BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP HÀ NỘI BÙI THANH TÙNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỸ
THUẬT ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT
VÀ CHẤT LƯỢNG THUỐC LÀO TRỒNG TẠI HẢI PHÒNG LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
HÀ NỘI - 2014
i
LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận án này là kết
quả nghiên cứu của chính nghiên cứu sinh, hoàn toàn trung thực và chưa sử dụng
cho bảo vệ một học vị nào.
Các thông tin, tài liệu trích dẫn trong luận án này đều đã được chỉ rõ nguồn
gốc. Mọi sự giúp đỡ đều đã được cảm ơn. Tác giả
Bùi Thanh Tùng
ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt luận án của mình tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình
của GS.TS.NGƯT. Hoàng Minh Tấn, TS. Nguyễn Đình Vinh - Trường Đại học
Danh mục các chữ viết tắt trong luận án vi
Danh mục các bảng vii
Danh mục các hình ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Ý nghĩa của đề tài 2
4 Những đóng góp mới của Luận án 3
5 Phạm vi nghiên cứu của đề tài 3
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Giới thiệu chung về cây thuốc lào 4
1.1.1 Nguồn gốc và phân bố 4
1.1.2 Phân loại 5
1.1.3 Giá trị kinh tế của cây thuốc lào 6
1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ thuốc lào trên thế giới và Việt Nam 6
1.2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ thuốc lào trên thế giới 6
1.2.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ thuốc lào tại Việt Nam 7
1.3 Tình hình nghiên cứu cây thuốc lào trên thế giới và Việt Nam 13
1.3.1 Trên thế giới 13
1.3.2 Tình hình nghiên cứu cây thuốc lào tại Việt Nam 15
1.4 Nhận xét chung 39
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42
2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 42
2.2 Nội dung nghiên cứu 42
2.3 Địa điểm nghiên cứu 42
2.4 Phương pháp nghiên cứu 43
iv
2.4.1 Phương pháp điều tra thu thập, phân tích thông tin 43
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm 43
v
3.4.3 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến động thái chỉ số diện tích lá (LAI),
hiệu suất quang hợp của cây và năng suất thuốc lào 83
3.4.4 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến hiệu quả kinh tế trong sản xuất thuốc lào 86
3.5 Ảnh hưởng của thuốc diệt chồi Accotab đến khả năng diệt chồi và
sinh trưởng, phát triển, năng suất thuốc lào tại Hải Phòng 87
3.5.1 Ảnh hưởng của thuốc diệt chồi Accotab đến động thái số lượng chồi
cây thuốc lào 87
3.5.2 Ảnh hưởng của thuốc diệt chồi Accotab đến động thái chiều dài và
khối lượng chồi thuốc lào 89
3.5.3 Ảnh hưởng của thuốc diệt chồi Accotab đến sinh trưởng, phát triển và
năng suất của thuốc lào 91
3.5.4 Ảnh hưởng của các biện pháp diệt chồi khác nhau đến hiệu quả kinh tế
trong sản xuất thuốc lào 93
3.6 Ảnh hưởng của biện pháp ủ trong quá trình sơ chế đến chất lượng
thuốc lào thương phẩm 95
3.6.1 Ảnh hưởng của các biện pháp ủ thuốc đến chất lượng sợi 95
3.6.2 Ảnh hưởng của biện pháp ủ đến chất lượng hút 96
3.7 Mô hình trồng thuốc lào Ré Đen năng suất, chất lượng cao tại Tiên Lãng 97
3.7.1 Sinh trưởng, phát triển và năng suất thuốc lào 97
3.7.2 Chất lượng cảm quan của thuốc lào trồng theo mô hình ứng dụng các
biện pháp kỹ thuật trong sản xuất 99
3.7.3 Hiệu quả kinh tế của mô hình ứng dụng các biện pháp kỹ thuật trong
sản xuất thuốc lào tại Hải Phòng 100
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 101
1 Kết luận 101
2 Đề nghị 102
Danh mục công trình đã công bố của tác giả liên quan đến luận án 103
Tài liệu tham khảo 104
Phụ lục 109
Hữu hiệu
Hiệu suất quang hợp
Kali tổng số, kali dễ tiêu
Chỉ số diện tích lá
Năng suất lý thuyết
Năng suất thực thu
Nitơ tổng số
Phân chuồng
Hàm lượng chất hữu cơ
Trung bình
Tiêu chuẩn Việt Nam
Thời gian sinh trưởng
Bệnh xoăn lá do virus
Bệnh khảm lá thuốc (Tobacco Mosaic Virus)
Thứ tự vii
DANH MỤC CÁC BẢNG
TT Tên bảng Trang
1.1 Diện tích thuốc lào tại Việt Nam 8
1.2 Sản lượng thuốc lào tại Việt Nam 8
1.3 Diện tích trồng thuốc lào ở Hải Phòng trong 10 năm (2003-2012) 11
1.4 Năng suất, sản lượng thuốc lào ở Hải Phòng giai đoạn 2003-2012 12
năng suất cây thuốc lào Ré Đen 80
3.17 Thời gian sinh trưởng phát triển của cây thuốc lào Ré Đen 81
3.18 Ảnh hưởng của mật độ đến một số chỉ tiêu sinh trưởng thân, lá của cây
thuốc lào Ré Đen sau 90 ngày trồng 82
3.19 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến động thái tăng LAI của thuốc lào 83
3.20 Ảnh hưởng của mật độ trồng đến hiệu suất quang hợp và năng suất thuốc
lào Ré Đen tại Hải Phòng 85
3.21 Ảnh hưởng của mật độ đến hiệu quả kinh tế của sản xuất thuốc lào
Ré Đen 86
3.22 Ảnh hưởng của xử lý Accotab đến số lượng chồi thuốc lào Ré Đen 88
3.23 Ảnh hưởng của xử lý Accotab đến động thái tăng trưởng chiều dài trung
bình chồi thuốc lào Ré Đen 89
3.24 Ảnh hưởng của xử lý Accotab đến động thái tăng trưởng khối lượng chồi
thuốc lào Ré Đen 90
3.25 Ảnh hưởng của Accotab đến một số chỉ tiêu sinh trưởng và năng suất
thuốc lào Ré Đen tại Hải Phòng 92
3.26 Ảnh hưởng của các biện pháp diệt chồi đến hiệu quả kinh tế trong sản
xuất thuốc lào Ré Đen vụ Xuân 2012 94
3.27 Ảnh hưởng của các biện pháp ủ đến chất lượng sợi thuốc lào Ré Đen 96
3.28 Ảnh hưởng của biện pháp ủ đến chất lượng hút của thuốc lào Ré Đen 97
3.29 Sinh trưởng, phát triển và năng suất thuốc lào mô hình năm 2012 98
3.30 Một số đối tượng sâu bệnh hại chính trên thuốc lào Ré Đen 98
3.31 Chất lượng cảm quan của thuốc lào Ré Đen của mô hình 99
3.32 Hiệu quả kinh tế mô hình áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật trên
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cây thuốc lào (Nicotiana tabacum L), là cây trồng truyền thống của Việt
Nam và được trồng phổ biến ở hầu hết các quốc gia trên thế giới như Mỹ, Ấn Độ,
Trung Quốc, Philipin, Malaysia, các quốc gia châu Phi, các quốc gia theo đạo hồi
như Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Irắc… (Trần Đăng Kiên, 2011).
Ở Việt Nam, thuốc lào được trồng nhiều ở miền Bắc song tập trung tại một
số tỉnh/thành như: Hải Phòng, Thái Bình, Thanh Hoá, Bắc Ninh… với diện tích
trồng hàng năm dao động ở mức 3.000-4.000 ha/năm. Trong đó Hải Phòng, có diện
tích trồng hàng năm khoảng 1.500-2.200 ha; sản lượng thuốc dao động từ 3.000-
4000 tấn Ngoài ra, thuốc lào còn được trồng rải rác, không ổn định và mang tính
tự cung, tự cấp ở nhiều vùng như Nghệ An, Tây Nguyên, thành phố Hồ Chí Minh.
Sản xuất thuốc lào ở Hải Phòng đã trở thành nghề truyền thống của hàng
ngàn hộ nông dân cũng như các cơ sở kinh doanh và kỹ thuật sản xuất thuốc lào nơi
đây được truyền từ đời này qua đời khác góp phần tạo nên tính chất đặc thù và danh
tiếng của sản phẩm. Hiện nay, thuốc lào Hải Phòng là loại cây trồng được chú trọng
sản xuất bởi nó là loại sản phẩm hàng hoá có giá trị cao. Sản phẩm thuốc lào có thị
phần lớn và tiêu thụ rộng rãi. Vùng trồng thuốc lào có doanh thu đạt trên 70 triệu
đồng/ha/năm và thu nhập từ thuốc lào chiếm 50-60% tổng thu nhập của nông hộ.
Tuy mang lại hiệu quả kinh tế cao và được trồng ở nước ta từ rất lâu, song
những nghiên cứu về cây thuốc lào tại Việt Nam còn rất hạn chế. Do đó, nguồn gốc,
phân loại, các giống thuốc lào phổ biến hiện nay, cũng như tình hình sản xuất, kinh
doanh cây thuốc lào còn thiếu thông tin, nên nhiều tài liệu chưa thống nhất…
Hải Phòng, là vùng có điều kiện khí hậu, thuỷ văn, thổ nhưỡng phù hợp cho
việc phát triển cây thuốc lào, song sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng
thuốc sợi ở các vùng trồng khác nhau cũng khác nhau; đặc biệt là chất lượng thuốc
ngoài nước.
- Làm cơ sở cho việc quy hoạch vùng trồng thuốc lào chất lượng cao tại Hải
Phòng. 3
4. Những đóng góp mới của Luận án
- Chất lượng thuốc lào khác nhau tại các địa phương của Hải Phòng phụ
thuộc vào tính chất của đất. Đất trồng thuốc lào Tiên Lãng có độ pH thấp hơn, hàm
lượng Nts, Kdt và OM cao hơn đất huyện An Lão và Vĩnh Bảo thích hợp cho cây
thuốc lào nên sản phẩm thuốc lào của Tiên Lãng có chất lượng cao hơn hai huyện
Vĩnh Bảo và An Lão.
- Phát hiện tương quan thuận chặt giữa hàm lượng Ndt, Kdt và OM trong đất
trồng đến hàm hượng nicotin và tương quan nghịch chặt với hàm lượng đường tan
trong lá thuốc lào.
- Đã xác định một số thông số kỹ thuật tối ưu cho sản xuất thuốc lào đạt hiệu
quả cao nhất tại Hải Phòng: Công thức phân bón 300 kg N + 80kg P2O5 + 90kg
K2O/ha, mật độ trồng 20000 cây/ha, thời vụ trồng 25/1, sử dụng chất diệt chồi
Accotab 1,2%.
5. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Thời gian thực hiện đề tài: từ tháng 7/2009 – tháng 12/2013
- Giống thí nghiệm: Các thí nghiệm được thực hiện trên giống Ré Đen là
giống thuốc lào đang được trồng phổ biến tại địa phương.
- Địa điểm nghiên cứu: tại huyện Tiên Lãng, Vĩnh Bảo, An Lão - Hải Phòng.
- Địa điểm xây dựng mô hình ứng dụng: tại huyện Tiên Lãng - Hải Phòng.
- Vì thuốc lào và thuốc lá cùng loài (N. tabacum. L), sản phẩm thu hoạch và
mục đích sử dụng là như nhau, trong khi đó rất ít tài liệu nghiên cứu về thuốc lào.
Vì vậy trong luận án này, chúng tôi sử dụng nhiều tài liệu nghiên cứu về cây thuốc
lá để tham khảo cho cây thuốc lào.
Chè Lưỡi Chim Sẻ. Hải Lăng có Thỏ Lông Trắng. Thuốc hút là thứ cây lá cuộn vào
giấy rồi châm lửa hút”
Một số thông tin khác cho rằng tại Trung Quốc, ngay giáp với phía Bắc nước
ta, người ta đã tìm thấy dấu tích thuốc lào trong một số ngôi mộ đã có tuổi cách đây 5
trên 2000 năm. Lịch sử Việt Nam lại có tới trên 1000 năm Bắc thuộc, có thể những
giao lưu văn hóa đã đem thuốc lào tới Việt Nam nhưng đáng tiếc là cho đến nay,
chưa tìm được các dẫn liệu lịch sử minh chứng cho điều này. Ngay cả những dẫn
liệu về lịch sử thuốc lào tại Trung Quốc cũng chưa được thế giới chấp nhận
(Nguyễn Văn Biếu, 2005).
Tóm lại, có nhiều thông tin về nguồn gốc thuốc lào trồng ở nước ta, song
quan điểm thuốc lào được trồng ở Việt Nam từ năm Canh Tí (1660) đời vua Lê
Thần Tông theo Vân Đài loại ngữ của Lê Quý Đôn được nhiều nhà nghiên cứu trích
dẫn và coi là thời điểm bắt đầu trồng cây thuốc lào đầu tiên ở nước ta.
1.1.2. Phân loại
Cây thuốc lá có tên khoa học là Nicotiana tabacum. L (Akehurst, 1981). Theo
Trần Đăng Kiên (2011), thuốc lá thuộc chi Nicotiana, họ cà Solanaceae. Chi
Nicotiana có 3 chi phụ, 14 nhóm và 65 loài. Trong đó 45 loài thuộc bản địa Bắc và
Nam Mỹ, 15 loài thuộc bản địa Úc; cụ thể:
Chi phụ Rustica: có 3 nhóm, 9 loài.
Chi phụ Tabacum: 2 nhóm, 6 loài
Chi phụ Petunioides: 9 nhóm, 50 loài
Trong số 65 loài trên chỉ có loài N.tabacum thuộc nhóm Genminae được gieo
trồng thương mại trên khắp thế giới. Ở nước Nga và một số nước châu Á, loài N.
rustica được trồng chủ yếu sử dụng tiêu dùng tại chỗ. Một số loài hoang dại như:
N.alata, N.sylventris được dùng làm cây cảnh thuốc lào thuộc chi phụ Tabacum.
Theo Nguyễn Trọng Nhưỡng và cộng sự (2007): Có 2 loài N. tabacum và N.
rustica có các giống được trồng làm thuốc lào ở nhiều nước nhưng loài N. rustica
Như vậy, thuốc lào đã được sử dụng phổ biến ở Trung Quốc vào thế kỷ XVIII.
Một số di chứng khảo cổ tại Trung Quốc đã cho thấy từ cách đây 4.000 năm,
người ta đã biết sử dụng thuốc lào và một số bức tranh của người Maya cổ cách đây
trên 2000 năm cũng đã minh họa. Ngay hiện nay, do cách sơ chế đơn giản, sản xuất
nhỏ theo kiểu tự cung tự cấp nên hầu như không có thống kê riêng cho thuốc lào. 7
Mặt khác, tên gọi thuốc lào hay tên các loại điếu hút lại thường gắn với tên địa
phương nên rất khó có thông tin chung (Nguyễn Văn Biếu, 2005).
Thuốc lào ngày nay thường được xếp vào nhóm thuốc lá đen phơi nắng
cùng nhóm với xì gà và chiếm 1/2 sản lượng thuốc lá toàn thế giới (khoảng 1,4
triệu tấn/năm) và trong số này, chỉ có 20% được trao đổi buôn bán trên thế giới.
Thuốc lào được trồng ở rất nhiều nước với đặc trưng sản phẩm là hàm lượng
nicotin khá cao (5-8%), hàm lượng đường rất thấp (<3%), hàm lượng protein cao
(16-18%) và do vậy, lượng phân bón sử dụng rất cao (cả phân chuồng và phân
hóa học), bón nhiều lần và thậm chí bón liên tục đến trước khi thu hoạch
(Nguyễn Văn Biếu, 2005).
Như vậy, thuốc lào được trồng và sản phẩm thuốc lào đã được tiêu dùng từ
rất lâu ở các châu lục và cách sử dụng cũng như dụng cụ để hút thuốc cũng khác
nhau. Các tài liệu cũng như các công trình nghiên cứu về cây thuốc lào trên thế giới
còn rất hạn chế nên công tác nghiên cứu trên cây thuốc lào còn một số khó khăn.
1.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ thuốc lào tại Việt Nam
1.2.2.1. Tình hình sản xuất thuốc lào tại Việt Nam
Ở Việt Nam, thuốc lào được trồng vùng đồng bằng, trung du Bắc Bộ đến Đèo
Ngang (tỉnh Quảng Bình) và các dân tộc thiểu số từ miền núi phía bắc đến miền tây
Quảng Bình, Nghệ An, nhưng tập trung tại một số tỉnh/thành như: Hải Phòng, Thái
Bình, Thanh Hoá, Bắc Ninh. Ngoài ra, thuốc lào còn được trồng rải rác trên diện tích
nhỏ, không ổn định và mang tính tự cung tự cấp ở nhiều vùng khác. Mục tiêu trồng
thuốc lào để hút là chính, ngoài ra còn dùng ăn cùng lá trầu (Đào Duy Anh, 2002).
Nguồn: Cục Thống kê Hải Phòng (2010, 2011, 2012); Sở Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn các tỉnh: Thanh Hoá, Bắc Ninh, Thái Bình (2011).)
Sản lượng thuốc lào toàn quốc hiện nay khoảng 6352 tấn trong đó: Hải
Phòng 4161 tấn; Thanh Hóa 800 tấn; Thái Bình 802 tấn; Bắc Ninh 409 tấn
- Hiệu quả kinh tế
Thuốc lào có thời gian sinh trưởng từ 160-180 ngày, thời gian thu hoạch 125-
145 ngày, trong quá trình cây sinh trưởng phát triển, nông dân tốn rất nhiều công 9
chăm sóc và lượng phân bón cho cây cũng cao hơn các cây trồng khác. Sau khi thu
hoạch, phải tiến hành sơ chế, thái, phơi rất công phu mới thành sản phẩm thương
phẩm trên thị trường (Dương Đức Tùng và cộng sự, 2008).
Tuy nhiên, giá bán của thuốc lào cũng cao hơn các loại cây trồng khác và ổn
định. Hiện nay, bình quân giá thuốc lào có chất lượng trung bình là 120.000đ/kg;
thuốc lào ngon lên tới 200.000 – 300.000 đ/kg. Nếu tính bình quân 1 sào Bắc Bộ
thu được từ 50-60 kg thuốc lào thương phẩm thì tổng doanh thu 1 sào đạt
6.000.000-7.000.000đ/sào; cho lãi 3-4 triệu đồng/sào (cả công lao động). Đây là
khoản thu nhập rất cao so với các cây trồng khác.
Vì vậy, mặc dù trồng thuốc lào rất vất vả song diện tích thuốc lào vẫn ổn
định và có chiều hướng tăng lên trong những năm gần đây do sản phẩm có thể bảo
quản lâu dài; có thị trường đầu ra ổn định.
Năm 2010 thuốc lào Tiên Lãng đã được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn xây dựng và bảo vệ thành công quyền bảo hộ Chỉ dẫn địa lý. Đây là bước đột
phá trong việc xây dựng thương hiệu, để đẩy mạnh quảng bá và tiêu thụ thuốc lào
trong và ngoài nước.
1.2.2.2. Tình hình sử dụng tiêu thụ thuốc lào ở Việt Nam
Ở Việt Nam, thuốc lào được sử dụng hút từ năm 1660. Do thấy tác hại của
hút thuốc lào, đến thế kỷ thứ XVIII, Vua Lê Huyền Tông đã hai lần ra lệnh cấm hút
thuốc, song rồi phải bãi bỏ (Trần Văn Giáp, 2006).
Tiên Lãng cho sản phẩm thuốc lào. Đây là một bước ngoặt mới trong công tác
quảng bá nông sản đặc thù của địa phương đồng thời góp phần chống tình trạng gian
lận thương mại, nâng cao hiệu quả kinh tế cho các tổ chức cá nhân sản xuất, kinh
doanh thuốc lào tại Tiên Lãng nói riêng và cả nước trong quá trình toàn cầu hóa.
1.2.2.3. Tình hình sản xuất và tiêu thu tiêu thụ thuốc lào ở Hải Phòng
a) Diễn biến về diện tích trồng thuốc lào tại Hải Phòng
Hải Phòng là địa phương có diện tích trồng thuốc lào lớn nhất toàn quốc với
diện tích hàng năm dao động trong từ 1.950 ha đến 2.200 ha; năng suất trung bình 16,5
tạ/ha (thuốc thành phẩm); sản lượng đạt 3.500 tấn. Thuốc lào được trồng tập trung ở
huyện Tiên Lãng và Vĩnh Bảo, diện tích còn lại nằm rải rác ở các huyện: An Lão, Kiến 1
1
Thuỵ, Thủy Nguyên
Bảng 1.3. Diện tích trồng thuốc lào ở Hải Phòng trong 10 năm (2003-2012)
TT Năm
Tổng số
(ha)
Vĩnh Bảo
(ha)
Tiên Lãng
(ha)
Các huyện khác
(ha)
1 2003 1.493,0 616,0 802 75
2 2004 1.788,0 700,0 981 107
3 2005 2.138,0 869,0 1.153 116
4 2006 2.245,0 918,0 1.232 95
Sản lượng
(t
ấn)
1 2003 15,90 2.372
2 2004 16,30 2.913
3 2005 16,00 3.416
4 2006 16,20 3.644
5 2007 16,50 3.506
6 2008 16,53 3.465
7 2009 17,23 3.877
8 2010 16,75 4.080
9 2011 16,40 4.161
10 2012 15,92 3.431
Nguồn: Cục Thống kê Hải Phòng (2010, 2011, 2012).
Sản lượng thuốc lào tăng mạnh (44,6%) trong 10 năm qua, từ 2.372 tấn (năm
2003) lên 3.431 tấn (năm 2012), điều này chứng tỏ sản xuất thuốc lào cho hiệu quả
kinh tế cao và ổn định.
- Tình hình tiêu thụ thuốc lào:
Sản phẩm thuốc sợi được tiêu thụ trong thành phố khoảng 10% -15%, số
còn lại khoảng 85- 90%, được tiêu thụ chủ yếu ở trong nước. Thị trường tiêu thụ
thuốc lào khá ổn định. Đối tượng tiêu thụ thuốc lào không phân biệt tuổi tác, địa vị,
dân tộc, người hút thuốc ở đa vùng miền, từ miền xuôi lên miền ngược, đồng bằng,
trung du miền núi và từ Bắc vào Nam.
Thuốc lào chủ yếu được kinh doanh, trao đổi ở dạng thuốc sợi đóng gói theo
lô lớn không có bao bọc và đăng ký nhãn hiệu hàng hoá theo quy định. Để hình 13
14
Với thuốc lá, theo Leyten and Mark (1999), đất thích hợp cho trồng thuốc lá
sinh trưởng, phát triển tốt là đất cát, cằn cỗi, thoát nước tốt và có hàm lượng hữu cơ
thấp; đất có độ pH từ 5,8-6,0, EC thấp cho năng suất và chất lượng thuốc lá cao.
Theo Hawks (1970) thì mỗi giống thuốc lá có nhu cầu dinh dưỡng khoáng
khác nhau; có một tương quan nhất định giữa lượng chất khoáng hút và năng suất
của thuốc lá. Lá từ đỉnh sinh trưởng khá nhạy cảm với dinh dưỡng N, đó là bộ phận
phân chia tế bào mạnh mẽ của lá, do vậy đây là giai đoạn nguyên tố N ảnh hưởng
lớn nhất đến diện tích cuối cùng của lá.
Akehurst (1991), cho rằng N là nguyên tố dinh dưỡng quan trọng nhất trong
quá trình sinh trưởng, phát triển của cây thuốc lá. Do vậy N ảnh hưởng lớn đến
thành phần hóa học của các chất có trong lá.
Cũng với thuốc lá, Zhao et al. (2005), Li et al. (2008), khi nghiên cứu về ảnh
hưởng của N và K với chất lượng thuốc lá cho rằng: hàm lượng N và K, chlorophyl
giảm theo quá trình già hóa của lá thuốc, trong lúc đó ABA lại tăng. Việc bón phân
N, K có thể làm tăng dinh dưỡng N và K, tăng diệp lục dẫn đến làm chậm quá trình
già hóa của lá.
Với P, cây thuốc lá còn nhỏ hút P chủ yếu từ phân bón, khi cây trưởng thành
lượng hấp thu của cây chủ yếu từ nguồn sẵn có trong đất (Mc Daniel, 1996). Hiệu
quả sử dụng phân lân của cây thuốc lá từ 15-68%. Lân di chuyển từ rễ đến đỉnh sinh
trưởng của cây với tốc độ 1,8cm/phút. Cây thuốc lá thiếu P sinh trưởng rất chậm đặc
biệt là giai đoạn đầu sinh trưởng. Thiếu P cây yếu ớt, lá hẹp, có mầu xanh xỉn. Sau đó
các lá phía thấp của cây có màu đốm nâu.
Năng suất lá có thể giảm đi khi bón quá thừa P, vì P thúc đẩy quá trình tích lũy
cacbonhydrat, khiến cho lá chín nhanh, đặc biệt khi cây sinh trưởng trong những điều
kiện môi trường không phù hợp. K ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng của cây thuốc lá.
Thực tế, K liên quan nhiều đến quá trình chuyển hóa quan trọng trong cây như quá