Diễn đàn Bảo tồn Đồng bằng sông Cửu Long
GIẢI PHÁP THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU TẠI
VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
GS. TSKH Lê Huy Bá, ThS Thái Vũ Bình
Viện KHCN và Quản lý Môi trường
ĐH Công nghiệp TP.HCM
I. Đặt vấn đề
Biến đổi khí hậu là hiện tượng trái đất nóng dần lên do hiệu ứng nhà kính làm cho nhiệt
độ ở các đại dương tăng dần lên, làm tan băng ở các vùng cực đới, dẫn tới khí hậu của trái đất
biến đổi, hạn hán bão lũ xảy ra ngày một tăng, nước biển ngày một dâng cao.
Ở Việt Nam, theo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Khí tượng Thủy văn trong vòng 50
năm (1950 - 2000) nhiệt độ trung bình tăng 0,70C. Quan trắc tại trạm hải văn Vũng Tàu,
trong vòng 25 năm (1982 đến 2007) cho thấy mực nước biển trung bình 18 năm (1990 –
2007) cao hơn mực nước biển trung bình 18 năm (1982 – 1999) là 34,4 mm. Tính trung bình
mỗi năm gia tăng 5mm.
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một trong ba đồng bằng dễ tổn thương nhất
trên trái đất do biến đổi khí hậu, những diễn biến thời tiết ngày càng xấu đi đã và đang tác
động ngày càng nặng nề lên khu vực này.
Đối với ĐBSCL, biến đổi khí hậu làm cho mực nước biển dâng, hạn hán, lũ lụt xảy ra
với tần suất ngày càng lớn hơn. Những yếu tố đó sẽ làm gia tăng ngập lụt, xâm nhập mặn, lan
tràn chua phèn… và dẫn tới những hệ lụy khác. Khắc phục những vấn đề này chính là giải
quyết được một phần rất lớn ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối với ĐBSCL.
II. Nội dung
• Dự báo những tác động của biến đổi khí hậu lên Đồng bằng sông Cửu Long
1.1. Tài nguyên đất
ĐBSCL là nơi có cao trình mặt đất tương đối thấp, nhiều nơi cao trình chỉ khoảng 20 –
30 cm. Chính vì vậy, mức độ tác động của biến đổi khí hậu lên khu vực này là rất lớn. Theo
báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn khi đưa ra kịch bản biến đổi khí hậu tại
ĐBSCL cho thấy: nếu nước biển dâng cao thêm 1m thì khoảng 70% diện tích đất ở ĐBSCL
bị xâm nhập mặn, mất khoảng hai triệu ha đất trồng lúa. Nhiều địa phương sẽ bị chìm trong
tích đất bị nhiễm phèn dạng tiềm tàng khá lớn, và khi khô hạn nguy cơ chuyển hóa thành đất
phèn hoạt động luôn hiện hữu. Nhiệt độ tăng, thủy triều thay đổi tác động mạnh vào hệ thống
sinh thái rừng ngập mặn ven biển. Không phải tất cả các chủng loại của hệ sinh thái đều
thành công trong việc tự điều chỉnh để thích ứng với những biến động của môi trường sống
mà chỉ có thành phần chủng loại của hệ thay đổi. Mực nước biển dâng cùng với cường độ của
bão tố, thay đổi thành phần của trầm tích, độ mặn và mức độ ô nhiễm của nước sẽ đe dọa đến
sự suy thoái và sống còn của rừng ngập mặn cũng như các loài sinh vật rất đa dạng trong đó.
Xu hướng biến đổi của khí hậu khiến nước biển dâng, độ mặn nước biển trong rừng ngập
mặn sẽ có thể vượt quá 25%. Những biến đổi đó đã làm mất đi rất nhiều loài sinh vật, làm
thay đổi mạnh mẽ hệ sinh thái rừng ngập mặn.
1.2. Tài nguyên nước
ĐBSCL sẽ là vùng bị ảnh hưởng mạnh nhất, nước biển dâng cao hơn sẽ làm cho nhiều
vùng đồng bằng nước ngọt hiện nay trở thành vùng nước lợ, làm thay đổi chế độ thủy văn
dòng chảy và gây áp lực đến 90% diện tích ngập nước. Vì theo dự báo, trong vài chục năm
tới, ĐBSCL nước biển sẽ dâng cao làm ngập lụt phần lớn ĐBSCL vốn đã bị ngập lụt hàng
năm, dẫn đến mất nhiều đất nông nghiệp. Sẽ có từ 15.000 – 20.000 km2 đất thấp ven biển bị
ngập hoàn toàn. Lưu lượng nước sông Mêkông giảm từ 2 – 24% trong mùa khô, tăng từ 715% vào mùa lũ. Hạn hán sẽ xuất hiện nhiều hơn. Nước lũ sẽ cao hơn tại các tỉnh An Giang,
Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, Kiên Giang, Vĩnh Long, TP Cần Thơ, Hậu Giang, thời
gian ngập lũ tại đây sẽ kéo dài hơn hiện nay. Việc tiêu thoát nước mùa mưa lũ cũng khó
khăn.
Suy giảm tài nguyên nước sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp, nghề
cá. Quá trình xâm nhập mặn vào nội đồng sẽ sâu hơn, tập trung tại các tỉnh ven biển gồm Cà
Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre, Tiền Giang, Long An và nước ngọt sẽ khan
hiếm.
1.3. Hệ sinh thái
2
Website: www.mdc-forum.org và www.panda.org/greatermekong
Diễn đàn Bảo tồn Đồng bằng sông Cửu Long
khẩu và ngân sách nhà nước mà ĐBSCL đang đảm nhiệm sẽ chịu thách thức nghiêm trọng.
*) Nhiều khía cạnh về an ninh quốc phòng sẽ được đặt ra, trước tiên là an ninh lương
thực cho cả nước.
Đứng trước tình hình đó, nhiều ý tưởng nhằm thích ứng và giảm thiểu tác động của
BĐKH tới ĐBSCL đã được hình thành.
2. Một số giải pháp thích ứng và giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu tại Đồng bằng
sông Cửu Long
2.1. Xây dựng hệ thống hồ điều hòa giữ nước ngọt, chống mặn mùa khô, giảm ngập
mùa lũ ở ĐBSCL
Theo Viện Quy hoạch Thủy lợi Miền Nam, tổng lượng dòng chảy bình quân hàng năm
từ thượng nguồn vào ĐBSCL theo dòng chính sông Tiền và sông Hậu là 408 tỷ m3. Mùa mưa
tình trạng lũ lụt ở ĐBSCL ngày càng nghiêm trọng. Còn vào mùa khô, tình trạng thiếu nước
ngọt diễn ra, nước trong các dòng sông cạn kệt, kết hợp sự dâng cao của thủy triều đã làm
3
Website: www.mdc-forum.org và www.panda.org/greatermekong
Diễn đàn Bảo tồn Đồng bằng sông Cửu Long
diện tích nhiễm mặn, nhiễm phèn tăng lên. Tài nguyên nước ĐBSCL có sự mâu thuẫn cực
đoan: mùa mưa quá thừa thải còn mùa khô lại quá thiếu nước. Vì vậy, những giải pháp trước
mắt cần tập trung chú trọng giải quyết những vấn đề này.
Những năm gần đây, ở ĐBSCL tuy hạn hán xảy ra nghiêm trọng nhưng diện tích gieo
trồng lúa vẫn tăng đó là nhờ các hồ chứa thủy điện lớn trên lưu vực sông Mê Kông đã phát
huy tác dụng. Các nước đầu nguồn Mê Kông đang thi nhau xây dựng hồ đập. Vậy một câu
hỏi đặt ra: tại sao chúng ta không xây dựng những hồ chứa nước ngay trên lãnh thổ nước ta.
Nhờ các hồ này, ĐBSCL có thể chủ động trong giải quyết những vấn đề rất quan trọng như
điều tiết nước trong mùa lũ, ngăn mặn, cung cấp nước ngọt, rửa mặn, ém phèn,… Dựa trên ý
tưởng đó, kết hợp những cơ sở thực tiễn khác, xin đề xuất một số giải pháp như sau:
2.1.1. Xây các cống ngăn mặn trên các cửa sông chính
Các hệ thống cống ngăn mặn thiết kế có cửa đóng mở tự động hay bán tự động nhưng
(Kích thước: sâu 4m × rộng 500m × dài 800m × cao 2,5m)
Rộng 500m
Sâu 4m
Mặt đất
Dài 800m
Hình 2: Sơ đồ mô phỏng mặt cắt hồ chứa
Trên các hồ điều hòa cần thiết kế các đập tràn ở độ cao đập là 2,0m. Xung quanh hồ kết
hợp với đê bao và trồng cây ven bờ. Giữa lòng hồ để lại một số mô đất cao để ngăn sóng lớn,
nền đất được xử lý chống thấm bằng sét kết hợp với tro. Hồ thiết kế có hệ thống kênh dẫn
tưới tiêu.
2.1.3. Khuyến khích các hộ nông dân tạo các ao, đầm
Các ao, đầm do các hộ nông dân tự tạo nên xây dựng đủ lớn trữ nước tự tưới cho mạng
lưới vườn của họ cho tới hết mùa khô, kết hợp nuôi cá, tôm càng xanh, cua, …
2.2. Theo dõi liên tục diễn biến đất mặn, ngọt, phèn
Diện tích đất nhiễm mặn, phèn, cũng như chưa bị tác động sẽ phản ánh mức độ tác
động của biến đổi khí hậu. Đồng thời, nó ảnh hưởng rất lớn đến quá trình điều tiết nguồn
nước cũng như xây dựng hệ thống tưới, tiêu. Việc xây dựng các dự án kiểm soát mặn;
chuyển đổi thời vụ thích hợp, chuyển đổi cơ cấu cây trồng (sử dụng các loại cây trồng có khả
năng chịu hạn) để tránh thời kỳ thiếu nước ngọt và xâm nhập mặn được xem là giải pháp cấp
bách.
2.3. Giải quyết tranh chấp đất tôm - lúa
Nên tiến hành quy hoạch cụ thể vùng sinh thái nuôi tôm và vùng sinh thái trồng lúa,
chấm dứt tình trạng tranh chấp tôm – lúa (mặn – ngọt) trên một cánh đồng.
2.4. Giữ lớp nước ngọt trên mặt ruộng
Trên các diện tích đất phèn nếu khí hậu khô nóng, hạn thì phèn hóa rất mạnh. Chính vì
vậy, nếu là đất trồng lúa, rừng tràm trên than bùn phèn thì cố gắng giữ nước mặt trên 10cm,
Hệ sinh thái bãi triều và rừng ngập mặn chịu các tác động sẽ thể hiện vai trò “đệm”
giảm sóng, phòng hộ và giữ đất. Khi nước biển dâng lên, chế độ triều sẽ thay đổi khiến dòng
hải lưu sát bờ biển sẽ thay đổi, gió và bão sẽ mạnh hơn và đổi chiều. Tất cả các yếu tố này sẽ
tác dụng lên đường bờ rất mạnh và rất khác. Tình trạng xói lở đường bờ sẽ mạnh hơn. Tình
hình bồi lắng ở các cửa sông sẽ thay đổi. Ranh giới các tiểu vùng bị dịch chuyển. Chính vì
vậy, cần giám sát thật cẩn thận đường bờ biển, thay thế những kè đá (bờ biển cứng) bằng cây
rừng ngập mặn (bờ mềm).
2.7. Phòng chống bão tố
ĐBSCL trước đây là nơi rất ít hứng chịu bão. Thế nhưng trong thập kỷ vừa qua, vào
năm 1997 đã hứng chịu tác động của cơn bão Linda và năm 2006 đã bị đuôi bão Durian quét
qua. Nhiều nghiên cứu gần đây tìm mối tương quan giữa việc bão ở Tây Thái Bình Dương có
xu hướng xảy ra thường xuyên hơn sau tháng 10 dương lịch và đi về hướng đường xích đạo,
với nhiệt độ nước biển bề mặt tăng, đường đẳng trị nhiệt độ 200C (izo team) bị thay đổi, kết
quả là dòng hải lưu bị thay đổi bởi BĐKH. Sự tàn phá mà đuôi cơn bão Durian đã gây ra ở
ĐBSCL sẽ còn lớn lao hơn và khắc nghiệt hơn nhiều nếu mực nước biển dâng lên so với hiện
nay. Chính vì vây, trước mắt rất cần tập trung vào công tác phòng chống bão trong khu vực
này.
6
Website: www.mdc-forum.org và www.panda.org/greatermekong
Diễn đàn Bảo tồn Đồng bằng sông Cửu Long
2.8. Thích ứng với biến đổi khí hậu
“Nguyên tắc của các nhà môi trường học là không chống lại thiên nhiên, mà biết cách
né tránh tác hại thiên nhiên, lợi dụng tác động có lợi, kể cả không thuận lợi, để chung sống
với tự nhiên một cách hòa bình…” (trích của GS.TSKH Lê Huy Bá).
Đây là lời phát triển đã được tôi thể hiện trong rất nhiều tài liệu ngay từ năm 1990. Tinh
thần đó cũng được thể hiện qua cách đối xử với BĐKH.
Trong nông nghiệp: sự thích ứng nhằm hướng tới một nền nông nghiệp bền vững.
cả BĐKH. Cố gắng tạo cho cộng đồng tự tin, không quá hoảng sợ, không chủ quan, không
hành động sai lầm.
- Quy hoach vùng dân cư, trong đê, ngoài đê (nếu có đắp đê), cụm tuyến dân cư tránh
ngập hay chung sống với ngập.
- Mạnh dạn di chuyển dân ở những vùng có nguy cơ cao đến vùng có nguy cơ thấp, an
toàn.
- Tập huấn cho cộng đồng các phương án phòng tránh thiên tai về sơ cứu người bị nạn.
7
Website: www.mdc-forum.org và www.panda.org/greatermekong
Diễn đàn Bảo tồn Đồng bằng sông Cửu Long
- Quy hoạch lại phương thức sản xuất nông nghiệp hay nông ngư hoặc lâm ngư vùng
ngập mặn mới hình thành.
- Chuẩn bị phương án đối phó dịch bệnh do môi trường thay đổi khi khô sang ngập, ẩm
hay nhiệt độ không khí tăng, giảm đột ngột, mà nguồn gốc sâu xa là do BĐKH
- Nước mặn xâm nhiễm trên mặt và cả tầng nước dưới đất. Do vậy quy hoạch tìm kiếm
nguồn nước, bảo vệ nguồn nước ngọt bề mặt và nước dưới đất có tính chất sống còn cho các
cụm, khu tuyến, điểm dân cư.
2.9. Hợp tác quốc tế:
Để thích ứng với BĐKH, nước ta cần liên kết chặt chẽ với Ủy hội Sông Mê Kông với
nguyên tắc công bằng về nước và láng giềng thân thiện, liên kết với các quốc gia Mailaysia,
Philippin, Inđônêxia, Brunei bảo vệ vùng biển và hải đảo.
3. Tổ chức thống nhất chặt chẽ chỉ đạo vùng ĐBSCL
Liên kết chặt chẽ 13 tỉnh trong vùng ĐBSCL là yếu tố mang tính sống còn. Vì vậy phải
thiết lập:
- Quản lý theo lưu vực sông (Bắc và Nam sông Hậu)
- Xây dựng chiến lược chung cho cả vùng
- Xây dựng và củng cố một ban quản lý phát triển đủ mạnh, đủ quyền lực, có kinh phí
hoạt động đủ lớn để thực hiện các dự án chung cho toàn vùng ĐBSCL