sinh bón qua
dụng phân này đã thu đợc 200 kg thóc).
Đối với lúa Mộc tuyền đợc phun ở giai đoạn mạ và 2 lần sau cấy: Lúa hồi
xanh nhanh hơn, đẻ sớm, đẻ khoẻ so với ruộng không phun. Bình quân số nhánh
25