tìm hiểu giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu trong hoạt động sản xuất lúa của người dân xã phú thanh, huyện phú vang, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 13

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Biến đổi khí hậu (BĐKH) hiện nay đang thay đổi theo chiều hướng xấu.
Nguyên nhân của sự biến đổi này là do nhiệt độ của bầu khí quyển tăng lên
dưới sự tác động của con người (90% là do con người gây ra, IPCC) [9]. Điều
này làm thay đổi các quy luật của khí quyển và những biểu hiện của thời tiết
trên phạm vi toàn cầu. Sự biến đổi này sẽ làm trầm trọng thêm mức độ tác
động của thiên tai tới cuộc sống và các hoạt động sản xuất. Hàng trăm triệu
người có thể phải lâm vào nạn đói, thiếu nước và lụt lội tại vùng ven biển do
trái đất nóng lên. Sử dụng kết quả thu được từ các mô hình kinh tế, Nicholas
Stern tính toán rằng nếu chúng ta không hành động, tổng chi phí và rủi ro do
BĐKH gây ra, tương đương với thiệt hại mỗi năm ít ra là 5% GDP toàn cầu
kể từ nay trở đi. Nếu xét đến rủi ro và tác động với biên độ rộng hơn thì thiệt
hại (hàng năm) được ước tính vào khoảng 20% GDP hoặc lớn hơn. Ngược lại,
chi phí cho hành động giảm phát thải khí nhà kính, nhằm tránh những tác
động xấu nhất của BĐKH, có thể chỉ giới hạn trong phạm vi 1% GDP hàng
năm. Biến đổi khí hậu sẽ tác động đến tất cả các quốc gia trên thế giới, những
nạn nhân nhạy cảm nhất bao gồm các quốc gia và các tầng lớp dân chúng
nghèo nhất, sẽ phải hứng chịu sớm nhất và nặng nề nhất, mặc dù họ lại góp
phần nhỏ nhất trong việc tạo ra các nguyên nhân BĐKH. Những phí tổn do
các hiện tượng thời tiết cực trị gây ra, trong đó phải kể đến lũ lụt, hạn hán,
bão, đã bắt đầu gia tăng ngay cả đối với những nước giàu [11].
Việt Nam là quốc gia nằm trên bán đảo lớn của Biển Đông thông ra
Thái Bình Dương, được đánh giá là một trong năm quốc gia bị ảnh hưởng
nhiều nhất bởi sự biến đổi khí hậu toàn cầu [7]. Trong khoảng 50 năm qua,
nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam tăng khoảng 0,7
0
C, mực nước biển đã
dâng khoảng 20 cm. Theo tính toán, nhiệt độ trung bình ở Việt Nam có thể
tăng lên 3
0

nào đóng vai trò rất quan trọng.
Xuất phát từ vấn đề đó tôi tiến hành đề tài: "Tìm hiểu giải pháp thích
ứng với biến đổi khí hậu trong hoạt động sản xuất lúa của người dân xã
Phú Thanh, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế"
2
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Xác định các biểu hiện của biến đổi khí hậu tại điểm nghiên cứu
- Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu tới hoạt động sản xuất lúa của
người dân
- Tìm hiểu và đánh giá các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu của
người dân trong hoạt động sản xuất lúa
3
PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Biến đổi khí hậu và biểu hiện của biến đổi khí hậu
2.1.1. Một số khái niệm liên quan
2.1.1.1. Thời tiết
Là điều kiện hay trạng thái của không khí, đặc trưng bởi một tập hợp các
yếu tố khí tượng như: Nhiệt độ, lượng mưa, độ ẩm, áp suất không khí, lượng gió,
mây, ánh sáng mặt trời, xảy ra với địa điểm và thời gian nhất định [1].
2.1.1.2. Khí hậu
Là điều kiện trung bình của thời tiết trong khoảng thời gian nhất định
(thường là 30 năm, WMO) [1].
2.1.1.3. Các hiện tượng thời tiết cực đoan
Bao gồm các hiện tượng như lũ lụt, hạn hán, bão - áp thấp nhiệt đới, rét …
Lũ lụt là hiện tượng nước sông dâng lên cao trong khoảng thời gian nhất
định, sau đó giảm dần. Khi lũ lớn, nước lũ tràn qua bờ sông, bờ đê, chảy vào
vùng thấp trũng và gây ngập trên diện rộng thì được gọi là lụt [15].
Hạn hán trong sản xuất nông nghiệp được hiểu là thiếu độ ẩm đối với
một thời vụ hay thời kỳ sản xuất trung bình. Điều này xảy ra ngay cả khi mưa
ở mức trung bình, nhưng lại do điều kiện khác gây ra như: tính chất đất, kỹ

hơn biến đổi khí hậu) [1].
2.1.2. Biểu hiện của biến đổi khí hậu trên thế giới và Việt Nam
2.1.2.1. Biểu hiện của biến đổi khí hậu trên thế giới
Sự thay đổi của khí hậu toàn cầu đang ngày càng diễn ra mạnh mẽ.
Theo báo cáo đánh giá lần thứ 4 của IPCC, sự nóng lên toàn cầu của hệ thống
khí hậu hiện nay là chưa từng có và rất rõ ràng từ những quan trắc nhiệt độ và
đại dương trung bình toàn cầu, sự tan chảy của băng và tuyết trên phạm vi
rộng lớn và sự dâng lên của mực nước biển trung bình toàn cầu. Xu thế tăng
nhiệt độ trong chuỗi số liệu 100 năm (1906 - 2005) là 0,74
0
C. Xu thế tăng
nhiệt độ trong 50 năm gần đây là 0,13
0
C/1 thập kỷ, gấp 2 lần xu thế tăng của
100 năm qua [9].
Nhiệt độ trung bình ở Bắc cực đã tăng với tỷ lệ 1,5
0
C/100 năm, gấp 2
lần tỷ lệ tăng trung bình toàn cầu, nhiệt độ trung bình ở Bắc cực trong 50 năm
cuối thế kỷ 20 cao hơn bất kỳ nhiệt độ trung bình của 50 năm nào khác trong
500 năm gần đây và có thể là cao nhất, ít nhất là trong 1.300 năm qua.
5
Nhiệt độ trung bình ở đỉnh lớp băng vĩnh cửu ở Bắc bán cầu đã tăng 3
0
C
kể từ năm 1980. 11 năm trong số 12 năm gần đây (1995 - 2006) nằm trong số
12 năm nóng nhất trong chuỗi quan trắc bằng máy kể từ năm 1850 [9].
Mực nước biển trung bình toàn cầu đã tăng với tỷ lệ trung bình 1,8
mm/năm trong thời kỳ 1961 - 2003 và tăng nhanh hơn với tỷ lệ 3,1 mm/năm
trong thời kỳ 1993 - 2003. Tổng cộng, mực nước biển trung bình toàn cầu đã

mỗi năm [10].
Số cơn bão hoạt động trên Biển Đông và ảnh hưởng đến Việt Nam có xu
thế giảm trong 4 thập kỷ qua: Ở Việt Nam, từ 74 cơn trong thập kỷ 1960 xuống
còn 68 cơn trong thập kỷ 1990, số cơn bão mạnh có chiều hướng tăng lên, mùa
bão kết thúc muộn hơn, quỹ đạo bão có vẻ dị thường hơn và số cơn bão ảnh
hưởng tới khu vực Nam Bộ có phần tăng lên trong những năm gần đây.
Số ngày mưa phùn ở miền Bắc giảm một nửa, từ trung bình 30 ngày
mỗi năm trong thập kỷ 1960 xuống còn 15 ngày mỗi năm trong thập kỷ 1990.
Lượng mưa biến đổi không nhất quán giữa các vùng. Riêng trong hai thập kỷ
gần đây, lượng mưa năm ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh có xu hướng giảm đi,
trong khi ở Đà Nẵng có xu hướng tăng lên. Hạn hán có xu hướng mở rộng ở
hầu hết các vùng, đặc biệt là cực Nam Trung Bộ, dẫn đến gia tăng hiện tượng
hoang mạc hóa. Mực nước biển trung bình đã tăng 25 - 30cm trong khoảng 50
năm qua [10].
Hiện tượng El Nino và La Nina ảnh hưởng đến nước ta mạnh mẽ hơn
trong vài thập kỷ gần đây, gây ra nhiều kỷ lục có tính dị thường về thời tiết
như nhiệt độ cực đại, nắng nóng và hạn hán gay gắt trên diện rộng, cháy rừng
khi có El Nino, điển hình là năm 1997 – 1998, mưa lớn, lũ lụt và rét hại khi
có La Nina như năm 2007 [14].
2.1.2.3. Biểu hiện của biến đổi khí hậu ở Thừa Thiên Huế
Tại Thừa Thiên Huế, sự thay đổi khí hậu còn đậm nét hơn các nơi khác.
Nhiệt độ trung bình năm ở Thừa Thiên Huế trong mấy thập kỷ qua không có
dấu hiệu tăng lên rõ rệt, tuy nhiên trong những thập kỷ gần đây thường xảy ra
nhiều đợt nắng nóng hoặc rét đậm. Trong đó xu hướng tăng nhiệt độ ở vùng
núi có chiều hướng tăng nhanh hơn vùng ven biển. Cường độ mưa tăng rõ rệt,
trong vòng 50 năm trở lại đây, lũ lụt xảy ra thường xuyên hơn nửa đầu thế kỷ
trước [8]. Cường độ mưa sẽ tăng khoảng 5 - 10%, sự dị thường dẫn đến lũ lụt,
hạn hán và xâm nhập mặn sẽ nhiều hơn [9].
Từ năm 1952 đến 2008 đã có 36 cơn bão ảnh hưởng trực tiếp đến Thừa
Thiên Huế. Không những thế, mực nước biển và đỉnh lũ lần sau luôn cao hơn

Việt Nam là một nước nông nghiệp truyền thống với 75% dân số sống
bằng nông nghịệp và 70% lãnh thổ là nông thôn với cuộc sống người dân còn
phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên mà chủ yếu là khí hậu. Trong bối cảnh
8
biến đổi khí hậu toàn cầu, Việt Nam là một trong những nước bị tác động
mạnh nhất.
Trong 10 năm gần đây, hạn hán đã hoành hành gây hậu quả nặng nề đối
với sản xuất nông lâm nghiệp của nhiều địa phương, đặc biệt là miền Trung
và Tây nguyên, theo số liệu thống kê các tỉnh, đợt hạn từ cuối năm 1997 đến
tháng 4/1998, thiệt hại của các tỉnh miền Trung riêng về nông nghiệp đã lên
1.400 tỷ đồng. Trong 5 năm gần đây, các tỉnh đồng bằng Sông Hồng liên tục
phải đối phó với tình trạng hạn hán gay gắt trong vụ đông xuân do mực nước
Sông Hồng liên tục xuống thấp dưới mức lịch sử trong vòng 100 năm qua.
Theo một báo cáo của ngân hàng thế giới (WB), trong trường hợp mực nước
biển dâng lên 1 m, trên 7% diện tích đất nông nghiệp của Việt Nam bị ngập
lụt. Với mức độ ảnh hưởng như vậy, nếu chỉ tính riêng thiệt hại do mất đất
sản xuất tại vùng bị ngập thì ước tính tổng sản lượng lương thực của nước ta
sẽ giảm khoảng 12% (xấp xỉ 5 triệu tấn) [2].
Thừa Thiên Huế là tỉnh ven biển của Việt Nam có nền sản xuất chủ yếu
là nông nghiệp. Trước sự diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu đã làm ảnh
hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp của tỉnh. Chỉ tính trong vòng 5 năm trở
lại đây, tổng thiệt hại trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh lên trên
1.000 tỷ đồng. Và ước tính, tỉnh Thừa Thiên Huế sẽ mất đến 8,33% GDP nếu
như nước biển dâng lên 50 cm và khi nước biển dâng cao 1m vào năm 2100
thì trên 20% số diện tích đất sản xuất nông nghiệp và rừng phòng hộ ven
sông, ven biển sẽ bị mất do ngập lụt và nhiễm mặn [2].
Sản xuất nông nghiệp hiện nay vẫn chủ yếu dựa trên các hộ cá thể, quy
mô nhỏ, trình độ khoa học kỹ thuật chưa cao. Đây là một thách thức lớn dưới
tác động của biến đổi khí hậu. Sản xuất nông nghiệp của chúng ta hiện nay
còn phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết, khí hậu. Khi tính biến động và dị thường

hoạt động thích ứng mang tính chất phòng ngừa trước yêu cầu phải có sự nhìn
nhận trước sự việc và có kế hoạch trong khi đó thích ứng phản ứng không đòi
hỏi nhưng nó có thể bao gồm cả việc dự đoán trước và đưa ra kế hoạch.
Thích ứng theo phương thức tự chủ như là các điều chỉnh một cách tự nhiên
hoặc các điều chỉnh không do tác động bên ngoài trong việc đối mặt với BĐKH,
có nghĩa là không có sự can thiệp trực tiếp của chính quyền hay con người.
10
Thích ứng có kế hoạch đòi hỏi có các hành động chiến lược dựa vào kiến
thức của BĐKH và hành động cần thiết để có thể ứng phó tốt hơn khi có sự
thay đổi. Tiềm năng của thích ứng có kế hoạch bao gồm chia sẽ thiệt hại, điều
chỉnh lại những đe dọa, ngăn chặn hoặc giảm tác động của biến đổi khí hậu.
Tóm lại, hiểu được khái niệm thích ứng và các loại thích ứng nhằm mục
đích nghiên cứu thích ứng với BĐKH, điều này là rất quan trọng và cần thiết,
nó có thể cung cấp rất nhiều cơ hội để giảm thiểu tác động của BĐKH, giảm
tính dễ bị tổn thương và rủi ro cho con người, môi trường và tự nhiên trong
bối cảnh BĐKH đang xảy ra.
2.3.4. Một số giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất
nông nghiệp.
Thích ứng trong sản xuất nông nghiệp có rất nhiều hình thức bao gồm
thay đổi mùa vụ sản xuất, chọn loài hoặc giống cây trồng vật nuôi, phát triển
các giống mới, cải thiện nguồn cung cấp nước và hệ thống thủy lợi, kỹ thuật
trên đất trồng trọt điều chỉnh và quản lý đầu vào, cải thiện các điều kiện thời
tiết và mùa vụ thông qua dự báo [6].
Giống cây trồng và vật nuôi
Đối tượng của sản xuất nông nghiệp chủ yếu là cây trồng và vật nuôi.
Việc có được cây và con giống tốt là điều kiện quan trọng để phát triển sản
xuất nông nghiệp. Giống cây trồng và vật nuôi là yếu tố quan trọng và yếu tố
quyết định năng suất, chất lượng cũng như khả năng chống chịu với thay đổi
của các tác nhân tác động thông qua yếu tố gen di truyền. Vì vậy, trong bối
cảnh biến đổi khí hậu, thích ứng trên phương diện giống cây trồng và vật nuôi

Thích ứng trong phương thức sản xuất bao gồm thay đổi cơ cấu cây
trồng trên một đơn vị diện tích hay liên kết các loại cây trồng và vật nuôi
trong một hệ thống sản xuất.
Việc thay thế phương thức sản xuất đọc canh và nuôi đơn con bằng các
phương thức kết hợp giữa cây trồng và vật nuôi trong một trang trại cũng như
thay đổi phương thức sản xuất quá chú trọng vào đầu tư phân bón và kỹ thuật
công nghệ cao bằng các kiến thức bản địa dường như thích hợp trong điều
kiện biến đổi khí hậu đặc biệt là đối với nông dân có điều kiện kinh tế thấp.
Để thích ứng với các biến đổi khí hậu, các vùng khác nhau phải có cách
bảo tồn trong nông nghiệp, chất hữu cơ trong đất và đối phó với các rủi ro
trong sản xuất. Vì vậy các phương thức sản xuất như kết hợp chặt chẽ trong
việc luân canh cây trồng, nông lâm kết kết hợp, liên kết giữa trồng trọt và
12
chăn nuôi, hệ thống cá - cây, hệ thống cây trồng theo theo ruộng bậc thang và
các hệ thống canh tác kết hợp khác đa được áp dụng rộng rãi tại nhiều vùng
được xem là thích ứng trong phương sản xuất.
Phương thức sản xuất kết hợp giữa nông nghiệp - lâm nghiệp theo hệ
thống là một hình thức thích ứng tốt với biến đổi khí hậu ở khu vực vùng
miền núi và các vùng cát nội đồng thông qua thay đổi tiểu khí hậu, cải thiện
có hiệu quả sử dụng đất, nguồn nước và khí hậu, đóng góp vào cải thiện độ
phì nhiêu của đất, giảm sự phát thải khí CO
2
và tăng sự cố định CO
2
. Sự kết
hợp giữa cây lâm nghiệp, cây trồng và chăn nuôi trong một hệ thống nhằm
giảm tính rủi ro khi biến đổi khí hậu tác động đồng thời các thành phần trong
hệ thống canh tác bổ trợ cho nhau [9].
Thời vụ sản xuất
Thời vụ sản xuất của hệ thống cây trồng và vật nuôi phụ thuộc vào

xác định được mức độ ảnh hưởng của các quyết định của họ khi đưa ra các lựa
chọn thích ứng. Thích ứng trong lĩnh vực kỹ thuật canh tác rất phong phú và
đa dạng tùy thuộc vào loại biến đổi khí hậu, điều kiện kinh tế - xã hội - tự
nhiên của vùng cũng như nhận thức của người dân, điều này được thể hiện rõ
thông qua kiến thức bản địa. Kiến thức bản địa là cái cơ bản nhất để đưa ra
các quyết định ở các cáp độ địa phương trong nhiều cộng đồng nông thôn. Nó
không chỉ có giá trị văn hóa mà nó còn là cơ sở cho các nhà khoa học và cac
nhà lập kế hoạch để cải thiện các điều kiện ở cộng đồng nông thôn. Kết hợp
chặt chẽ giữa kiến thức bản địa trong các chính sách cho biến đổi khí hậu có
thể dẫn đến phát triển hiệu quả, sự tham gia của cộng đồng và đạt được tính
bền vững [9].
14
PHẦN III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Nội dung nghiên cứu
3.1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của điểm nghiên cứu và các hộ
điều tra
3.1.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của điểm nghiên cứu
a. Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý
- Thời tiết, khí hậu
- Thủy văn
- Diện tích đất đai
b. Điều kiện kinh tế - xã hội
- Dân cư địa phương
- Lực lượng lao động
- Các ngành kinh tế
- Thu nhập của hộ
3.1.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội của các hộ điều tra
- Số nhân khẩu
- Số lao động

- Mức độ phù hợp
- Sản lượng lúa thu lại
3.2.6. Các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu của cộng đồng và
nông hộ trong hoạt động sản xuất lúa tại điểm nghiên cứu
* Ở cấp cộng đồng:
- Các công trình, phương tiện hỗ trợ
- Nâng cao năng lực về phòng chống BĐKH
- Hiệu quả của các giải pháp
* Ở cấp nông hộ:
- Các giải pháp thích ứng
- Mức độ áp dụng và phù hợp của các giải pháp
- Tình hình an ninh lương thực
3.3. Phương pháp nghiên cứu
3.3.1. Phương pháp chọn điểm
Điểm nghiên cứu được chọn là xã Phú Thanh, huyện Phú Vang, tỉnh
Thừa Thiên Huế. Đây là xã sản xuất nông nghiệp chủ yếu, trong đó có diện
tích trồng lúa lớn. Hơn thế nữa đây là một trong những xã thuộc vùng bãi
ngang ven biển, có địa hình thấp trũng, thường xuyên chịu ảnh hưởng của
hiện tượng lũ lụt.
16
Hình 1: Bản đồ hành chính xã Phú Thanh
3.3.2. Phương pháp thu thập thông tin
• Thu thập dữ liệu thứ cấp
- Tập hợp và tham khảo các sách báo, báo cáo khoa học, tài liệu nghiên
cứu, tạp chí, thông tin trên mạng internet liên quan đến những biểu hiện, tác
động và các giải pháp thích ứng với BĐKH.
- Thu thập dữ liệu thứ cấp tại xã bao gồm các báo cáo về tự nhiên- kinh
tế xã hội năm 2009-2010
17
Điểm nghiên cứu

hộ và mức độ phù hợp trong hoạt động sản xuất lúa. Bằng cách liệt kê và
phân tích đánh giá giải pháp để thu thập thông tin trong nội dung này.
18
• Phỏng vấn sâu
Bao gồm: Chủ tịch hội nông dân xã, chủ tịch hội người cao tuổi xã và một
số người am hiểu, có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất lúa tại địa phương.
Để khẳng định lại và thu thập thông tin sâu về: thực trạng của lũ lụt xảy
ra ở địa phương; tác động của lũ lụt tới hoạt động sản xuất lúa và các giải
pháp ứng phó và thích ứng của cộng đồng và nông hộ đã và đang thực hiện
• Chọn hộ và phỏng vấn hộ
Tiến hành phỏng vấn bán cấu trúc các hộ theo phiếu điều tra, gồm 30 hộ.
Để thu thập một số thông tin về thu nhập, nhân khẩu, số lượng lao động, các
ngành nghề; Tình hình thiệt hại do tác động của lũ lụt trong hoạt động sản
xuất lúa; Tìm hiểu các giải pháp ứng phó và thích ứng và khả năng thích ứng
của các giải pháp đó trước tác động của lũ lụt lên hoạt động sản xuất lúa mà
nông hộ đã và đang áp dụng.
Cách chọn hộ: Các hộ được chọn có định hướng để tham gia phỏng vấn.
Các hộ được lựa chọn gồm hộ có diện tích sản xuất lúa thường xuyên bị ảnh
hưởng của lũ lụt và các hộ có kinh nghiệm lâu năm trong sản xuất nông
nghiệp tại địa phương (ít nhất là 15 năm)
• Quan sát
Phương pháp quan sát được sử dụng để nhận biết: Tình hình sản xuất lúa
trên đồng ruộng, tình hình thiệt hại do lũ lụt lên hoạt động trồng lúa, các công
trình đã có hoặc đang diễn ra để ứng phó và thích ứng với lũ lụt tại địa phương
3.3.3 Phương pháp xử lý thông tin
- Tất cả các số liệu định lượng được mã hoá, nhập và xử lý thống kê bằng
các phép tính trên phần mềm Excel
- Phương pháp phân tích định tính được sử dụng để phân tích thực trạng
nhận thức của người dân trong thích ứng với lũ lụt
19

rộng và sâu, tốc độ dòng chảy lớn. Ngoài việc cung cấp nước cho sản xuất và
sinh hoạt của người dân trong xã, sông Hương cũng là một yếu tố góp phần
gây nên hiện tượng ngập lụt cao.
20
Xã Phú Thanh là xã có diện tích tương đối hẹp nhất của huyện Phú
Vang, tổng diện tích đất tự nhiên là 771,2 ha (chiếm 2,75% tổng diện tích tự
nhiên toàn huyện) với dân số khoảng 4.879 người. Đây là xã thuộc vùng bãi
ngang ven biển, có địa hình thấp trũng, diện tích đất ngập nước nhiều. Do đó,
tình trạng sử dụng đất của xã Phú Thanh có những đặc trưng nhất định thể
hiện qua bảng 1.
Bảng 1: Tình trạng sử dụng đất của xã Phú Thanh
Chỉ tiêu
Đơn vị
tính
Số
lượng
Tỷ lệ
(%)
Tổng diện tích Ha 771,2 100
1. Đất nông nghiệp Ha 399,4 51,8
1.1. Đất sản xuất nông nghiệp Ha 391,4 98*
1.1.1. Đất trồng lúa Ha 361,8 92,3**
1.1.2. Đất trồng cây hàng năm khác Ha 23,2 6**
1.1.3. Đất trồng cây lâu năm Ha 6,4 1,7**
1.2. Đất nuôi trồng thủy sản Ha 8 2*
2. Đất phi nông nghiệp Ha 159,4 20,7
2.1. Đất ở Ha 47,4 29,7+
2.2. Đất chuyên dùng Ha 41 25,7+
2.3. Đất tôn giáo tín ngưỡng Ha 3,6 2,3+
2.4. Đất nghĩa trang, nghĩa địa Ha 29,4 18,4+

Số hộ sản xuất lúa Hộ 778 82,5
Số hộ nuôi trồng, đánh bắt thủy sản Hộ 113 11,9
Số hộ chăn nuôi Hộ 323 34,3
Số hộ làm ngành nghề khác Hộ 98 10,3
Phân theo nhóm hộ
Hộ nghèo Hộ 106 11,2
Hộ cận nghèo Hộ 120 12,7
Hộ trung bình Hộ 415 44,1
Hộ khá Hộ 302 32
(Nguồn: Số liệu thống kê của xã Phú Thanh, 2010)
22
Hoạt động trồng lúa của xã sản xuất một năm 2 vụ: Đông Xuân và Hè
Thu, tổng diện tích gieo trồng cả năm 673 ha, năng suất bình quân cả năm là
58 tạ/ha, tổng sản lượng lương thực có hạt cả năm 3.895 tấn tăng 201 tấn so
với năm 2009 (đạt 3.694 tấn). Ngoài diện tích trồng lúa, xã còn có diện tích
trồng hoa màu chủ yếu là (lagim, hoa cúc ) được trồng quanh năm trong
vườn nhà nhằm phục vụ gia đình và số ít để bán.
Tình hình chăn nuôi của xã năm 2010 có những thay đổi so với năm
2009. Tổng đàn trâu có 87con, tăng 9 con; tổng đàn bò 170 con, tăng 10 con;
tổng đàn lợn 2.000 con, giảm 800 con và tổng đàn gia cầm có 18.000 con,
giảm 1000 con so với cùng kỳ năm 2009.
Ngành thủy sản của địa phương đang còn phát triển chậm. Trong đó sản
lượng nuôi trồng thủy sản năm 2010 là 2 tấn chỉ đạt 50% chỉ tiêu đặt ra và
giảm 0,6 tấn so với năm 2009, còn tổng sản lượng đánh bắt thủy sản tự nhiên
đạt 5 tấn giảm 2 tấn so với năm 2009.
Công nghiệp và dịch vụ cũng giữ vai trò quan trọng nhưng chưa thực sự
phát triển. Về dịch vụ chủ yếu là dịch vụ của 2 Hợp tác xã kinh doanh dịch vụ
cá thể như dịch vụ nông nghiệp, xây dựng, giao thông vận tải. Còn công
nghiệp chủ yếu là khai thác vật liệu xây dựng, mộc dân dụng, mộc mỹ nghệ,
hàn gò [13].

sống và thu nhập của các hộ khó khăn hơn. Điều này được minh chứng qua
thu nhập bình quân/hộ/năm của các hộ điều tra bình quân là 32.572 ngìn
đồng/hộ. Mức thu nhập này của các hộ điều tra thấp hơn nhiều so với tổng thu
nhập toàn xã (58.900 ngìn đồng).
Sinh kế của các nhóm hộ điều tra kém đa dạng. Họ sống chủ yếu dựa
vào nông nghiệp là chính như trồng lúa, chăn nuôi, đánh bắt thủy sản và 1 số
nghề phụ khác có thu nhập tương đối thấp. Tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ
có số lượng hộ tham gia còn rất ít. Đối với mỗi nhóm hộ thì mỗi hoạt động
tạo thu nhập giữ một vai trò nhất định trong toàn bộ sinh kế của hộ.
24
Bảng 4: Nguồn thu quan trọng nhất của các hộ điều tra năm 2010
Thứ tự Nguồn thu
Số lượng hộ
(n=30)
Tỷ lệ
(%)
1 Lúa
30 100
2 Đánh bắt thủy sản
9 30
3 Thợ nề
2 6,6
4 Làm thuê
7 23,3
(Nguồn: Phỏng vấn hộ năm 2011)
Ngoài những nguồn thu được liệt kê trong bảng 4, hoạt động chăn nuôi,
buôn bán, trồng rau màu cũng mang về cho nông hộ nguồn thu đáng kể.
Nhưng xét trong mối quan hệ với các nguồn thu khác, thì chúng lại không giữ
vai trò quan trọng nhất. Từ kết quả bảng 4 cho thấy, hoạt động tạo thu nhập
quan trọng nhất của các hộ là trồng lúa với 100% số hộ tham gia sản xuất, thứ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status