nghiên cứu đề xuất các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất muối tại huyện cần giờ tp.hcm - Pdf 25

1

CHƢƠNG I: TỔNG QUAN

I. TỔNG QUAN VỀ NGHỀ MUỐI VÀ ẢNH HƢỞNG CỦA BIẾN ĐỔI
KHÍ HẬU ĐẾN SẢN XUẤT MUỐI TẠI TP. HỒ CHÍ MINH:
Nghề làm muối là một nghề có truyền thống lâu đời của Việt Nam, gắn
chặt với nguồn nước biển và phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, khí hậu,
thời tiết, nhiệt độ, nắng trời ở các vùng ven biển. Với 23 km chiều dài bờ biển,
nghề làm muối tại huyện Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh đã hình thành và phát triển
khá lâu, diện tích sản xuất muối bình quân hàng năm khoảng 1.500 ha, thứ 4 về
quy mô diện tích sản xuất muối của cả nước (năm 2013) (sau Bạc Liêu, Ninh
Thuận, Bến Tre), nghề làm muối tại huyện Cần Giờ đã góp phần giải quyết việc
làm cho hàng ngàn lao động tại địa phương, đóng góp rất lớn cho quá trình phát
triển kinh tế xã hội của huyện Cần Giờ TP.Hồ Chí Minh nói riêng và cả nước
nói chung. Các xã có vùng sản xuất muối như: Lý Nhơn, Thạnh An, Cần Thạnh
và Long Hoà. Trong đó, xã Lý Nhơn được Ủy ban nhân dân thành phố chọn xây
dựng 1 trong 4 làng nghề trọng điểm của thành phố theo Quyết định số
2988/2003/QĐ-UBND ngày 04 tháng 8 năm 2003, và một trong các làng nghề
được bảo tồn theo Đề án bảo tồn và phát triển làng nghề tại TP. Hồ Chí Minh tại
Quyết định số 3861/QĐ-UBND ngày 17 tháng 7 năm 2013 của Ủy ban nhân dân
thành phố.
Sản lượng sản xuất bình quân hàng năm từ 90 đến 100 ngàn tấn/năm,
nghề làm muối tại huyện Cần Giờ nói chung và làng nghề muối xã Lý Nhơn nói
riêng đã giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động, góp phần xoá đói giảm
nghèo và ổn định xã hội, cung cấp lượng muối khá lớn cho TP. Hồ Chí Minh, cả
nước và kể cả xuất khẩu, góp phần khai thác được lợi thế vùng ven biển Cần
Giờ. Vì vậy, trong những năm qua nghề muối tại huyện Cần Giờ được chính
quyền Trung ương và Thành phố quan tâm hỗ trợ.
Tại Việt Nam, theo quy hoạch đã được phê duyệt tại Quyết định số
161/QĐ-TTg ngày 05 tháng 02 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ, đến năm

Bên cạnh đó, với phương pháp sản xuất kiểu truyền thống kết tinh trên
nền đất (muối đất) hiện nay rất rủi ro khi có hiện tượng thời tiết thất thường, nếu
tính bình quân trong niên vụ muối 2011 – 2013, giá thành muối đất bình quân là
1.053 đồng/kg, trong khi đó giá thành muối bạt là 808 đồng/kg, điều này cho
thấy lợi thế của quy trình sản xuất muối bạt thích ứng với điều kiện biến đổi khí
hậu, tuy nhiên quy trình này chưa được nghiên cứu và hoàn thiện trong điều kiện
biến đổi khí hậu hiện nay. Vấn đề biến đổi khí hậu đã được nêu chung nhất trong
các báo cáo, đề tài, chuyên đề nghiên cứu khoa học khác nhau, nhưng chưa có
công trình hay đề tài nghiên cứu cụ thể cho lĩnh vực sản xuất muối nói chung và
tại huyện Cần Giờ nói riêng.
Như vậy, có thể thấy hậu quả của biến đổi khí hậu là nghiêm trọng, một
nguy cơ hiện hữu và lâu dài cho mục tiêu xoá đói giảm nghèo, phát triển bền
vững của xã hội. Làm thế nào để thích ứng với biến đổi khí hậu trong sản xuất
3

muối của diêm dân huyện Cần Giờ nhằm phát huy lợi thế về biển của địa
phương là một vấn đề có nhiều góc độ mới về khoa học cũng như thực tiễn.
II. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU:
Trong những năm qua, việc nghiên cứu về biến đổi khí hậu đã được nhiều
tác giả, các trường học, viện, cơ quan của Nhà nước từ cấp Trung ương đến địa
phương thực hiện, nhất là từ năm 2008 đến nay, khi Bộ Tài nguyên và Môi
trường báo cáo Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với Biến đổi khí hậu.
Các nghiên cứu về BĐKH đã thực hiện trên nhiều lĩnh vực quan trọng, đóng góp
rất lớn cho công cuộc ứng phó với BĐKH của Việt Nam.
Trong lĩnh vực sản xuất muối, một ngành chịu tác động trực tiếp của các
điều kiện thời tiết khí hậu, đã có các công trình nghiên cứu có liên quan, đây là
cơ sở lý luận và khoa học cho việc nghiên cứu của đề tài.
Năm 2010, tác giả Nguyễn Mạnh Dũng, đã có báo cáo đánh giá về của
ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đến sản xuất muối của Việt
Nam. Tác giả đã nêu khái quát về những tác động ảnh hưởng của biến đổi khí

Nội. Đây là phiên bản cập nhật của kịch bản năm 2009, được bổ sung dữ liệu,
kiến thức mới về hệ thống khí hậu và các phương pháp tính toán mới.
Kịch bản biến đổi khí hậu ở Việt Nam bao gồm: kịch bản phát thải thấp
(B1), kịch bản phát thải trung bình (B2, A1B), kịch bản phát thải cao (A2,
A1FI).
Theo kịch bản phát thải cao, vào cuối thế kỷ 21, nếu mực nước biển dâng
1m sẽ có khoảng 39% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long, trên 10% diện tích
Đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, trên 2,5% diện tích thuộc các tỉnh ven
biển Miền Trung và trên 20% diện tích thành phố Hồ Chí Minh có nguy cơ bị
ngập. Gần 35% dân số thuộc các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long; trên 9%
dân số vùng Đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh; gần 9% dân số các tỉnh ven
biển Miền Trung và khoảng 7% dân số thành phố Hồ Chí Minh bị ảnh hưởng
trực tiếp. Đồng thời trên 4% hệ thống đường sắt, trên 9% hệ thống quốc lộ và
khoảng 12% hệ thống tỉnh lộ của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng.
Bộ Tài nguyên Môi trường đã xây dựng 3 kịch bản phát thải thấp, trung
bình và kịch bản phát thải cao về biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Đặc biệt,
trong đó có 7 khu vực ven biển của Việt Nam và các bản đồ nguy cơ ngập tương
ứng với mực nước biển dâng cho khu vực Đồng bằng sông Hồng và Quảng
Ninh; 15 tỉnh ven biển Miền Trung từ Thanh Hóa đến Bà Rịa-Vũng Tàu với tỷ
lệ 1:10.000 (tương đương cấp huyện); khu vực thành phố Hồ Chí Minh và Đồng
bằng sông Cửu Long với tỷ lệ 1:5.000.
Bộ Tài nguyên và Môi trường khuyến nghị việc sử dụng Kịch bản BĐKH,
nước biển dâng trong việc đánh giá tác động và xây dựng kế hoạch hành động
ứng phó hoặc thích ứng với BĐKH, cần được xem xét và lựa chọn phù hợp với
từng ngành, lĩnh vực địa phương với các tiêu chí; tính đặc thù của từng ngành,
lĩnh vực, địa phương; tính hiệu quả về kinh tế, xã hội, môi trường; tính bền
vững; tính khả thi và khả năng lồng ghép với các chiến lược, chính sách và kế
hoạch phát triển.
5


những cơ sở quan trọng để tài đánh giá các ảnh hưởng đến quá trình sản xuất
muối tại TP. Hồ Chí Minh.
Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu khác, như: Báo cáo đặc biệt về
các kịch bản phát thải khí nhà kính năm 2000 của IPCC, Báo cáo xác định giải
pháp và xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu ở vùng ven
biển Cần Giờ, TP.Hồ
6

Nam t
(Lương Văn Việt), Đánh giá tác động của Biến đổi khí hậu, đặc biệt là nước
biển dâng đến sự biến động diện tích và cơ cấu sử dụng đất trên toàn lãnh thổ
Việ 2012 – 2013); Nghiên
cứu đánh giá hiện tượng nâng hạ sụt lún dải ven biển Việt Nam để bổ sung hoàn
thiện kích bản biến đổi khí hậu và nước biển dâng ở Việt Nam (Viện Khoa học
Địa chất và Khoáng sả 2012 – 2014);…. Các nghiên cứu
của các tác giả nước ngoài như: Andrew Symon ( 2007), Thách thức của việc
thay đổi khí hậu trong khu vực Đông Nam Á”; Emil Salim (2009), Biến đổi khí
hậu ảnh hưởng đến kinh tế ở Đông Nam Á; Belinda Yuen and Leon Kong
(2009), Biến đổi khí hậu và quy hoạch đô thị trong khu vực Đông Nam Á; Philip
Dorling and Richard Baker (2010), Cảnh báo biến đổi khí hậu trên toàn Đông
Nam Á; Mr. Gita Wirjawan, Biến đổi khí hậu ở Đông Nam Á và tại sao chúng ta
không thể không hành động; Greenpeace Philippines (2011), Thay đổi khí hậu
là mối đe dọa chính đối với Đông Nam Á”,
III. TÍNH CẤP THIẾT VÀ Ý NGHĨA NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI:
Có thể thấy những nguy cơ ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đã và đang
diễn ra, cùng với những dự báo về biến đổi khí hậu trong tương lai, nghề làm
muối của diêm dân huyện Cần Giờ phải đối phó với nhiều khó khăn và thách
thức.
Do vậy, việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp thích ứng
với biến đổi khí hậu trong sản xuất muối tại huyện Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh”

và nước biển dâng).
đến năm 2030; 2050, 2070 và 2100 theo các kịch bản phát thải biến đổi khí hậu.
Hoàn thiện Quy trình sản xuất muối theo phương pháp kết tinh trải bạt
thích ứng với biến đổi khí hậu, nhằm giảm rủi ro, nâng cao năng suất, chất lượng
của diêm dân huyện Cần Giờ.
Tập huấn Quy trình sản xuất muối theo phương pháp kết tinh trải bạt thích
ứng với biến đổi khí hậu, nhằm giảm rủi ro, nâng cao năng suất, chất lượng của
diêm dân huyện Cần Giờ.
Đề xuất các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu của nghề làm muối
tại huyện Cần Giờ, gồm: kinh tế, kỹ thuật, môi trường và xã hội.
Đề xuất các cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển bền vững nghề muối tại
huyện Cần Giờ trong điều kiện biến đổi khí hậu trong sản xuất muối tại huyện
Cần Giờ.

8

II. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
1. Phƣơng pháp điều tra, thống kê mô tả:
Đề tài tiến hành điều tra 500/672 hộ gia đình có nghề làm muối, để xem
xét đánh giá các hiện trạng nghề làm muối của hộ gia trình trước ảnh hưởng của
biến đổi khí hậu. Địa bàn điều tra tập trung chủ yếu ở xã Lý Nhơn và xã Thạnh
An huyện Cần Giờ (đây là 2 xã còn diện tích sản xuất muối theo quy hoạch
chung của thành phố và huyện Cần Giờ). Tập trung vào 4 vấn đề chính sau:
Thông tin chung: con người, đời sống kinh tế hiện tại của hộ gia đình.
Kết quả sản xuất kinh doanh của nghề làm muối: đầu vào đầu ra.
Thông tin về những ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất muối.
Kế hoạch hay định hướng sản xuất muối trước tác động về biến đổi khí
hậu.
2. Phƣơng pháp kế thừa và chọn lọc tài liệu:
Đề tài sử dụng và kế thừa các kết quả nghiên cứu của các công trình khoa

hình để thích hợp với khu vực cần nghiên cứu và kết hợp với các mô hình đánh
giá tác động.
SimCLIM được thiết kế để hỗ trợ ra quyết định và các giải pháp thích ứng
với biến đổi trong một loạt các tình huống khi mà khí hậu và biến đổi khi hậu có
thể gây ra nhiều nguy cơ. Người dùng có thể tùy chỉnh các gói mô hình trong
“nền tảng mở” của SimCLIM để đánh giá biến đổi khí hậu trong các kịch bản:
cơ sở, thay đổi trong tương lai cũng như các cực đoan. Các nguy cơ có thể được
đánh giá ở cả hiện tại và tương lai.
SimCLIM đã được phát triển để hướng tới người sử dụng. Hệ thống này
có tính linh hoạt cao để các có thể dễ dàng bổ sung vào các mô hình đánh giá tác
động do người khai thác phát triển thêm.
Mô hình có khả năng kết nối với các mô hình của DHI/MWH -
Wallingford/WEAP: thông qua quá trình làm việc với các tổ chức DHI và
MWH/Wallingford, WEAP, CLIMsystems đã và đang phát triển các giao diện
sao cho SimCLIM có thể kết nối với các bộ mô hình do các tổ chức trên phát
triển nhằm tiếp cận với những thành quả khoa học mới nhất của thể giới về biến
đổi khí hậu.
SimCLIM được phát triển trên nền tảng GIS: các tập tin vector có thể
được thêm vào hệ thống, do đó rất hữu hiệu khi thực hiện đánh giá rủi ro cho cơ
sở hạ tầng và các hệ thống sinh học. Đồng thời các kết quả đầu ra được tạo ra
bởi SimCLIM có thể dễ dàng xuất ra các định dạng GIS phổ biến hiện nay. Kết
quả mô phỏng mực nưóc biển dâng tại Cần Giờ.
Trong mô hình SimCILIM, các thông số thiết lập để mô phỏng NBD có
liên quan việc mô phỏng các yếu tố khí hậu nên khi mô phỏng NBD phải thiết
lập các thông số cho mô hình BĐKH, các thiết lập thông số bao gồm:
Chọn phạm vi khu vực Cần Giờ
10

Lựa chọn các yếu tố khí hậu cần mô phỏng
Chọn các mốc năm BĐKH: 2030, 2050, 2070 và 2100


11

III. CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN SẢN XUẤT MUỐI, ẢNH
HƢỞNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU ĐẾN SẢN XUẤT MUỐI:
1. Lý luận về sản xuất muối biển:
Tất cả các dạng chất đều kết tinh ra dưới trạng thái quá bão hòa, vì hai
hiện tượng kết tinh và hòa tan của một chất cùng tiến hành một lúc. Khi tốc độ
hòa tan vượt quá hoặc bằng tốc độ kết tinh đều không nhìn thấy tinh thể xuất
hiện. Chỉ khi nào tốc độ kết tinh vượt quá tốc độ hòa tan mới có kết tinh ra trong
dung dịch.
1.1. Thứ tự kết tinh các loại muối khi cô đặc nƣớc biển:
Thứ tự kết tinh của các loại muối ở điều kiện nhiệt độ nhất định tùy thuộc
vào độ hòa tan của chúng. Loại muối có độ hòa tan nhỏ kết tinh trước nhất, vì
trong quá trình cô đặc, chúng dễ đạt tới điểm bão hòa. Khi tỉ trọng tăng cao, loại
muối có độ hòa tan lớn mới kết tinh. Căn cứ vào kết quả thí nghiệm về thứ tự kết
tinh các loại muối của Yusigio (Bảng 1), ta có thứ tự kết tinh các loại muối như
sau:
1.1.1. Oxit sắt (F
2
O
3
): độ hòa tan của chất này trong nước biển là bé nhất.
Vì thế khi nước biển bốc hơi, oxit sắt kết tinh trước tiên. Khi tỉ trọng 7,1
0
Be thì
toàn bộ oxit sắt trong nước biển đã kết tinh hết.
1.1.2. Canxi cacbonat (CaCO
3
): hàm lượng canxicacbonat trong nước

nồng độ nước biển. Ở 28,5
0
Be thì lượng kết tinh là lớn nhất, sau đó lại giảm
xuống rất nhanh, nhưng từ 30,2
0
Be thì lại tăng dần lên.
1.1.5. Natri clorua (NaCl): trong 1m
3
nước biển ở 3,5
0
Be có 29,6959 kg
natri clorua. Tới 26,25
0
Be thì bắt đầu kết tinh ra 3,2614 kg. Tới 27
0
Be lại kết
tinh ra 9,650 kg. Lượng NaCl kết tinh nhiều nhất là ở nồng độ này. Tới 30,2
0
Be
thì lượng kết tinh giảm rất nhiều và càng giảm nếu tỉ trọng tăng. 12

Bảng 1: Tỷ lệ kết tinh NaCl ở các tỷ trọng khác nhau
Tỷ trọng (
0
Be)
26,25
27

Be, đây chính là giai đoạn chính của quá trình sản xuất muối biển.
Bảng 2: Thứ tự kết tinh các loại muối

Nguồn: Đinh Văn Phúc (2009), Thiết lập Một quy trình sản xuất muối ăn
từ nước biển cho các đồng muối quy mô nhỏ, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học
KHNT.
Tỷ lệ
kết
tinh
của
NaCl
(%)
Độ mặn nước biển (Be)
13

1.2. Ứng dụng thứ tự kết tinh muối biển vào quá trình sản xuất:
Từ bảng số liệu 2.1 và đồ thị hình 2.2, có thể mô tả chi tiết quá trình bay
hơi nước của phương pháp sản xuất này gồm các giai đoạn mà các muối được
kết tinh theo nồng độ nước chạt.
1.2.1. Giai đoạn 1: Từ x
0
0
Be – 14
0
Be: tại giai đoạn này hầu hết các muối
cacbonat như sắt, magie và canxi được kết tinh. Trong khi các muối sắt cacbonat
và magie cacbonat kết tinh hoàn tất ở 13
0
Be thì chỉ có 90% CaCO
3

0
Be và 79% khi 30
0
Be. Khi nồng độ cao hơn, tốc
độ kết tinh chậm lại cho đến khi kết thúc toàn bộ cả quá trình. Muối NaCl được
hình thành dưới dạng tinh thể lập phương. Khi nồng độ nước muối cao hơn
30
0
Be thì nhiều muối khác như KBr, KI và MgSO
4
,… cũng được kết tinh. Do
vậy, kỹ thuật sản xuất muối ăn gắn liền với việc cho kết tinh phân đoạn để có thể
thu được muối NaCl tinh khiết nhất.
1.2.4. Giai đoạn 4: Diễn ra quá trình bay hơi rất phức tạp. Lượng muối
kali và magie sunfat, kali clorua tách ra dưới cả dạng tinh thể đơn và tinh thể
kép tại điều kiện cân bằng.
Quá trình sản xuất muối biển ở nước ta chủ yếu dừng lại ở giai đoạn 3 sau
khi NaCl kết tinh gần như khoảng 80% lượng có trong nước biển ban đầu. Dựa
vào cơ sở trên có thể phân chia diện tích sản xuất ra từng khu vực cụ thể như
sau:
Khu bay hơi sơ cấp: nồng độ Be có giá trị từ x
0
→ 14
0
Be.
Khu thạch cao: nồng độ Be có giá trị từ 14 → 25
0
Be.
Khu kết tinh: nồng độ Be có giá trị từ 25 → 30
0

Công đoạn kết tinh thạch cao (từ 14 – 25
0
Bé).
Công đoạn kết tinh muối ăn (từ 25 – 30
0
Bé).
Nhận xét về phƣơng pháp sản xuất muối truyền thống (muối đất):
Do phương pháp sản xuất theo dạng cổ truyền là lấy nước biển phơi kết
tinh vào mùa nắng nên sản phẩm chính là muối thô, thời gian sản xuất muối
trung bình từ 4-5 tháng/năm. Năng suất chất lượng thấp hơn các địa phương
khác, bình quân từ 40-60 tấn/ha.
Do vậy, trong thời gian qua đa số bà con diêm dân tại TP.Hồ Chí Minh có
mức thu nhập thuộc loại thấp, đời sống khó khăn và đều nằm trong diện xoá đói
giảm nghèo của thành phố. Từ đó rất cần vận động bà con diêm dân chuyển sang
công nghệ sản xuất muối sạch theo phương pháp trải bạt để nâng cao chất lượng,
năng suất, sản lượng muối từ đó nâng cao hơn thu nhập.
15

2.2.2. Sản xuất muối theo phƣơng pháp trải bạt (muối bạt):
Về cơ bản các giai đoạn sản xuất muối theo phương pháp trải bạt giống
với phương pháp truyền thống, chỉ khác ở ô kết tinh là có lót bạt nhựa để kết
tinh muối.
Sản xuất theo phương pháp trải bạt cho năng suất và chất lượng muối cao
hơn, giá thành cũng như giá bán đầu ra cao hơn.
Chi tiết kỹ thuật sản xuất muối được trình bày trong phần sau.
3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến quá trình bay hơi nƣớc biển:
Bốc hơi là sự thay đổi trạng thái của nước biển từ thể lỏng thành thể hơi,
tức là hiện tượng các phân tử nước sau khi thu nhiệt, sức vận động của nó lớn
hơn sức ngưng tụ, nó tách ra khỏi mặt dịch thể. Tốc độ bốc hơi có lúc nhanh, có
lúc chậm, phụ thuộc vào các yếu tố sau:

không có gió bốc hơi sẽ chậm. Khi các phân tử hơi nước bốc hơi khỏi bề mặt
dịch thể nếu không có gió rất dễ ngưng tụ lại trên mặt nước, làm cho mặt nước
vô hình chung ngang bằng với độ ẩm tăng thêm trong không khí, không có lợi
cho sự bốc hơi. Nếu có gió sẽ thổi tan các lớp hơi này không ảnh hưởng đến sự
bốc hơi. Đồng thời, nếu có gió mặt nước sẽ gợn sóng, mở rộng diện tích và làm
cho mặt nước thường xuyên lưu động sẽ thu thêm nhiều nhiệt lượng khiến cho
các phân tử nước dễ bay đi.
3.5. Nồng độ dịch thể:
Tốc độ bốc hơi tỉ lệ nghịch với nồng độ dịch thể: nếu nồng độ dịch thể cao
quá thì các phân tử khó tách ra khỏi bề mặt dịch thể. Đồng thời độ nhớt của nó
cũng lớn, chuyển động phân tử cũng nhỏ, các phân tử hơi nước khó tách ra khỏi
dịch thể.
3.6. Áp suất mặt nƣớc:
Tốc độ bốc hơi tỉ lệ nghịch với áp suất mặt nước: Bốc hơi là hiện tượng
phân tử nước tách ra khỏi dịch thể bay vào không khí. Nếu áp suất mặt nước lớn,
các phân tử nước rất khó thoát ra khỏi mặt nước. Do đó bốc hơi sẽ chậm lại.
3.7. Thời gian nắng:
Tốc độ bốc hơi tỉ lệ thuận với thời gian nắng: Nếu dài ngày thì thời gian
thu nhiệt của dịch thể cũng dài. Cho nên lượng nhiệt thu được cũng lớn và lượng
bốc hơi sẽ nhiều.
3.8. Độ sâu của nƣớc:
Nước nông nhiệt độ tăng lên nhanh vì cao, rất dễ tỏa nhiệt lượng vào
trong không gian, gây lãng phí nhiệt lượng. Nhưng nếu nước sâu quá thì nhiệt
lượng không được hấp thu xuống phía dưới, hiệu quả của quá trình phơi giảm.
17

4. Các yếu tố ảnh hƣởng của biến đổi khí hậu đến sản xuất muối:

Lượng bay hơi càng lớn thì thời gian và hiệu quả sản xuất muối càng cao và
ngược lại. Nơi sản xuất muối cần có độ ẩm không khí thấp, nhiệt độ không khí
cao, thời gian nắng dài và có hướng gió thổi từ lục địa thổi tới với cấp gió vừa
phải (cấp 4-5).
Lượng mưa: lượng mưa có ảnh hưởng lớn trong sản xuất muối. Lượng
mưa lớn làm ảnh hưởng đến việc xây dựng các thiết bị tháo nước ngọt, thời gian
và chi phí để tháo nước ngọt, khôi phục sản xuất, cũng như chi phí duy tu, bảo
dưỡng các cơ sở hạn tầng đồng muối.
18

Bão: bão có ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất muối. Ngoài việc khắc
phục những ảnh hưởng do mưa lớn gây ra, bão còn làm ảnh hưởng mạnh mẽ đến
cơ sở hạ tầng của đồng muối, nhất là các cống lấy nước, mương dẫn nước…
Số lần mưa ít, số lượt nắng liền nhiều: Số lần mưa ít, mặc dù lượng mưa
cao mà số lượt nắng liền có nhiều thì ảnh hưởng đối với sản xuất muối không
cao nếu số lần mưa nhiều (cho dù lượng mưa nhỏ), số lượt nắng liền ít thì ảnh
hưởng nhiều đến sản xuất muối vì khi đó không đủ thời gian nắng để muối kết
tinh. Nếu hàng năm, mưa chỉ tập trung vào một số tháng trong năm thì ảnh
hưởng xấu của mưa tới sản xuất muối biển ở đồng muối sẽ không nhiều bằng
khi mưa rải đều trong các tháng của vụ sản xuất. Bởi vì mỗi khi có mưa, diêm
dân phải mất nhiều thời gian và chi phí để phơi khô mặt ô bay hơi và đưa nước
chạt về nơi sản xuất… Mưa, nhất là mưa bất thường cũng thường làm mất đi
phần nước biển đã được cô đặc đến những nồng độ nhất định trong quá trình bay
hơi trước đó, đôi khi còn làm mất đi lượng muối đã được sản xuất trước đó do
đa phần các kho chứa trong đồng muối đều là kho tạm.
4.2. Yếu tố tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất muối tại huyện
Cần Giờ, TP. Hồ Chí Minh:
4.2.1. Nhiệt độ tăng:
Nhiệt độ càng cao thì tốc độ bốc hơi nước càng cao, quá trình sản xuất
muối được thuận lợi. Các kịch bản biến đổi khí hậu của Việt Nam cập nhật năm

0
C trên hầu hết diện tích nước ta.
Tuy nhiên, theo các kịnh bản đã được xây dựng thì nhiệt độ ở các vùng
khí hậu Bắc và Bắc Trung Bộ tăng nhanh hơn các vùng khí hậu phía Nam và tại
mỗi vùng khí hậu thì nhiệt độ mùa đông tăng nhanh hơn nhiệt độ mùa hè nên
19

dường như tác động của biến đổi khí hậu trên khía cạnh nhiệt độ ít có ảnh hưởng
đến sản xuất muối ở nước ta.
Do mùa vụ sản xuất muối ở nước ta chủ yếu diễn ra trong mùa hè (từ
tháng 1 đến tháng 9) mà trong khoảng thời gian này nhiệt độ lại ít tăng cao hơn
do tác động của biến đổi khí hậu.
Đa phần diện tích sản xuất muối, cũng như sản lượng muối tập trung ở
khu vực các tỉnh phía Nam, mà khu vực này lại có nhiệt độ tăng cao không bằng
ở khu vực Bắc và Bắc Trung Bộ nên ảnh hưởng đến sản lượng muối do sự tăng
lên của nhiệt độ là không lớn.
Tại thành phố Hồ Chí Minh: sự thay đổi nhiệt độ trung bình năm giữa thời
kỳ 1993 – 2007 so với 1978 – 1992 tại một trạm quan trắc được trình bày ở
Bảng 2.3, cho thấy nhiệt độ gia tăng trên toàn khu vực và trong cả hai mùa, mức
tăng trong các tháng mùa khô cao hơn. Tính trung bình năm, mức tăng nhiệt độ
trên khu vực các huyện ngoại thành là 0,3
0
C, trên khu vực nội thành là 0,4
0
C, tại
trung tâm đô thị là gần 0,5
0
C. Như vậy, trên khu vực đô thị TP.Hồ Chí Minh, do
ảnh hưởng của quá trình đô thị hóa nên nhiệt độ cũng có mức cao hơn.
Bảng 3: Chênh lệch nhiệt độ giữa thời kỳ 1993 – 1997

0,2
Tân Sơn Hòa
0,5
0,6
0,6
Tây Ninh
0,3
0,3
0,2
Trị An
0,2
0,3
0,2
Vũng Tàu
0,3
0,4
0,3
Xuân Lộc
0,3
0,3
0,3
Nguồn: PGS.TS.Nguyễn Kỳ Phùng – Biến đổi khí hậu và các tác động đến
thành phố Hồ Chí Minh 20


0,3
0,2
Tân Sơn Hòa
0,5
0,6
0,6
Tây Ninh
0,3
0,3
0,2
Trị An
0,2
0,3
0,2
Vũng Tàu
0,3
0,4
0,3
Xuân Lộc
0,3
0,3
0,3
Nguồn: PGS.TS.Nguyễn Kỳ Phùng – Biến đổi khí hậu và các tác động đến
thành phố Hồ Chí Minh
Hình 2: Xu thế nhiệt độ trung bình năm trạm Tân Sơn Hòa
Xu thế nhiệt mùa khô và mùa mưa thể hiện trên bản đồ cho thấy trong giai
đoạn 1978 - 2007 nhiệt độ trung bình của toàn TP. Hồ Chí Minh đã tăng 0,7
o
C.
So với mức tăng nhiệt độ trung bình khu vực trung bình khu vực Nam Bộ là gần

khu vực Tây Nguyên có mức tăng ít hơn, khoảng từ 1 đến 4%.
Mặc dù tổng lượng mưa năm và lượng mưa mùa mưa ở các vùng khí hậu
nước ta đều tăng, trong khi lượng mưa mùa khô có xu hướng giảm, đặc biệt là ở
các vùng khí hậu phía Nam do tác động của biến đổi khí hậu, nên có thể nói ở
khía cạnh này, biến đổi khí hậu có thể có những ảnh hưởng khá tốt đối với sản
xuât muối ở nước ta. Khi lượng mưa mùa khô giảm, đồng thời cũng là mùa sản
xuất muối, nhất là ở các tỉnh phía Nam kéo theo số ngày nắng tăng cao là một
trong những thuận lợi lớn cho sản xuất muối của diêm dân. Hơn thế nữa, việc
giảm lượng mưa mùa khô lại diễn ra mạnh mẽ ở khu vực phía Nam-là nơi có
diện tích, sản lượng muối chủ yếu của cả nước nên càng có ảnh hưởng đến việc
tăng sản lượng muối trong tương lai.
Phân tích lượng mưa trong năm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh:
Mùa mưu trung bình nhiều năm trên khu vực thành phố Hồ Chí Minh là
ngày 5/5 và kết thúc ngày 12/11 hàng năm.
22

Lượng mưa từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau: lượng mưa trong các tháng
này đều thấp, lớn nhất đạt khoảng 40 mm và nhỏ nhất chỉ vài mm. Đây là thời vụ
sản xuất muối tốt nhất.
Lượng mưa từ tháng 4 và tháng 11: đây là 2 tháng chuyển tiếp giữa mùa
khô và mùa mưu. Những hiện tượng thời tiết thất thường, những cơn mưa lớn
thường xảy ra vào thời điểm này.
Lượng mưa từ tháng 5 đến tháng 10: đây là các tháng tập trung lượng mưa
của năm, tháng 5 có lượng mưa thấp (đạt 140 mm đến 180 mm). Các tháng còn
lại đạt từ 200 mm đến 300 mm. Riêng trong tháng 7, 8 thường xảy ra các đợt
khô hạn kéo dài. Đây là thời kỳ có thể tận dụng cơ hội để sản xuất muối tăng vụ
(nhờ vào mô hình dự trữ nước chạt).
Xu thế biến đổi lượng mưa tại thành phố Hồ Chí Minh:
Lượng mưa trung bình toàn thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ 1978 – 1992
là 1542 mm/năm, thời kỳ 1993-2007 là 1.618 mm tăng 76 mm. Các huyện ven

Cần Giờ
22
28
50
Nội Thành cũ
78
-10
68
Quận mới
29
-83
-54
Nguồn: PGS.TS.Nguyễn Kỳ Phùng – Biến đổi khí hậu và các tác động đến
thành phố Hồ Chí Minh
Xu thế biến đổi lượng mưa theo các khu vực có những nét riêng biệt.
Trong giai đoạn 1978 – 2007, mức tăng lượng mưa trung bình của TP.Hồ Chí
Minh là 98mm. Các huyện ven nội thành có mức tăng cao hơn, mức tăng cao
hơn, mức tăng trung bình của huyện Bình Chánh, Hóc Môn, Nhà Bè có giá trị
tương ứng là 192mm, 154mm và 104mm. Các quận nội thành cũ có mức tăng
trung bình là 63mm, trong đó có các quận mới về phí Đông thành phố lượng
mưa có xu thế giảm.
23

Bảng 6: Xu thế lượng mưa giai đoạn 1978 – 2007 (
0
C)
Nguồn: PGS.TS.Nguyễn Kỳ Phùng – Biến đổi khí hậu và các tác động đến
thành phố Hồ Chí Minh
Mức tăng trung bình của TP. Hồ Chí Minh xấp xỉ vơi khu vực Nam Bộ.
Như vậy, xu thế lượng mưa của TP. Hồ Chí Minh phần lớn là do ảnh hưởng của

1904
1947
2014
KB A1FI
1845
1857
1940
2033
2156
Nguồn: PGS.TS.Nguyễn Kỳ Phùng – Biến đổi khí hậu và các tác động đến
thành phố Hồ Chí Minh

Khu vực
Mùa khô
Mùa mƣa
Năm
Toàn Thành phố
61
39
99
Củ Chi
35
86
121
Hóc Môn
43
111
154
Bình Chánh
126

sản xuất,…. nhưng mặt khác làm cho cơ sở hạ tầng đồng muối, nhất là hệ thống
đê, kè, cống, mương… bị tàn phá, xuống cấp ngày càng nặng nề hơn, dẫn đến
giảm khả năng sản xuất của các đồng muối, do vậy làm ảnh hưởng đến đời sống
của diêm dân.
Trong các năm qua, các hiện tượng thời tiết thất thường đã ảnh hưởng lớn
đến quá trình sản xuất muối của diêm dân. Trong giai đoạn từ năm 2009 đến
2013, hàng năm diêm dân đều bị thiệt hại do ảnh hưởng của các cơ mưa trái
mùa.
4.2.4. Về nƣớc biển dâng:
Khi nước biển dâng cao có thể tạo ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến
vùng ven bờ như: gia tăng ngập lụt vùng đồng bằng ven bờ, hàng triệu ha vùng
đồng bằng sông Cửu Long và sông Hồng có thể bị chìm ngập, hàng trăm ngàn ha
rừng ngập mặn và đồng muối có thể bị mất; đời sống, sinh hoạt và các công trình
xây dựng của cư dân vùng ven bờ cũng sẽ thay đổi theo chiều hướng xấu đi.
Theo các kịnh bản của Bộ tài nguyên và Môi trường năm 2012 đưa ra, nếu
mực nước biển dâng 1m, sẽ có khoảng 39% diện tích đồng bằng sông Cửu Long,
trên 10% diện tích vùng đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, trên 2,5% diện
tích thuộc các tỉnh ven biển miền Trung và trên 20% diện tích Thành phố Hồ Chí
Minh có nguy cơ bị ngập; gần 35% dân số thuộc các tỉnh vùng đồng bằng sông
Cửu Long, trên 9% dân số vùng đồng bằng sông Hồng và Quảng Ninh, gần 9%
dân số các tỉnh ven biển miền Trung và khoảng 7% dân số Thành phố Hồ Chí
Minh bị ảnh hưởng trực tiếp; trên 4% hệ thống đường sắt, trên 9% hệ thống quốc
lộ và khoảng 12% hệ thống tỉnh lộ của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng.
Hầu hết đồng muối đều ở các khu vực sát biển, ở các vùng đất thấp nên
thường bị ảnh hưởng nặng nề của hiện tượng nước biển dâng. Nói cách khác, khi
nước biển dâng, hầu hết các đồng muối hiện tại đều có khả năng bị ngập. Do vậy,
phần lớn cơ sở hạ tầng sản xuất muối như hệ thống đồng muối, hệ thống thủy lợi,
đường đi lại nội đồng… của nước ta có nguy cơ bị phá hủy do ngập lụt bởi hiện
tượng nước biển dâng. Việc sản xuất muối sẽ phải di chuyển đến những địa bàn
25

lớn đất đai có cao độ bình quân +0,6 0,7, cụ thể:
Cao nhất: + 10 (Giồng Chùa xã Thạnh An, khoảng 50 ha).
Từ +1,5 2: có khoảng 9.000 ha, phân bố chủ yếu ở các xã phía bắc, tập
trung ở xã Bình Khánh, một phần ở phía tây xã Lý Nhơn và các cồn cát ở xã
Cần Thạnh, Long Hoà.
Từ +1,0 1,5: có khoảng 15.000 ha.
Từ +0,5 1,0: có khoảng 16.000 ha.
Phần còn lại: < 0,5ha.

Trích đoạn Thực trạng phát triển ngành, lĩnh vực và sản phẩm chủ lực: 35STT Địa Phƣơng 2009 2010 2011 2012 Về kỹ thuật sản xuất muối: Các dự án ƣu tiên: CHƢƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status