Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh trưởng, phát triển của bưởi Đại Minh tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái - Pdf 28

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM NGUYỄN TIẾN THÁI NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ BIỆN
PHÁP KỸ THUẬT ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT
TRIỂN CỦA BƯỞI ĐẠI MINH TẠI HUYỆN
YÊN BÌNH - TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN
THẠC SĨ

KHOA HỌC CÂY TRỒNG


2. TS. Nguyễn Thế Huấn
Thái Nguyên - 2014 i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là
trung thực và chưa từng được ai công bố.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ
nguồn gốc.
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
Tác giả luận văn Nguyễn Tiến Thái
ii

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu, tôi luôn nhận được sự
quan tâm giúp đỡ của thầy giáo hướng dẫn TS. Nguyễn Quốc Hùng và thầy

1. Tính cấp thiết 1

2. Mục đích, yêu cầu của đề tài 2

2.1. Mục đích 2

2.2. Yêu cầu 2

3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2

3.1. Ý nghĩa khoa học của đề tài 2

3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3

Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1. Cơ sở khoa học 4

1.2. Một số giống bưởi đặc sản ở Việt Nam và các nghiên cứu liên quan đến
đề tài 6

1.2.1. Một số giống bưởi đặc sản ở Việt Nam 6

1.2.2. Các nghiên cứu về cây bưởi liên quan đến đề tài 11

1.2.2.1. Các nghiên cứu về dinh dưỡng đối với cây bưởi 11

1.2.2.2. Các nghiên cứu về kỹ thuật cắt tỉa đối với cây bưởi 19
1.2.2.3. Các nghiên cứu về biện pháp thụ phấn bổ sung đối với cây bưởi 20

1.2.2.4. Các nghiên cứu về biện pháp bao quả đối với bưởi 24

lượng lộc của bưởi Đại Minh 33

3.1.2. Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến tỷ lệ đậu quả
bưởi Đại Minh 35
3.1.3. Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến một số chỉ tiêu cơ giới quả 37
3.1.4. Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến năng suất và các yếu tố cấu
thành năng suất 38

3.1.5. Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến hiệu quả kinh tế
bưởi Đại Minh 40

3.2. Ảnh hưởng của phương pháp cắt tỉa đối với bưởi Đại Minh 41

3.2.1. Ảnh hưởng của phương pháp cắt tỉa đến thời gian ra lộc và chất lượng
lộc bưởi Đại Minh 41

3.2.2. Ảnh hưởng của phương pháp cắt tỉa đến tỷ lệ đậu quả bưởi Đại Minh 43
v

3.2.3. Ảnh hưởng của phương pháp cắt tỉa đến một số chỉ tiêu cơ giới quả
bưởi Đại Minh 45

3.2.4. Ảnh hưởng của phương pháp cắt tỉa đến năng suất và các yếu tố cấu
thành năng suất bưởi Đại Minh 46
3.2.5. Ảnh hưởng của các phương pháp cắt tỉa đến hiệu quả kinh tế của bưởi
Đại Minh tại Yên Bình - Yên Bái 48
3.3. Ảnh hưởng của nguồn hạt phấn trong phương pháp thụ phấn bổ sung đối

CT : Công thức
CV : (Coefficient of variation) Hệ số biến động
KH & CN : Khoa học và công nghệ
LSD : (Least-Significant Difference) Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa
NN-PTNT : Nông nghiệp - phát triển nông thôn
PC : Phân chuồng
UBND : Ủy ban nhân dân vii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Lượng phân bón hàng năm cho một số giống bưởi đặc sản ở
Việt Nam 17

Bảng 3.1: Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến thời gian ra lộc của
bưởi Đại Minh 33

Bảng 3.2: Ảnh hưởng của các công thức phân bón đến chất lượng lộc
bưởi Đại Minh 34

Bảng 3.3: Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến tỷ lệ đậu quả ở
bưởi Đại Minh 36

Bảng 3.4: Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến một số chỉ tiêu
cơ giới quả 37

.Bảng 3.5: Ảnh hưởng của các công thức bón phân đến năng suất và các yếu
tố cấu thành năng suất của bưởi Đại Minh 38

Bảng 3.15: Ảnh hưởng của nguồn hạt phấn đến một số chỉ tiêu của
bưởi Đại Minh 52

Bảng 3.16: Ảnh hưởng của vật liệu bao quả đến tình trạng vỏ quả, tỷ lệ quả
có vết thương và tỷ lệ quả thực thu 53

Bảng 3.17: Ảnh hưởng của vật liệu bao quả đến một số chỉ tiêu quả 56

ix

DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.1. Biểu đồ tỷ lệ đậu quả của bưởi Đại Minh ở các công thức bón phân
khác nhau 36
Hình 3.2: Biểu đồ tổng quá/cây và năng suất bưởi Đại Minh ở các công thức
bón phân khác nhau 39
Hình 3.3: Biểu đồ tỷ lệ đậu quả của bưởi Đại minh qua các thời kỳ trong thí
nghiệm cắt tỉa 44
Hình 3.4: Biểu đồ tổng quả/cây và năng suất bưởi Đại Minh trong thí nghiệm
cắt tỉa 47
Hình 3.5: Biểu đồ tỷ lệ đậu quả của bưởi Đại Minh trong thí nghiệm thụ phấn
bổ sung 50
Hình 3.6: Biểu đồ tỷ lệ vết thương bề mặt vỏ quả bưởi khi sử dụng các vật
liệu bao quả khác nhau 54
Hình 3.7: Biểu đồ tỷ lệ quả thực thu khi sử dụng các vật liệu bao quả khác nhau 55
Tuy nhiên, do nhiều năm khai thác liên tục nhưng không được chăm sóc,
đầu tư đúng mức cộng với sâu bệnh gây hại ngày càng nặng, giống bưởi Đại
Minh đã có biểu hiện thoái hóa nghiêm trọng. Nhiều vườn không cho quả, một
số hộ gia đình đã chặt bỏ để trồng các loại cây trồng khác [9]. Cho đến nay, các 2

biện pháp kỹ thuật để khắc phục hiện tượng thoái hóa, phát triển giống bưởi Đại
Minh theo hướng tác động nâng cao được năng suất và chất lượng quả vẫn là
một câu hỏi lớn. Để giải quyết những vấn đề nêu trên, tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật đến sinh
trưởng, phát triển của bưởi Đại Minh tại huyện Yên Bình - tỉnh Yên Bái”.
2. Mục đích, yêu cầu của đề tài
2.1. Mục đích
Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật đối với giống bưởi Đại Minh
nhằm khắc phục tình trạng thoái hóa, nâng cao và giữ ổn định năng suất cũng
như chất lượng của bưởi Đại Minh.
2.2. Yêu cầu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các công thức bón phân đến các chỉ tiêu
lộc, tỷ lệ đậu quả, các chỉ tiêu quả, năng suất và một số yếu tố cấu thành năng
suất cũng như hiệu quả kinh tế của bưởi Đại Minh
- Nghiên cứu sinh trưởng lộc, tỷ lệ đậu quả, một số chỉ tiêu quả, năng
suất, các yếu tố cấu thành năng suất và hiệu quả kinh tế trong các phương
pháp cắt tỉa khác nhau đối với bưởi Đại Minh
- Nghiên cứu khả năng nảy mầm của hạt phấn và tỷ lệ đậu quả của bưởi
Đại Minh khi thụ phấn bằng các nguồn hạt phấn khác nhau
- Tiến hành thí nghiệm bao quả bằng các vật liệu bao quả khác nhau
nhằm thấy rõ tác động của các vật liệu bao quả đến mẫu mã và một số chỉ tiêu
quả bưởi Đại Minh.

1.1. Cơ sở khoa học
Trải qua lịch sử phát triển lâu dài, cây trồng nói chung và bưởi nói
riêng chịu sự tác động của quá trình chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo
mà ngày càng trở nên phong phú hơn và có nhiều ưu việt hơn.
Bưởi là cây ăn quả lâu năm, quá trình sinh trưởng, ra hoa kết quả chịu
ảnh hưởng của nhiều các yếu tố nội tại (di truyền) và các yếu tố ngoại cảnh
như nhiệt độ, ánh sáng, đất đai và chế độ chăm sóc; hay sự biểu hiện của kiểu
hình là kết quả của sự tương tác giữa kiểu gen và môi trường (Trần Như Ý và
cộng sự, (2000) [25, 28]).
Cũng như tất cả các loại cây trồng khác, bưởi cần được cung cấp đầy đủ
các nguyên tố dinh dưỡng để sinh trưởng, phát triển và cho năng suất cao, ổn
định. Nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy, trong thành
phần của cây trồng có mặt 92 nguyên tố hoá học, nhưng chỉ có 16 nguyên tố
thiết yếu với cây trồng được Galston tìm ra vào năm 1980[36, 37]. Các
nguyên tố này bao gồm các nguyên tố không thuộc nguyên tố khoáng là hydro
(H
2
), oxy (O
2
) và cácbon (C) và các nguyên tố khoáng bao gồm nitơ (N),
photpho (P), kali (K), canxi (Ca), magie (Mg), lưu huỳnh (S), boron (B), đồng
(Cu), sắt (Fe), clo (Cl), mangan (Mn), molipden (Mo), kẽm (Zn) [12, 37]. Đến
năm 1998, Lincoln Taiz đã bổ sung thêm 3 nguyên tố thiết yếu nữa là Na, Si,
Ni. Tùy theo nhu cầu của cây mà các nguyên tố này được chia thành các
nguyên tố dinh dưỡng đa lượng, trung lượng hay vi lượng.
Theo tác giả Nguyễn Thế Đặng và cs [7], lượng chất dinh dưỡng cây
hút thể hiện yêu cầu chất dinh dưỡng của cây. Cây yêu cầu chất dinh dưỡng
theo một tỷ lệ cân đối nhất định. Lượng dinh dưỡng cây hút thay đổi theo loại
cây trồng, năng suất thu hoạch, yêu cầu của người trồng trọt. Trong cùng một


hợp do gen S (Self - incompatibility gen) kiểm soát. Nếu S alleles của phấn 6

hoa và S alleles của nhụy cái giống hệt nhau, ống phấn không phát triển được
trong bầu nhụy và do vậy không xảy ra quá trình thụ tinh. Trái lại, nếu alleles
ở phấn hoa và alleles ở nhụy cái khác nhau, ống phấn phát triển bình thường,
giao tử đực sẽ thụ tinh với tế bào trứng.
Bưởi sau khi được thụ phấn, thụ tinh sẽ hình thành quả, trong quá trình
sinh trưởng trải qua 2 lần rụng quả sinh lý. Tuy nhiên, có một nhân tố bên
ngoài gây ra các tác động làm rụng quả, biến dạng quả…, làm giảm mạnh
năng suất chính là sâu bệnh hại (12 loài nhện và 352 loài côn trùng) mà đặc
biệt là sâu bệnh hại quả. Sâu bệnh hại trực tiếp đến quả cần có sự tiếp xúc và
gây hại. Sử dụng biện pháp bao quả ngăn chặn sự tiếp xúc và gây hại của yếu
tố sâu bệnh, nhờ đó làm tăng năng suất, tăng hiệu quả kinh tế [28].
1.2. Một số giống bưởi đặc sản ở Việt Nam và các nghiên cứu liên quan
đến đề tài
1.2.1. Một số giống bưởi đặc sản ở Việt Nam
Công tác nghiên cứu về cây ăn quả ngày càng được Đảng và Nhà nước
quan tâm. Các nhà khoa học thuộc các Viện nghiên cứu chuyên ngành cũng
đã thu được những kết quả không nhỏ trong công tác nghiên cứu, góp phần
đáng kể vào việc phát triển nghề trồng cây ăn quả của nước ta, trong đó cây
có múi có một vị trí quan trọng và được đông đảo bà con nông dân các vùng
miền quan tâm, hưởng ứng.
Cho đến nay, tập đoàn bưởi ở nước ta rất đa dạng, được trồng ở hầu
khắp các tỉnh, đặc biệt đã hình thành những vùng bưởi lớn với những giống
đặc trưng mang tính đặc sản địa phương. Một số giống bưởi nổi tiếng ở các
địa phương nước ta được trồng với mục đích sản xuất hàng hóa có các đặc
điểm như sau:

cận. Bưởi Phúc Trạch được coi là một trong những giống bưởi ngon nhất ở
nước ta hiện nay. Quả hình cầu hơi dẹt, vỏ quả màu vàng xanh, khối lượng
trung bình từ 1- 1,2 kg, tỷ lệ phần ăn được 60- 65%, số lượng hạt từ 50- 80 hạt,
màu sắc thịt quả và tép múi phớt hồng, vách múi giòn dễ tách rời, thịt quả mịn,
đồng nhất, vị ngọt hơi chua, độ brix từ 12- 14. Thời gian thu hoạch vào tháng 9. 8

- Bưởi Đoan Hùng: trồng tập trung chủ yếu ở các xã Chí Đám, Bằng
Luân và Cát Lâm của huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ, trên đất phù sa ven sông
Lô và sông Chảy. Bưởi Đoan Hùng có 2 giống là bưởi Tộc Sửu, nguồn gốc ở
xã Chí Đám và bưởi Khả Lĩnh, nguồn gốc ở thôn Khả Lĩnh xã Đại Minh huyện
Yên Bình tỉnh Yên Bái với diện tích cây cho quả khoảng trên 300 ha. Trong
những năm gần đây bưởi Đoan Hùng liên tục mất mùa, năng suất, sản lượng
suy giảm một cách rõ rệt, sản phẩm hiện không đủ cho tiêu thụ nội tỉnh [23].
+ Bưởi Bằng Luân quả hình cầu hơi dẹt, trọng lượng trung bình 0,7 -
0,8kg/quả, vỏ quả màu vàng hơi xám nâu, tép múi màu trắng xanh, mọng
nước, thịt quả hơi nhão, độ Brix từ 9 - 11. Được thu hoạch vào tháng 10, 11.
Có thể để được lâu sau khi thu hoạch.
+ Bưởi Tộc Sửu quả lớn hơn, trọng lượng trung bình từ 1 - 1,2 kg/quả.
Thịt quả nhão ít hơn giống bưởi Bằng Luân, vị ngọt nhạt và có màu trắng
xanh. Thu hoạch sớm hơn bưởi Bằng Luân khoảng nửa tháng.
- Bưởi Da Xanh: Có nguồn gốc từ ấp Thanh Sơn, xã Thanh Tân, huyện
Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, hiện được trồng nhiều nhất tại xã Mỹ Thạnh An, thị xã
Bến Tre. Toàn tỉnh Bến Tre hiện tại có 2.940 ha, dự kiến đạt 4.000 ha vào
năm 2010. Ngoài tiêu thụ nội địa bưởi Da Xanh được xuất khẩu sang một số
nước như Mỹ, Thái Lan.
Quả bưởi da xanh có dạng cầu, vỏ vẫn giữ màu xanh khi chín, con tép
tách khỏi vách múi tốt, tép múi màu đỏ hồng, nước quả khá, vị ngọt không the

tách, ăn giòn, ngọt dôn dốt chua. Khối lượng quả trung bình từ 1,2 - 1,5 kg, tỷ
lệ phần ăn được trên 60%. Thời vụ thu hoạch bắt đầu từ tháng 9 dương lịch.
- Bưởi Đỏ (Bưởi Đào): Giống bưởi này có nhiều dạng khác nhau, điển
hình là bưởi đỏ Mê Linh, trồng nhiều ở huyện Mê Linh tỉnh Vĩnh Phúc, bưởi
gấc ở Đại Hoàng - Nam Định, Hoài Đức - Hà Tây và một số tỉnh trung du
miền núi phía Bắc, bưởi Xiêm Vang ở tỉnh Vĩnh Cửu - Đồng Nai.
- Bưởi Phục Hoà: có nguồn gốc từ Trung Quốc, được trồng nhiều ở
vùng Phục Hoà, tỉnh Cao Bằng từ những năm 1960 khi bộ đội Trung Quốc
sang giúp Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống Mỹ. Bưởi Phục Hoà cây 10

sinh trưởng khoẻ, phân cành nhiều, cành lá mở rộng, tán hình bán cầu, lá hình
ovan, xanh đậm ra hoa vào khoảng tháng 2 tháng 3 hàng năm, thu hoạch vào
tháng 11- tháng 12, quả hình lê, vỏ quả sau khi chín có màu xanh vàng hoặc
màu da cam, quả dễ bóc, tép bó chặt, ngọt có mùi thơm, không he đắng. Bưởi
Phục Hoà có những đặc điểm giống như bưởi Sa Điền (huyện Dung, Quảng
Tây, Trung Quốc) qua quá trình trồng ở Việt Nam thấy chất lượng tốt hơn
như vị ngọt thanh hơn, có nhiều nước hơn,… nên rất được ưa chuộng.
Bưởi nhập nội: Bưởi chùm hoặc bưởi Pomelo thuộc loài C. paradise
Macf. Cây phân cành thấp, nhiều cành, quả chùm hoặc quả đơn, to hơn cam,
nhỏ hơn bưởi (từ 400 - 500g/quả). Quả nhiều nước, hơi chưa, vỏ khó bóc, ăn
ngon. Khả năng cất giữ tốt, vận chuyển dễ nên được trao đổi nhiều trên thị
trường quốc tế. Nguồn gốc có thể là thứ lai giữa bưởi và cam hoặc đột biến
mầm từ bưởi. Loài C. paradise nhập nội vào ta có thứ quả to, tép hồng, chín
sớm, chất lượng khá, thích ứng rộng với nhiều vùng sinh thái [28].
Năm 2008, bộ môn Rau - Hoa - Quả, khoa Nông học thuộc trường ĐH
Nông lâm Thái Nguyên đã thu thập giống bưởi Sa Điền (một trong những
giống bưởi ngon của Trung Quốc tại thôn Sa Điền - huyện Dung - tỉnh Quảng

Nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy, trong thành
phần của cây trồng có mặt 92 nguyên tố hoá học, nhưng chỉ có 16 nguyên tố
thiết yếu với cây trồng được Galston tìm ra vào năm 1980[3]
Theo Galston, 16 nguyên tố thiết yếu đó là: C, H, O, N, S, P, K, Mg, Ca,
Fe, Cu, Mn, Zn, B, Mo, Cl. Đến năm 1998, Lincoln Taiz [33] đã bổ sung thêm 3
nguyên tố thiết yếu nữa là Na, Si, Ni. Tổng số có 19 nguyên tố thiết yếu.
Dựa vào hàm lượng của chúng trong cây và cả chức năng sinh lý mà
người ta chia các nguyên tố thiết yếu thành các nhóm khác nhau. Dựa vào
hàm lượng trong cây người ta chia thành nguyên tố đa lượng (0,1 - 1,5% khối
lượng chất khô), nguyên tố vi lượng (< 0,1% chất khô) và nguyên tố siêu vi
lượng (10
-8
- 10
-17
% khối lượng chất khô) [19, 35]. Dựa vào chức năng hóa
sinh và sinh lý của các nguyên tố khoáng đối với cây, người ta phân chúng
thành 4 nhóm bao gồm: chất dinh dưỡng tham gia cấu tạo chất hữu cơ của
cây; các chất dinh dưỡng có vai trò quan trọng trong dự trữ năng lượng và
toàn vẹn cấu trúc; các nguyên tố dinh dưỡng tồn tại ở dạng ion và các chất
dinh dưỡng có liên quan đến vận chuyển điện tử [17]. 12

* Đạm: Đạm là nguyên tố có ảnh hưởng lớn nhất trong sản xuất cây có
múi, cây có múi cần nhiều nitơ hơn so với chất dinh dưỡng khác. Nitơ là một
thành phần của chất diệp lục, kết hợp với chức năng quan trọng trong cây như
tăng trưởng, phát triển bộ lá, hình thành hoa, đậu, phát triển và chất lượng
quả. Đủ nitơ cây sinh trưởng khỏe, sung sức, quả nhiều, phát triển cân đối.
Thiếu nitơ mất màu xanh của lá cây, lá cây tái nhợt, nhỏ. Lá già rụng vào đầu

2
O.
* Canxi: cần cho bộ rễ phát triển. Khi bón tăng Canxi phải tăng Kali (vì
hai nguyên tố này đối kháng nhau).
Thiếu Canxi: Thí nghiệm trong chậu cho thấy, nếu thiếu Canxi thì dọc
gân chính và mép lá nhạt màu, lá sớm rụng, mầm chết từ ngọn, quả mau rụng.
Thừa Canxi: Làm pH đất tăng, khi pH ≥ 7 lá cam thường bị bệnh rỉ sắt,
cây khó hút các nguyên tố vi lượng (Zn, Mg, Fe).
* Magiê: Thiếu Magiê lá có màu "đỏ hồng", biểu hiện rõ ở lá già (vết
hình mũi tên gốc lá). Nếu thiếu nặng hơn năng suất thấp, hàm lượng axit tổng
số và vitaminC giảm.Trong lá hàm lượng Magiê ≥ 0,25% được coi là đủ,
Magiê = 1.25% là quá thừa, Magiê < 0,15% là thiếu phải bổ sung. Nếu bón
Kali liên tục sẽ làm giảm hấp thu Magiê của cây.
* Sắt: Thiếu sắt thì lá cây mỏng, vàng, gân lá xanh, lá mau rụng, lá khô
từ đầu cành trở xuống, quả rụng, cây kém chịu rét. Khắc phục bằng cách phun
FeSO
4
0,5%.
* Đồng: Thiếu Cu thì cành non mới mọc yếu ớt, cành có cạnh rõ, lá to
đậm, gân chính nhô lên. Thiếu nặng thì lá nhỏ, mau rụng, quả hay bị nứt, khi
còn xanh, quả chín có màu vỏ tối, thịt quả chua xốp.
* Kẽm: Thiếu Zn thì lá mọc đứng màu vàng, gân xanh, cành ngắn khô
dần, quả nhỏ, vị nhạt, thịt quả khô, phẩm chất kém. Cách khắc phục: phun
hỗn hợp ZnSO
4
0,6%.
* Bo: Thiếu Bo trên lá xuất hiện đốm trắng, dần dần thành từng đám
đục nhờ, lá rụng sớm, quả nhỏ, dễ rụng, phẩm chất kém. Cách khắc phục:
phun axit boric 0,25% lên lá.


nên sản phẩm thu hoạch phản ánh tình hình đất đai và việc cung cấp thức ăn
cho cây.
Bón phân cân đối và vừa phải có thể làm tăng chất lượng sản phẩm.
Thiếu chất dinh dưỡng, bón phân không cân đối hoặc bón quá nhu cầu của
cây đều làm giảm chất lượng nông sản. Giữa các bộ phận trong cây thì phân
bón làm thay đổi thành phần hoá học của lá dễ hơn là làm thay đổi thành phần
hoá học của hạt.
Tài liệu của các tác giả Nguyễn Danh Vàn và Nguyễn Thế Đặng đồng
nhất quan điểm rằng phân hữu cơ là loại phân rất tốt cho nhóm cây có múi,
mỗi năm nên bón cho cây khoảng từ 20 - 50kg phân hữu cơ đã hoai mục vào
lúc sau khi thu hoạch [7, 27].
Phân hữu cơ khi bón vào đất sẽ có tác dụng tổng hợp đối với đất. Ngoài
khía cạnh dinh dưỡng nó còn có tác dụng làm tăng khả năng hấp phụ, tăng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status