LỜI CẢM ƠN
Thực tập khóa luận là giai đoạn cuối cùng đánh giá chặng đường bốn
năm học tập và rèn luyện tại trường Đại học của mỗi sinh viên.
Để thực hiện và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp này ngoài sự nỗ lực
của bản thân, tôi còn nhận được rất nhiều sự giúp đỡ quý báu của nhiều tổ
chức và cá nhân.
Trước hết tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo khoa Khuyến
Nông và Phát Triển Nông Thôn cùng các thầy cô trường Đại Học Nông Lâm
Huế, những người đã tận tình truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu,
dìu dắt, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập tại trường.
Xin chân thành cảm ơn chính quyền địa phương, người dân thôn Thủy
Diện, xã Phú Xuân vì sự giúp đỡ nhiệt tình, sự tham gia chia sẽ những thông
tin quý báu, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong thời gian tôi lưu trú tại
địa phương thực hiện đề tài.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo PGS.TS.
Trương Văn Tuyển, người đã định hướng nghiên cứu, tận tình hướng dẫn và
hết lòng giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện khoá
luận này.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình tôi, tới tập thể lớp Khuyến
Nông 41B và tất cả bạn bè tôi, những người đã luôn bên tôi, dành cho tôi
nguồn động viên, giúp đỡ tôi trong những năm học ở giảng đường, cũng như
trong quá trình thực hiện khoá luận.
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do bản thân chưa có nhiều kinh nghiệm
nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế. Kính mong quý
thầy cô và bạn bè đóng góp ý kiến để đề tài được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn !
Huế, tháng 5 năm 2011
1
Sinh viên thực hiện
Dương Thị Kim Nguyệt
Bảng 4.7: Tình hình phát triển chi hội Nghề cá ở Thủy Diện, Phú Xuân… 34
Bảng 4.8: Sự tham gia của người dân vào hoạt động quản lý tài nguyên 39
Bảng 4.9: Kết quả hoạt động KTTS tại thôn Thủy Diện 41
Bảng 4.10: Kết quả hoạt động NTTS qua các năm tại thôn Thủy Diện……43
Bảng 4.11: Nguồn thu và mức thu nhập của hộ 48
Bảng 4.12: Nguồn thu và thu nhập của các nhóm hộ năm 2010 49
4
DANH MỤC CÁC HỘP
Hộp 1: Nhận xét về các loại hình nuôi 32
Hộp 2: Sản lượng các sản phẩm khai thác 42
Hộp 3: Giá bán các sản phẩm thủy sản 42
Hộp 4: Cấm sử dụng ngư cụ hủy diệt trong thôn Thủy Diện 45
Hộp 5: Đánh giá chất lượng tài nguyên, môi trường của hộ NTTS 46
Hộp 6: Đánh giá về chất lượng tài nguyên, môi trường của hộ KTTS 47
5
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ, HÌNH ẢNH
Bản đồ huyện Phú Vang – tỉnh Thừa Thiên Huế 18
Ảnh 1: Hình ảnh ao vây lưới tại thôn Thủy Diện 30
Ảnh 2: Cận cảnh ao vây lưới tại thôn Thủy Diện 31
Biểu đồ 4.1: Thay đổi số hộ và số ngư cụ trong hoạt động khai thác 40
6
MỤC LỤC
PHẦN 1 1
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
PHẦN 2 3
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
2.1 ĐỒNG QUẢN LÝ THỦY SẢN 3
2.1.1 Khái niệm về quản lý 3
4.2.1 Đặc điểm tài nguyên và phân vùng quản lý, sử dụng tài nguyên vùng nghiên cứu 27
4.2.2 Hoạt động khai thác thủy sản 29
4.2.3 Hoạt động NTTS và KT trong ao vây 30
4.3 CẢI TIẾN QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN VÀ XÂY DỰNG ĐQL TẠI PHÚ XUÂN 32
4.3.1 Phát triển chi hội, xây dựng và kiện toàn tổ chức chi hội 34
4.3.2 Phân vùng quy hoạch và mở rộng thủy đạo 35
4.3.3 Xây dựng quy chế bảo vệ thủy sản dựa vào cộng đồng 36
7
4.3.4 Hoạt động tuần tra bảo vệ tài nguyên 37
4.3.5 Hỗ trợ sản xuất thủy sản 37
4.3.6 Sự tham gia của cộng đồng vào quản lý 38
4.4 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ CẢI TIẾN QUẢN LÝ ĐỐI VỚI SXTS VÀ TNMT 39
4.4.1 Kết quả hoạt động KTTS qua các năm 39
4.4.2 Kết quả nuôi trồng thủy sản qua các năm 42
4.4.3 Bảo vệ sản xuất và giải quyết mâu thuẫn 44
4.4.4 Đánh giá của hộ về tài nguyên, môi trường đầm phá 46
4.5 THAY ĐỔI VỀ SINH KẾ VÀ THU NHẬP CỦA HỘ 47
PHẦN 5 52
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 52
5.1 KẾT LUẬN 52
5.2 KIẾN NGHỊ 53
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
PHỤ LỤC 1 3
ẢNH LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 3
PHỤ LỤC 3 15
PHIẾU PHỎNG VẤN HỘ 15
VAI TRÒ CHI HỘI TRONG CẢI TIẾN 19
ẢNH HƯỞNG ĐỐI VỚI TÀI NGUYÊN 19
PHỤ LỤC 4 22
DANH MỤC TIỂU CHỦ ĐỀ PHỎNG VẤN NGƯỜI AM HIỂU 22
sang sở hữu của người sử dụng, ai sử dụng thì phải có vai trò, trách nhiệm
bảo vệ, quản lý trước. Giải pháp này được thực hiện bằng việc phát triển các
chi hội nghề cá, chi hội nghề cá sẽ là tổ chức đại diện cho người dân trực tiếp
quản lý tài nguyên đầm phá.
1
Phú Xuân là xã nằm ven Phá Tam Giang. Mang lợi thế của vùng nước
lợ rất phù hợp với việc phát triển nghề nuôi trồng thủy sản. Đây là một trong
những xã có diện tích nuôi tôm lớn của tỉnh Thừa Thiên Huế và đặc biệt có
loại hình khai thác tài nguyên thủy sản trên đầm phá trong ao vây lưới. Ao
vây lưới là hình thức người dân dùng lưới vây chắn một vùng nào đó trên
đầm phá để sản xuất, trong vùng ao vây này người dân có thể khai thác nguồn
lợi thủy sản tự nhiên, họ cũng có thể thả giống nuôi. Vì vây lưới trên đầm phá
để sản xuất nên ao vây không cần hệ thống thoát nước và xử lý nước thải, các
ao liền kề nhau, chỉ ngăn cách bằng lưới, không có đường ngăn cách có thể
tận dụng được diện tích và người dân đều có ý thức bảo vệ chung. Tuy nhiên,
vì các ao không có sự ngăn cách nên khi có dịch bệnh thì lây lan rất nhanh và
khó kiểm soát; Ao nằm trên đầm phá, cách biệt với nơi ở của dân lại không có
đội tuần tra nên vẫn bị các hộ ngoài địa phương vào đánh bắt trộm, đặc biệt là
vào mùa mưa lũ.
Vùng ao vây của xã nằm trong khu vực đầm Sam Chuồn đang trong
quá trình quy hoạch nên vùng ao vây của thôn cũng đang có kế hoạch quy
hoạch, sắp xếp lại nò sáo, và trước mắt là đã quy hoạch được vùng thủy đạo,
tuy nhiên việc mở rộng thủy đạo làm cho nhiều hộ bị mất diện tích nhưng vẫn
chưa có đền bù thỏa đáng. Hiện tại trên địa bàn có diện tích nuôi trồng trong
ao vây lớn nhất của xã đã có một chi hội nghề cá nhưng chi hội chưa có nhiều
hoạt động và vai trò của chi hội cũng chưa nổi bật.
Từ thực tế đó, tôi thực hiện đề tài: “Tìm hiểu và đánh giá cải tiến
quản lý tài nguyên đầm phá trong vùng ao vây lưới tại xã Phú Xuân, huyện
Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
dân – hoạt động dưới dạng quản lý phối hợp hoặc chia sẻ với các cấp
chính quyền.
Trong thập kỷ qua, đã có sự thay đổi trong công tác quản lý nghề cá
trên một phương diện bao quát hơn qua đó cũng nhận thấy có sự tham gia của
chính ngư dân, chính quyền địa phương, và đưa ra các quyết định chia sẻ về
quản lý nghề cá. Qua quy trình này, các ngư dân sẽ có khả năng trở thành các
thành viên tích cực của nhóm quản lý nghề cá, cân bằng quyền và nghĩa vụ,
và làm việc trên cơ sở cộng tác hơn là đối lập với chính quyền. Cách tiếp cận
này gọi là Đồng quản lý. [10]
3
Đồng quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên là một thỏa thuận đối tác
trong đó nhóm người sử dụng tài nguyên có quyền sử dụng tài nguyên thiên
nhiên trên đất chủ sở hữu của nhà nước (khu vực đã xác định) đồng thời có
trách nhiệm quản lý bền vững tài nguyên (gồm bảo vệ). Người sử dụng tài
nguyên và các chính quyền địa phương cùng nhau đàm phán thỏa thuận đối
tượng nào có thể làm gì, ở đâu, khi nào, bằng cách nào và bao nhiêu trên một
diện tích tài nguyên cụ thể được thực hiện và giám sát bởi chính những người
sử dụng tài nguyên. [9]
Theo Sen và Nielsen (1996) định nghĩa đồng quản lý là một sự sắp xếp
có sự chia sẻ về mặt sức mạnh cũng như quyền lực nhằm quản lý nguồn lợi
thuỷ sản giữa các nhóm người sử dụng nguồn lợi và chính quyền.
Đồng quản lý là một phương thức quản lý, trong đó Nhà nước chia sẻ
quyền hạn, trách nhiệm và chức năng quản lý với những người sử dụng
nguồn lợi. [11]
Phương pháp đồng quản lý là một quy trình trong đó chính con người
được tạo cơ hội và chịu trách nhiệm để quản lý những nguồn lợi của chính
mình, xác định nhu cầu, nguyện vọng và mục tiêu của mình và đưa ra quyết
định có ảnh hưởng đến bản thân. [4,20]
Định nghĩa phương pháp đồng quản lý là một phương pháp tiếp cận
nhấn mạnh vào trách nhiệm, nghĩa vụ và năng lực của cộng đồng liên quan
tin giữa Chính quyền và ngư dân. Hình thức đồng quản lý này khác so với
hình thức quản lý tập trung ở điểm rằng ở đây nó có cơ chế đối thoại với ngư
dân, nhưng cuối cùng Chính quyền vẫn quyết định những kế hoạch quản lý và
chỉ thông báo cho ngư dân về những kế hoạch quản lý này.
Tư vấn (Consultative): Tham khảo ý kiến giữa các bên đối tác, tuy
nhiên Nhà Nước lại đưa ra quyết định cuối cùng. Hình thức đồng quản lý tư
vấn (consultative) đòi hỏi Chính quyền phải tư vấn một cách tích cực cho
cộng đồng, tuy nhiên Chính quyền vẫn giữ trách nhiệm chính trong việc đưa
ra những quyết định cuối cùng.
Hợp tác (Cooperative): Chính quyền và ngư dân hợp tác với nhau với
tư cách là những đối tác ngang nhau trong quá trình đưa ra quyết định. Hình
thức đồng quản lý hợp tác (cooperative): cả Chính quyền và người dân đều có
sức mạnh ngang nhau trong quá trình đưa ra quyết định.
5
Tham vấn (a dvisory ): Người dân tư vấn cho Chính quyền, và tìm
kiếm sự ủng hộ từ phía Chính quyền khi họ tự đưa ra quyết định của mình.
Đối với hình thức tham vấn (advisory), ngư dân tham vấn cho Chính quyền
trong việc đưa ra các quyết định. Chính quyền lúc đó sẽ được yêu cầu đưa ra
quyết định.
Trao đổi thông tin (Informative): Chính quyền uỷ nhiệm thẩm quyền
cho các cộng đồng ngư dân đưa ra những quyết định, và cộng đồng ngư dân
chịu trách nhiệm thông báo cho Chính quyền những quyết định này. Hình
thức trao đổi thông tin (informative) bao hàm Chính quyền uỷ nhiệm thẩm
quyền cho ngư dân. Trên thực tế, nó có thể không phải là một sự sắp xếp
đồng quản lý chính thức nhưng nó là hình thức truyền thống của quản lý thuỷ
sản được Nhà nước công nhận. Hình thức đồng quản lý trao đổi thông tin có
thể là sự uỷ nhiệm thẩm quyền chính thức hoặc là thừa nhận tập quán truyền
thống cũng như quyền lực truyền thống.
2.1.4 Tiến trình xây dựng đồng quản lý [6]
Tiến trình xây dựng đồng quản lý cơ bản có 10 bước:
Trong quản lý dựa vào cộng đồng con người là thành phần trung tâm,
họ quyết định và kiểm soát mọi hoạt động của chính cộng đồng nơi họ sinh
sống. Bản thân cộng đồng đóng vai trò định hướng quản lý. Trong đó, tài
nguyên là cơ sở, nền tảng cho việc quản lý và sử dụng trong cộng đồng. Cộng
đồng ngư dân tham gia các hoạt động như lập kế hoạch, triển khai kế hoạch,
chương trình quản lý, đánh giá việc quản lý nguồn lợi thuỷ sinh và các cơ hội
khác trên nguyên tắc đồng thuận của các bên liên quan đến tài nguyên. Đối
với nước ta, đất và mặt nước là tài sản quốc gia và giao quyền sử dụng cho tổ
chức, cá nhân một cách hợp pháp và chính các tổ chức và cá nhân phải có
nhiệm vụ và trách nhiệm sử dụng một cách hợp lý nguồn tài nguyên tự nhiên
đó. [4,18]
Quản lý vùng nuôi trồng thủy sản dựa vào cộng đồng là một quá trình
có sự tham gia, trong đó cộng đồng chính là trung tâm của hệ thống quản lý
nước có hiệu quả. Sự tham gia của cộng đồng rất đa dạng và phụ thuộc vào
bối cảnh địa phương, quy mô cộng đồng, luật pháp nhà nước, thể chế và năng
lực địa phương, và công nghệ được sử dụng. Mô hình có thể xác lập dưới
dạng các hội người tiêu dùng và các nhóm hành động cộng đồng ở khu vực
thành thị cho đến các nhóm sử dụng nước và hợp tác xã thủy lợi ở vùng
7
nông thôn. [4,19]
Quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng:
Khái niệm quản lý nghề cá dựa vào cộng đồng có từ thế kỷ 19 trên thế
giới, đó được qui định trong Luật nghề cá Lofoten năm 1897 của Nauy. Sau
đó là Nhật bản từ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 đó hình thành việc quản lý
nghề cá dựa vào cộng đồng; năm 1992 FAO đó tổ chức hội thảo về phát triển
hệ thống quản lý nghề cá ven bờ dựa vào cộng đồng ở các nước Châu á tại
Kobe, Nhật bản. Đến nay, hầu hết các nước trên thế giới từ những nước
nghèo, đang phát triển như châu Phi, châu Á đến các nước mới nổi ở như
Hàn Quốc, Ấn độ, Trung Quốc đến các nước phát triển như châu Âu như
Anh, Đan Mạch, Na uy, Úc, Mỹ cũng đã và đang áp dụng phương thức quản
pháp quản lý đã được xác định từ quá trình nghiên cứu.
- Cải thiện sinh kế: Đa dạng sinh kế để giảm áp lực khai thác nguồn lợi.
- Phát huy sự đa dạng văn hóa.
- Xây dựng mối liên kết và sự ủng hộ với chính quyền: Xây dựng mối
lien kết với các cộng đồng khác, chính quyền các cấp. [4, 19-20]
2.3 Tổng quan mô hình đồng quản lý nghề cá ở Việt Nam
Trước những thành công của phương thức QLDVCĐ/ĐQL nguồn lợi
ven biển nói chung, quản lý nghề cá nói riêng, của thế giới, Bộ NN&PTNT
(Bộ Thuỷ sản cũ) đã rất quan tâm đến phương thức quản lý này và ngay từ
những năm đầu của thập kỷ 90 (1991), Bộ thuỷ sản đã cho phép Viện Kinh tế
và Quy hoạch thuỷ sản hợp tác với các tổ chức quốc tế tiến hành nghiên cứu
vấn đề này. Từ đó đến nay, đã có một số hợp tác nghiên cứu, Hội thảo, tham
quan nước ngoài nhằm phát triển phương thức QLDVCĐ/ĐQL trong quản lý
nghề cá ở Việt Nam.
Bằng nguồn tài trợ của các tổ chức quốc tế và trong nước, của các địa
phương, đến nay đã có 34 mô hình ĐQL/QLNCDVCĐ đã được triển khai và
áp dụng tại Việt Nam bao gồm cả nuôi trồng và khai thác thuỷ sản tại 18 tỉnh,
thành phố ở 7 Vùng sinh.
Năm 2005, Bộ NN&PTNT (Bộ Thuỷ sản cũ) đã chỉ đạo hình thành
nhóm công tác nghiên cứu áp dụng phương thức ĐQL trong quản lý nghề cá
và giao cho Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản chịu trách nhiệm điều phối
hoạt động của Nhóm. Từ năm 2007 đến nay, với sự hỗ trợ của Dự án SCAFI
có rất nhiều hoạt động về đồng quản lý đã và đang được triển khai ở Trung
ương và tiến hành xây dựng 9 mô hình ĐQL tại 9 tỉnh điểm gồm: Sơn La,
9
Quảng Ninh, Nghệ An, Thừa Thiên Huế, Bình Định, Đắc Lắc, Bến Tre, An
Giang và Cà Mau.
Sơn La: Mô hình đồng quản lý hồ mở, xã Quý Hướng, huyện Mộc
Châu. Với diện tích 350 ha, dân số 3722 người, tỉ lệ hộ nghèo 70%, 100 hộ có
hộ liên quan đến khai thác thủy sản.
Theo Nguyễn Quang Vinh Bình, 1999, trong thời kỳ phong kiến triều
đình giao cho các Vạn chài quản lý những thủy vực, dựa trên các đơn vị nghề
nghiệp và xác nhận quyền sử dụng tài nguyên thu thuế. Vạn chài quản lý trên
các lĩnh vực: quản lý ngư dân (hành vi, ứng xử), quản lý sản xuất, quản lý
cộng đồng và quản lý nguồn lợi thủy sản.
Theo Nguyễn Quang Vinh Bình, 2005, chính quyền thuộc địa Pháp
cũng như chế độ miền nam (Mỹ - Ngụy) trước năm 1975 hầu như bảo lưu
phương cách quản lý mặt nước đầm phá Thừa Thiên Huế từ thời phong kiến
dựa vào các vạn chài. [5]
Thời kỳ tập thể hóa (1975 – 1989) phong trào tập thể hóa toàn quốc lúc
này được thực thi trên đầm phá. Ngư dân được tổ chức thành đội hoặc tập
đoàn ngư nghiệp (tương đương với hợp tác xã nông nghiệp). Các khu vực
đầm phá được giao cho các hợp tác xã quản lý.
Thời kỳ từ năm 1989 đến nay tài nguyên đầm phá do Nhà Nước quản
lý thông qua các đơn vị hành chính như thôn, đội
2.5 Quản lý tài nguyên đầm phá dựa vào cộng đồng
Hoạt động quản lý tài nguyên dựa vào dân ở đầm phá Tam Giang –
Cầu Hai bao gồm các hoạt động sau: [7]
- Phân vùng quy hoạch quản lý nguồn lợi đầm phá (Quyết định của
UBND tỉnh số 3677/QD-UB ngày 25/10/2004)
* Phân vùng quy hoạch tổng thể toàn hệ đầm phá
Quy hoạch tổng thể chia vùng đầm phá cho khai thác thủy sản thành 3
khu vực: Vùng nhạy cảm đặc biệt, vùng nhạy cảm, và vùng bình thường.
Vùng nhạy cảm là vùng có bãi giống bãi đẻ của các loài thủy sản, vùng cỏ
biển, vùng chim nước, và vùng có cây ngập mặn. Việc phân vùng quy hoạch
này cụ thể hóa thời hạn cấp phép khai thác thủy sản ở các vùng, đồng thời
ngăn chặn việc giao quyền sử dụng đất “lấn phá” đối với các khu đất ven phá
có thể làm cạn và cản trở dòng chảy ở đầm phá
11
* Phân vùng quy hoạch ở các địa phương (Huyện và Xã)
- Kiểm soát khai thác hủy diệt.
Hoạt động này có cơ quan chuyên trách là Chi cục Bảo vệ nguồn lợi
thủy sản. Chi cục đề xuất UBND Tỉnh ban hành Quy chế bảo vệ nguồn lợi
thủy sản gồm: các hoạt động bị cấm, quy định mắt lưới, các quy định liên
quan khác và quy định về các hoạt động tuần tra bảo vệ, bắt và xử lý các hộ vi
phạm. Quy chế này đồng thời xem xét các vùng không được đánh bắt, hoặc bị
cấm trong một thời gian. Chi Cục Bảo vệ nguồn lợi tổ chức mạng lưới thanh
tra chuyên ngành, tuần tra và xử lý vi phạm. UBND huyện và xã tổ chức hoạt
động tuần tra bảo vệ nguồn lợi định kỳ trong vùng lãnh thổ. Các cộng đồng và
tổ chức ngư dân có vai trò giám sát và tổ chức tuần tra bảo vệ nguồn lợi
thường xuyên tại các tiểu vùng.
- Xung đột và giải quyết xung đột.
Xung đột là vấn đề phổ biến và có thể xảy giữa ngư dân với nhau; giữa
ngư dân và các nghề khác như NTTS và nông nghiệp. Xung đột ngư dân
thường phát sinh do (i) tranh chấp diện tích hoặc vùng đánh bắt, và (ii) nhiều
người dùng nhiều loại ngư cụ khác nhau (như nò sáo và lưới bén), nhưng chủ
yếu vẫn là giữa ngư dân dùng ngư cụ hợp pháp và ngư dân dùng ngư cụ bất
hợp pháp và mang tính huỷ diệt. Xung đột càng dễ xảy ra hơn giữa người
trong xã và người ngoài xã.
Giải quyết xung đột được đề cập trong các quy định khác nhau. Hầu hết
chức năng trực tiếp giải quyết xung đột do thôn, nhóm tự quản và chi hội
nghề cá đảm nhận thông qua hòa giải và vận động. UBND xã là cơ quan nhà
nước trực tiếp xử lý tranh chấp. Xã ban hành các quy định pháp lý do cộng
đồng xây dựng để giải quyết tranh chấp tại địa phương. Các tranh chấp không
xử lý được theo phương thức hòa giải được chuyển đến các cấp có thẩm
quyền giải quyết theo các luật dân sự hiện hành.
- Vấn đề quản lý cần giải quyết
- Chưa có qui hoạch cụ thể cho các tiểu vùng, chưa xác định các tiểu
vùng chức năng cho các mục đích khác nhau (khai thác, sử dụng khác,
bảo tồn).
- Đặc điểm tài nguyên và phân vùng quản lý, sử dụng tài nguyên vùng
nghiên cứu.
- Hoạt động khai thác thủy sản tại vùng nghiên cứu.
- Hoạt động NTTS và KT trong ao vây.
3.2.3 Cải tiến quản lý tài nguyên và xây dựng ĐQL tại Phú Xuân
- Các hoạt động trong cải tiến quản lý tài nguyên và xây dựng ĐQL tại
xã Phú Xuân.
+ Xây dựng và kiện toàn tổ chức chi hội.
+ Phân vùng quy hoạch và mở rộng thủy đạo.
+ Xây dựng quy chế bảo vệ thủy sản dựa vào cộng đồng.
+ Hoạt động tuần tra bảo vệ tài nguyên.
+ Dịch vụ hỗ trợ sản xuất thủy sản.
15
- Sự tham gia của cộng đồng vào quản lý
(Số hộ tham gia vào chi hội nghề cá).
3.2.4 Đánh giá kết quả cải tiến quản lý đối với SXTS và TNMT
- Kết quả hoạt động KTTS qua các năm.
- Kết quả nuôi trồng thủy sản qua các năm.
- Bảo vệ sản xuất và giải quyết mâu thuẫn.
- Đánh giá của hộ về tài nguyên, môi trường đầm phá.
3.2.5 Thay đổi về sinh kế và thu nhập của hộ
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Chọn điểm và chọn mẫu nghiên cứu
Chọn điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại thôn Thủy Diện, xã Phú Xuân, huyện
Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế. Điểm nghiên cứu được chọn là thôn có
những cải tiến trong quản lý tài nguyên đầm phá trong thời gian qua, có chi
hội nghề cá và có vùng sản xuất thủy sản theo dạng ao vây khá phổ biến.
Chọn mẫu nghiên cứu
+ Mẫu nghiên cứu được chọn ngẫu nhiên. Có 2 loại là các hộ nuôi
+ Phương pháp phỏng vấn: sử dụng bảng hỏi bán cấu trúc, kết hợp
quan sát… nhằm hiểu rõ hơn quá trình khai thác và quản lý tài nguyên của
cộng đồng ngư dân vùng ao vây lưới tại cơ sở.
+ Thông tin thu thập:
- Thông tin chung về hộ
- Các hoạt động tạo nhu nhập của hộ
- Sự thay đổi trong các hoạt động nuôi trồng và khai thác thủy sản.
- Nhận thức và đánh giá của hộ về các cải tiến quản lý và hoạt động của
chi hội nghề cá
- Đánh giá của hộ về tài nguyên và môi trường đầm phá.
- Sự tham gia của hộ vào quản lý tài nguyên đầm phá
3.3.3 Phương pháp xử lý thông tin
- Số liệu thu thập được mã hoá và xử lý bằng các phép tính trên phần
mềm Excel.
- Phân tích, so sánh giữa các hộ có ao nuôi trồng thủy sản và các hộ
không có ao, khai thác di động trong vùng ao vây lưới tại cơ sở.
17