đánh giá hiệu quả hoạt động của hợp tác xã nông nghiệp văn xá đông tại xã hương văn, huyện hương trà, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 13

Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Hợp tác xã (HTX) là một tổ chức kinh tế tập thể do cá nhân, hộ gia đình,
pháp nhân (gọi chung là xã viên) có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện góp
vốn, góp sức để phát huy sức mạnh của tập thể, của từng xã viên tham gia
HTX, cùng giúp nhau thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh
doanh và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, góp phần phát triển kinh tế xã
hội của đất nước [8;23].
HTX Việt Nam hình thành sau khi miền Bắc được giải phóng (1957 -
1958). Đến nay cả nước có hơn 8.500 hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) với
tổng xã viên hơn 6,9 triệu hộ trong đó có 6,5 triệu hộ nông dân. Bình quân
một HTX nông nghiệp có 1.079 xã viên và hộ xã viên. Nhiều HTX đã tham
gia cung ứng dịch vụ thiết yếu cho xã viên, cụ thể có 72% số HTX làm dịch
vụ thuỷ lợi, 43% cung ứng vật tư, 56% làm dịch vụ điện, 38% làm dịch vụ
khoa học - kỹ thuật, 15% làm dịch vụ tiêu thụ sản phẩm. Một số HTX đã mở
rộng các loại hình dịch vụ gắn với việc đáp ứng các nhu cầu sản xuất của các
hộ xã viên như dịch vụ tín dụng nội bộ (15,1% HTXNN), dịch vụ tư vấn
thông tin cũng như các dịch vụ phục vụ đời sống, văn hoá, môi trường, nước
sạch, dạy nghề, hiếu hỉ, [3].
Cùng với quá trình đổi mới và phát triển, đã xuất hiện nhiều HTX điển
hình, có tác động thiết thực đến phát triển kinh tế của các hộ thành viên, tạo
động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn và xây dựng nông
thôn mới như HTX Bình Tây (Tiền Giang), HTX Duy Sơn II (Quảng Nam),
HTXNN Thiệu Hưng (Thanh Hoá), HTX Anh Đào (Lâm Đồng), HTXNN
Phú Nham (Yên Bái),
Tuy nhiên, vẫn còn rất nhiều HTX có quy mô nhỏ, thiếu vốn, tài sản ít,
khả năng cạnh tranh thấp, chậm đổi mới, năng lực nội tại của các HTX còn
yếu; đội ngũ quản lý HTX còn hạn chế về trình độ, lại không ổn định làm việc
lâu dài trong HTX. Chính những khó khăn này đã ảnh hưởng không nhỏ đến
chất lượng hoạt động của HTX ở Việt Nam: Số lượng HTX khá giỏi tăng
chưa nhiều, nhiều HTX hoạt động cầm chừng và yếu kém đi; không ít các

2
Phần 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Hợp tác xã và thực trạng phát triển của hợp tác xã
2.1.1. Khái niệm hợp tác xã
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về HTX của các tác giả trên thế giới và
Việt Nam, theo Đại hội liên minh hợp tác xã Quốc Tế lần thứ 31 họp tại
Manchester (Anh) ngày 19-23/09/1995: “Hợp tác xã là những hiệp hội tự chủ
của những người tự nguyện liên kết lại với nhau để đáp ứng nguyện vọng và
nhu cầu chung của họ về văn hóa, xã hội, kinh tế thông qua một tổ chức do
chính các thành viên cùng làm chủ và kiểm tra theo nguyên tắc dân chủ”
[10;4-5].
Theo tổ chức lao động Quốc Tế - ILO: “HTX là sự liên kết của những
người gặp phải những khó khăn kinh tế giống nhau, tự nguyện liên kết lại trên
cơ sở bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, sử dụng tài sản mà họ đã chuyển
giao vào HTX phù hợp với các nhu cầu chung và giải quyết những khó khăn
đó chủ yếu bằng sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cách sử dụng các chức
năng kinh doanh trong tổ chức hợp tác phục vụ cho lợi ích vật chất và tinh
thần chung” [10;4-5].
Theo luật HTX của Việt Nam năm 1996: “Hợp tác xã là tổ chức kinh tế
tự chủ do những người lao động có nhu cầu, lợi ích chung, tự nguyện cùng
góp vốn, góp sức lập ra theo quy định của pháp luật để phát huy sức mạnh của
tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực hiện có hiệu quả hơn các
hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và cải thiện đời sống, góp phần phát
triển kinh tế xã hội của đất nước” [8;23].
Tuy nhiên, các định nghĩa về HTX của Đại hội liên minh hợp tác xã
Quốc Tế lần thứ 31 họp tại Manchester (Anh) ngày 19-23/09/1995; Tổ chức
lao động Quốc Tế - ILO; Luật HTX của Việt Nam năm 1996 không còn phù
hợp với bối cảnh HTX Việt Nam hiện nay. Luật Hợp tác xã sữa đổi năm 2003
được ban hành năm 2003 và có hiệu lực thi hành từ 01/7/2004 là phù hợp vì
đã giúp cho việc tổ chức lại và khuyến khích thành lập mới hợp tác xã trên

lý kinh doanh HTX; viện đào tạo cấp bằng đào tạo và bằng trung cấp về quản
lý kinh doanh HTX; Trung tâm đào tạo cấp quận, huyện đào tạo cán bộ cơ sở,
đào tạo nghề. Do có các chính sách phân cấp đào tạo hợp lý nên Ấn Độ đã có
một đội ngũ cán bộ có trình độ cao, thúc đẩy khu vực kinh tế HTX phát triển
4
và mô hình HTX đã trở thành lực lượng vững mạnh tham gia hầu hết các hoạt
động của đất nước.
Là một nước nông nghiệp, sự phát triển kinh tế của Ấn Độ phụ thuộc rất
nhiều vào sự phát triển của nông nghiệp. Người nông dân coi HTX là phương
tiện để tiếp nhận tín dụng đầu vào và các nhu cầu cần thiết về dịch vụ. Khu
vực HTX có cơ sở hạ tầng rộng lớn, hoạt động trong các lĩnh vực tín dụng,
chế biến nông sản, hàng tiêu dùng, hàng thủ công mỹ nghệ và xây dựng nhà ở
với tổng số vốn hoạt động khoảng 18,33 tỷ USD. Nhận rõ vai trò của các
HTX chiếm vị trí trọng yếu trong các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân.
Chính phủ Ấn Độ đã thành lập công ty quốc gia phát triển HTX, thực hiện
nhiều dự án khác nhau trong lĩnh vực chế biến, bảo quản, tiêu thụ nông sản,
hàng tiêu dùng, lâm sản…đồng thời thực hiện các dự án phát triển những
vùng nông thôn còn lạc hậu [14].
Phát triển HTX ở Nhật Bản
Từ 1870-1890 ở Nhật đã xuất hiện các HTX sản xuất lụa và chè. Khác
với Đài Loan và Hàn Quốc, Nhật không ép buộc nông dân xây dựng một hệ
thống HTX từ trung ương xuống địa phương. Sau 20 năm phát triển, Liên
hiệp HTX toàn quốc mới ra đời.
Nét đặc trưng nổi bật của HTX nông nghiệp Nhật Bản là hình thức HTX
nông nghiệp đa chức năng về hoạt động kinh doanh. Theo ước tính sơ bộ số
lượng HTX trong năm 2000 có 570 HTX đa chức năng [14].
Phát triển HTX ở Hà Lan
Kinh tế hợp tác trong nông nghiệp Hà Lan rất phát triển, mỗi trang trại
thường tham gia nhiều hoạt động của nhiều HTX. Các HTX dịch vụ phục vụ
nông nghiệp ở Hà Lan ra đời cuối thế kỷ 19, khi kinh tế trang trại bắt đầu đi

được gần 245.000 tổ đổi công, bao gồm cả tổ đổi công thường xuyên và tổ đổi
công theo việc, thu hút khoảng 66% tổng số nông hộ tham gia. Cũng trong
thời gian này, Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương khóa II
(8/1955) đã đề ra chủ trương thực hiện xây dựng 6 HTX nông nghiệp tại 6
tỉnh được chọn làm thí điểm trước, đó là: Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Phú Thọ,
Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An. Đến năm 1958, hầu hết các tỉnh đều tiến
hành xây dựng thí điểm HTX nông nghiệp, chủ yếu bằng cách chuyển đổi từ
tổ đổi công lên HTX. Trên toàn miền Bắc lúc này đã có 4.832 HTX với
126.082 hộ nông dân tham gia, chiếm 4,47% tổng số nông hộ.
6
Từ năm 1959 - 1960, đây được coi là giai đoạn thực hiện và hoàn thành
cơ bản phong trào hợp tác hóa trong nông nghiệp ở miền Bắc. Đặc điểm nổi
bật của giai đoạn này là hợp tác hóa với tốc độ nhanh trên toàn miền Bắc.
Thực tế quá trình hợp tác hóa đã vi phạm nguyên tắc tự nguyện, quản lí dân
chủ, cùng có lợi. Kể từ Hội nghị lần thứ 16 Ban Chấp hành Trung ương
(4/1959), hợp tác hóa gần như đồng nhất với tập thể hóa tư liệu sản xuất.
Từ năm 1961 - 1975, đây là giai đoạn củng cố, hoàn thiện, đưa HTX
nông nghiệp bậc thấp lên bậc cao, mở rộng quy mô HTX theo mô hình tập thể
hóa. Đặc điểm nổi bật của giai đoạn này là quá trình củng cố và mở rộng quy
mô HTX luôn mâu thuẫn, trái ngược với kết quả thu được trong sản xuất nông
nghiệp. Nền kinh tế lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng, trước hết là sản xuất
nông nghiệp ngày càng sa sút.
Từ năm 1976 - 1980, đây là giai đoạn tiếp tục mở rộng và củng cố HTX,
gắn với chủ trương xây dựng cấp huyện ở miền Bắc và thực hiện mô hình
HTX tập thể hóa ở miền Nam sau giải phóng, với mong muốn thúc đẩy nhanh
quá trình cải tạo xã hội chủ nghĩa trên phạm vi cả nước thống nhất cùng đi lên
chủ nghĩa xã hội.
Từ năm 1981 - 1988, đây là giai đoạn thực hiện Chỉ thị 100/CT/TW.
Trước thực trạng sa sút của sản xuất nông nghiệp và sự bất cập của mô hình
HTX nông nghiệp kiểu cũ, ở một số địa phương như Phú Thọ, Thái Nguyên,

toàn tỉnh có 158 HTX nông nghiệp (giảm 4 HTX so với năm 2003), trong đó
có 64 HTX xếp loại khá (chiếm 40,5%), 63 HTX xếp loại trung bình (chiếm
39,8%) và 31 HTX xếp loại kém (chiếm 19,6%). Kết quả doanh thu của các
HTX năm 2010 đạt 174.001 triệu đồng, trong đó tổng lãi 10.525 triệu đồng
với bình quân 1 HTX nông nghiệp lãi 72 triệu đồng. Sự phát triển của các mô
hình HTX đã thúc đẩy cho sự phát triển kinh tế – xã hội của toàn tỉnh và bước
đầu thể hiện được vai trò quan trọng của nó trong việc tiếp thu, hướng dẫn
chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thúc đẩy chuyển đổi cơ
cấu cây trồng, vật nuôi, ngành nghề, góp phần xóa đói, giảm nghèo ở các
vùng nông thôn, miền núi góp phần vào quá trình thực hiện xây dựng nông
thôn mới của Đảng và Nhà nước ta đang thực hiện. Bên cạnh những kết quả
đạt được HTXNN vẫn còn mắc phải một số khó khăn như còn nặng về làm
dịch vụ mà chưa chú trọng đúng mức cho đầu tư trực tiếp vào phát triển sản
xuất, chưa xây dựng được thương hiệu mạnh về nông sản, tạo vùng sản xuất
hàng hóa quy mô lớn, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật còn hạn chế,
8
chưa thật sự tạo được mối quan hệ gắn kết về kinh tế giữa HTXNN và các xã
viên, năng lực của Ban chủ nhiệm HTX chưa đáp ứng với tình hình, nhiệm vụ
mới,… [6].
2.2. Hiệu quả hoạt động của HTX
2.2.1. Một số nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của HTX
HTX ở Vĩnh Phúc
Trong 5 năm qua, cùng với việc phát huy những ưu điểm của kinh tế tập
thể, hỗ trợ xã viên, người lao động, các hợp tác xã (HTX) trên địa bàn tỉnh
Vĩnh Phúc đã mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh đa ngành, đa nghề và tăng
cường hợp tác, tạo ra những mô hình sản xuất kinh doanh mới, góp phần quan
trọng vào công cuộc xóa đói giảm nghèo, phát triển KT-XH của tỉnh.
Là một trong những HTX nông nghiệp điển hình trong phong trào
chuyển đổi cơ cấu giống cây trồng; đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công
nghệ mới vào sản xuất, 5 năm qua HTX dịch vụ nông nghiệp Lạc Trung thực

nguồn vốn hoạt động 1 tỷ đồng (năm 2005), đến nay HTX đã có hơn 30 xã
viên, 1 tổ sản xuất, chế biến rượu và các sản phẩm từ rắn, nâng tổng số vốn
hiện có lên 3,6 tỷ đồng. Bên cạnh đó, để chủ động cung cấp rắn giống cho các
xã viên và các hộ chăn nuôi rắn ở các vùng lân cận, HTX đã tập trung đầu tư
nuôi 500 con rắn sinh sản, hướng dẫn quy trình kỹ thuật cho các xã viên nuôi
1.000 con. Năm 2006, HTX đã cung cấp cho thị trường 10.000 con rắn giống,
thu 200 triệu đồng; sản xuất 350 bình rượu rắn; 122kg cao rắn; sản xuất và
tiêu thụ được 3.000 chai rượu rắn. Kết quả, tổng doanh thu từ nuôi và sản xuất
sản phẩm từ rắn đạt 3,4 tỷ đồng (không kể rắn bố mẹ); thu nhập bình quân đạt
1 triệu đồng/người/tháng. Nhận thấy được hiệu quả của mô hình chăn nuôi
rắn, HTX tiếp tục đầu tư và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật để nâng
cao trọng lượng rắn thương phẩm; bảo đảm rắn con sinh trưởng tốt…Năm
2009, HTX đã cung cấp cho thị trường 21.000 con rắn giống; tiêu thụ 9.700
rắn thương phẩm; sản xuất và tiêu thụ 117 kg cao rắn; 1.150 bình rượu rắn;
12.000 chai rượu rắn với lợi nhuận đạt hơn 1 tỷ đồng. Hiện nay HTX đã và
đang thực hiện 2 đề tài nghiên cứu khoa học “nuôi rắn hổ mang chúa sinh
sản” và “chế biến thức ăn mới cho rắn hổ mang để tạo điều kiện chủ động
nguồn thức ăn và bảo vệ sinh thái môi trường”. Với những kết quả đã đạt
được, năm 2008 HTX được Hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ tặng “Cúp vàng
10
sản phẩm dịch vụ xuất sắc”; năm 2009 được tặng “Cúp vàng nông nghiệp”
[12].
HTX Ân Phú ở Bắc Ninh
HTX có 111 ha đất canh tác, với gần 600 hộ, hơn 2.000 nhân khẩu tập
trung trong 3 đội sản xuất. Nhằm đẩy mạnh sản xuất, từ năm 2006 đến nay,
Ban quản trị HTX tập trung chỉ đạo xã viên đưa các giống lúa lai, lúa chất
lượng cao như: Syn 6, DTL, Nhị ưu…vào sản xuất. Trung bình mỗi vụ, diện
tích lúa lai, lúa hàng hóa đã chiếm tới gần 80%, năng suất bình quân cả năm
đạt từ 2,5 - 2,7 tạ/sào. Tuyên truyền vận động bà con thực hiện chuyển đổi
những diện tích ruộng trũng cấy lúa kém hiệu quả và tận dụng diện tích hồ,

tỉnh tặng Bằng khen là HTX DVNN điển hình tiên tiến của tỉnh. Tuy nhiên
hoạt động của HTX vẫn gặp phải những khó khăn như: đồng ruộng manh
mún, nhỏ lẻ, hệ thống thủy lợi, giao thông nội đồng xuống cấp, chưa hoàn
thiện gây khó khăn cho sản xuất. Ông Ngô Đức Thái, Chủ nhiệm HTX cho
biết: “Thời gian tới, HTX sẽ tăng cường tổ chức các lớp tập huấn, chuyển
giao KHKT cho xã viên; vận động xã viên đưa những giống lúa lai, lúa chất
lượng cao vào sản xuất; đẩy mạnh công tác dồn điền đổi thửa, nhằm tạo
những vùng sản xuất lúa lai, lúa hàng hóa lớn, góp phần đẩy mạnh sản xuất,
nâng cao đời sống cho xã viên” [7].
HTX Duy Sơn II ở Quảng Nam
HTX Duy Sơn II (Quảng Nam) là HTX chủ yếu kinh doanh dịch vụ
nông nghiệp, HTX Duy Sơn II đã đầu tư nâng cấp gần 1,5 km kênh mương
cấp I, cấp II bằng bê tông kiên cố, đào trả lại tuyến mương Đồng Vườn cho
HTX Duy Sơn I, nạo vét, đào lại tuyến mương Rẩy Phú, trạm bơm Hoàng
Châu, Đìa Đợi, Đìa Đề, Đìa Khánh, Đìa Triều, Đìa Hóc Nghì tổng kinh phí
đầu tư gần 800 triệu đồng bằng nguồn vốn hỗ trợ của nhà nước và vốn của
HTX, góp phần phục vụ cho công tác thủy lợi và chống hạn có hiệu quả.
Bằng những cơ chế phù hợp, kịp thời nên các xã viên đã thúc đẩy tiến độ
chuyển đổi cơ cấu cây trồng, con vật nuôi có hiệu quả rõ rệt và hằng năm đều
vượt kế hoạch. Kinh phí đầu tư cho công tác này mỗi năm từ 20 đến 30 triệu
đồng. Số diện tích sản xuất lúa kém hiệu quả đã được HTX giảm dần theo
từng năm, thay vào đó là các vùng chuyển đổi sản xuất cây đậu phụng, mè,
ngô năng suất khá, doanh thu đạt hơn 50 triệu đồng/ ha. Được hỗ trợ của
HTX nên các loại giống lúa mới đã đưa vào sản xuất thí điểm xây dựng mô
hình và được nhân rộng như Nghi Hương 2380, theo cơ cấu của các phòng
ban chuyên môn ở huyện. Ngoài ra, HTX còn tổ chức cung ứng giống cho bà
con nông dân, hỗ trợ kinh phí vận chuyển, hỗ trợ đơn giá các loại giống lúa
lai, HTX trích kinh phí cho bà con mượn để có được bộ giống sản xuất tốt. Vì
12
vậy, dù diện tích sản xuất lúa giảm nhưng năng suất, sản lượng hằng năm ổn

ngành điện, Hằng năm đội ngũ quản lý, công nhân trạm thủy điện được đào
13
tạo, sát hạch liên tục, cập nhật những kiến thức mới về phương pháp quản lý,
thiết bị, dụng cụ luôn được đầu tư phục vụ cho ngành.
Tổng doanh thu các ngành CN - TTCN đầu nhiệm kỳ đạt từ 7,5 đến 8 tỷ
đồng/ năm. Nhưng trong quá trình sản xuất do điều kiện khách quan như đơn
giá thấp, số lượng khách hàng giảm, đặc biệt là tác động của thị trường thế
giới làm cho tình hình sản xuất chậm lại, doanh thu hằng năm giảm rõ rệt và
HTX đã thanh lý chuyển giao cho đơn vị khác quản lý xí nghiệp giày, công ty
may Văn Sơn, xí nghiệp mây tre được chuyển sang Công ty TNHH một thành
viên Văn Sơn để hoạt động. Thực hiện nghĩa vụ thuế cho Nhà nước từ 350
triệu đồng đến 550 triệu đồng/ năm, trong 4 năm qua HTX đều hoàn thành
nghĩa vụ thuế với Nhà nước.
Ngoài ra, các khâu dịch vụ và phúc lợi xã hội khác cũng mang lại nguồn
thu cho các xã viên. HTX tổ chức thực hiện dịch vụ thủy lợi và cung ứng
nước sạch. Trong những năm qua thời tiết nắng hạn kéo dài và do đặc thù địa
hình của địa phương gây rất nhiều khó khăn cho việc làm dịch vụ của HTX.
Nhưng bằng những cố gắng của mình, HTX từng bước củng cố các khâu dịch
vụ được tốt hơn, đáp ứng được phần lớn yêu cầu của nhân dân. Giá thu các
dịch vụ tương đối thấp so với mặt bằng giá thị trường, tạo điều kiện cho hộ sử
dụng dịch vụ giao nộp được nhanh gọn. Hằng năm, HTX đều phân phối lãi cổ
phần cho xã viên theo giá trị vốn góp và ngày công, tổng số tiền phân phối lãi
từ 68 đến 70 triệu đồng, đảm bảo cao hơn lãi suất ngân hàng về tiền gửi.
Ngoài ra, HTX còn trích quỹ phúc lợi để lo bảo hiểm tự nguyện cho xã
viên toàn HTX, hỗ trợ ốm đau, thiệt hại do lũ lụt, hỗ trợ chi phí mai táng
500.000 đ/ xã viên không may qua đời, trích nộp bảo hiểm xã hội cho CB -
CNLĐ, hỗ trợ kinh phí đào tạo cho cán bộ công nhân được đi học các lớp dài,
ngắn hạn. Trong nhiệm kỳ qua có 6 cán bộ tốt nghiệp đại học, ngoài ra còn có
5 cán bộ hiện đang theo học tại đại học Đà Nẵng. Không thu thủy lợi phí đối
với diện tích ruộng để thờ phụng Liệt sỹ, đóng góp quỹ người nghèo, gia đình

các công trình phúc lợi hoặc tổ chức các hoạt động phúc lợi chung của cộng
đồng xã viên; Tiêu chí 6: Tiêu chí về mức độ đoàn kết, hợp tác giữa các xã
viên và xây dựng cộng đồng hợp tác xã. Được đánh giá từ mức 0 điểm đến
mức 5 điểm, mức điểm cao hơn thể hiện mức độ đoàn kết, hợp tác cao hơn
giữa xã viên trong hợp tác xã [13].
15
2.3. Vai trò của HTX với sinh kế người dân
2.3.1. Khái niệm sinh kế
Theo DFID thì sinh kế có thể được mô tả là một tập hợp của việc sử
dụng các nguồn lực thực hiện các hoạt động để sống. Các nguồn lực bao gồm
kỹ năng và khả năng (vốn con người) của một cá nhân, đất đai (vốn tự nhiên),
tiết kiệm (vốn tài chính) và trang thiết bị (vốn vật chất), các nhóm hỗ trợ
chính thức hay các nhóm không chính thức hỗ trợ cho việc thực thi hoạt động
(vốn xã hội ) [11,5].
Một sinh kế có thể được miêu tả như sự tập hợp các nguồn lực và khả
năng mà con người có được kết hợp với những quyết định và hoạt động mà
họ thực thi để kiếm sống cũng như để đạt được các mực tiêu và ước nguyện
của họ [11,5].
2.3.2. Vai trò của HTX với sinh kế người dân
2.3.2.1. Vai trò của HTX với sinh kế người dân trên thế giới
Theo thống kê của Liên hiệp quốc, hiện nay, phong trào HTX thế giới
thu hút trên 800 triệu thành viên, tạo ra công ăn việc làm và đảm bảo cuộc
sống của 3 tỷ người. Riêng trong lĩnh vực nông nghiệp, HTX đóng vai trò đặc
biệt quan trọng ở nhiều quốc gia với việc thu hút sự tham gia của đại bộ phận
nông dân, từ những người nông dân với 2,5 - 3 ha canh tác như ở Nhật, Hàn
Quốc, đến các chủ trang trại với quy mô bình quân 30 - 40 ha như ở Châu
Âu, Bắc Âu, Ở các nước này, HTX nông nghiệp đảm nhận phần lớn các
dịch vụ phục vụ sản xuất và tiêu thụ nông sản. Với sự hỗ trợ của HTX, sản
xuất nông nghiệp được thuận lợi hơn, hiệu quả hơn, chất lượng sản phẩm cao
hơn, nông dân cùng mua chung nguyên liệu đầu vào với giá rẻ hơn và bán

hơn 88 HTX chuyên trồng cây ăn quả, hoa, rau, nhân sâm, thu hút 100% nông
dân tham gia làm xã viên (2,4 triệu người). Tất cả các HTX này đều là thành
viên của Liên đoàn HTX nông nghiệp Hàn Quốc, tạo thành một hệ thống
thống nhất triển khai các dịch vụ hỗ trợ nông dân từ khâu lập kế hoạch và
hướng dẫn kỹ thuật sản xuất, cung ứng nguyên vật liệu đầu vào, chế biến và
tiêu thụ nông sản cho đến cung cấp các dịch vụ ngân hàng và bảo hiểm. Hệ
thống HTX nông nghiệp hiện có 4.600 các chợ và cửa hàng bán nông sản trên
cả nước giúp tiêu thụ sản phẩm cho nông dân với tổng doanh số đạt 37 ngàn
tỷ won/năm; 5.041 văn phòng, các điểm giao dịch phục vụ các hoạt động
ngân hàng trên toàn quốc với 36 triệu khách hàng, chiếm 67% dân số Hàn
17
Quốc. Dưới sự hỗ trợ của Liên đoàn quốc gia, các HTX nông nghiệp được
xây dựng thành những trung tâm tài chính, văn hoá và phúc lợi của địa
phương, đáp ứng các nhu cầu đa dạng của nông dân và người dân nông thôn.
Hiện nay, tại Mỹ có 3.140 HTX nông nghiệp với 2,8 triệu xã viên (chiếm
đại bộ phận nông dân và các chủ trang trại chăn nuôi gia súc của nước Mỹ)
tạo ra giá trị sản lượng thuần hàng năm là 111 tỷ USD, giúp Mỹ trở thành một
trong những nước sản xuất nông nghiệp hàng đầu trên thế giới. Ngoài ra, các
HTX nông nghiệp có một hệ thống tín dụng nông nghiệp rất lớn, bao gồm 101
HTX tín dụng nông nghiệp với tổng tài sản khoảng 125 tỷ USD và tổng dư nợ
là 96 tỷ USD.
Tại Pháp, trong lĩnh vực nông nghiệp, trên toàn quốc có hơn 3.500 HTX
với 400.000 xã viên (chiếm 90% tổng số nông dân). Các HTX nông nghiệp
sản xuất hơn 95% sản phẩm rượu vang, 60% nông sản và chiếm 40% hoạt
động chế biến lương thực của nước Pháp.
Là một quốc gia nông nghiệp, HTX nông nghiệp đóng vai trò quan trọng
trong nền kinh tế Thái Lan và trong việc nâng cao vị thế xã hội của người
nông dân. Hiện nay, ở Thái Lan có khoảng 4.137 HTX nông nghiệp với
5.950.809 xã viên nông dân. Các HTX nông nghiệp triển khai các hoạt động
kinh doanh khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu của xã viên, trong đó tập trung

tâm, đến nay cán bộ quản lý có trình độ trung cấp trở lên có 226 người (tăng
124 % so với năm 2006). Nhiều HTX đã chú trọng đầu tư, mở rộng quy mô
và địa bàn hoạt động, ổn định sản xuất kinh doanh, sản phẩm đáp ứng nhu cầu
của thị trường, đóng góp vào sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nhà
Về mặt xã hội, việc liên doanh liên kết giữa các HTX với nhau và giữa
HTX với các doanh nghiệp bước đầu có hiệu quả, góp phần tạo điều kiện cho
các HTX nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh, khả năng cạnh tranh và
nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo lợi ích thiết thực của HTX và xã
viên. Các HTX đã thúc đẩy kinh tế hộ phát triển, hỗ trợ cho nông dân và xã
viên tổ chức sản xuất, góp phần gia tăng sản lượng nông sản hàng hoá; huy
động được các nguồn lực thúc đẩy ngành nghề phát triển sản xuất, chuyển
dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp và nông thôn, góp phần giải quyết việc
làm, tăng thu nhập cho xã viên và người lao động, đồng thời đã góp phần xây
dựng cơ sở hạ tầng kinh tế nhất là khu vực nông thôn, giải quyết nhiều vấn đề
xã hội, đoàn kết tương trợ nhau trong đời sống và giúp đỡ các hộ xã viên khó
khăn. Ngoài ra, các HTX trên địa bàn đã tham gia tích cực các hoạt động xã
19
hội, đền ơn đáp nghĩa, ủng hộ quỹ người nghèo Nhiều HTX đã thành lập tổ
chức công đoàn và tổ chức Đảng, thực hiện chế độ bảo hiểm xã hội và bảo
hiểm y tế cho cán bộ, nhân viên.
Hiện nay toàn tỉnh có 76 HTX nông nghiệp với 16.970 xã viên, vốn điều
lệ đăng ký gần 40 tỷ đồng và giải quyết 5.303 lao động tại địa phương. Ngành
nghề kinh doanh chủ yếu là cung cấp dịch vụ (thuỷ lợi, phân bón, bảo vệ thực
vật, thú y, làm đất, chăn nuôi gia súc ). Các HTX nông nghiệp đã thể hiện
vai trò trong việc hướng dẫn các hộ thành viên chuyển giao tiến bộ khoa học
kỹ thuật vào sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng sản
xuất hàng hoá. Khu vực nông thôn còn có 6 đơn vị quỹ tín dụng nhân dân
hoạt động với tổng nguồn vốn hơn 56 tỷ đồng, thu hút 5.950 thành viên,
100% đơn vị hoạt động có lãi, trở thành kênh huy động vốn và cho vay rất
hiệu quả, góp phần hỗ trợ phát triển sản xuất, xoá đói giảm nghèo, hạn chế

phúc lợi xã hội của HTX ( quỹ trợ tang, quỹ khuyến học, )
3.1.4. Vai trò của HTX đối với sinh kế của xã viên
Để tìm hiểu vai trò của HTX đối với sinh kế của người dân đề tài tìm
hiểu các nội dung: (1) Lợi ích của xã viên khi sử dụng dịch vụ của HTX; (2)
Thu nhập của người trong HTX và ngoài HTX.
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1. Chọn điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành ở xã Hương Văn, huyện Hương Trà, tỉnh
Thừa Thiên Huế. Đây là xã có HTX nông nghiệp Văn Xá Đông, có các dịch
vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp.
21
3.2.2. Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp được thu thập từ: (1) các sách báo, báo cáo khoa học, tài
liệu nghiên cứu, tạp chí, thông tin trên mạng internet liên quan đến đánh giá
hiệu quả hoạt động của HTX; (2) các báo cáo về tự nhiên - kinh tế xã hội năm
2009 - 2010; (3) các báo cáo tổng kết sản xuất kinh doanh dịch vụ của HTX
qua các năm 2008, 2009, 2010. Nhằm thu thập các thông tin như: Điều kiện
tự nhiên – kinh tế xã hội của xã Hương Văn; thực trạng hoạt động và hiệu quả
hoạt động của HTX Văn Xá Đông.
Phỏng vấn sâu: Nghiên cứu tiến hành phỏng vấn sâu với các đối tượng
khác nhau nhằm thu thập các thông tin liên quan đến hiệu quả hoạt động của
HTX. Thứ nhất, phỏng vấn Phó chủ tịch xã để thu thập điều kiện kinh tế - xã
hội của địa phương, tình hình sử dụng đất, cơ sở hạ tầng của xã, đánh giá của
xã về hiệu quả hoạt động của HTX trên địa bàn. Thứ hai, phỏng vấn sâu chủ
tịch liên minh HTX để thu thập các thông tin về tình hình phát triển các HTX
trong tỉnh Thừa Thiên Huế, một số thuận lợi và khó khăn của HTX hiện nay,
vai trò của HTX trong nông nghiệp và nông thôn. Thứ ba, phỏng vấn sâu chủ
nhiệm HTX về các loại hình dịch vụ và hiệu quả cung ứng dịch vụ của HTX
cho người dân, những thuận lợi, khó khăn và các giải pháp trong việc cung ứng

3.3. Phương pháp xử lí thông tin
Tất cả các số liệu điều được mã hoá, nhập và xử lý thống kê bằng các
phép tính trên phần mềm Excel và SPSS. Nghiên cứu này sử dụng hai phương
pháp phân tích, phương thức định tính kết hợp với phương thức định lượng
nhằm phân tích thực trạng hoạt động của HTX, hiệu quả hoạt động và ảnh
hưởng của HTX như thế nào tới sinh kế người dân.
23
Phần 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
4.1.1. Điều kiện tự nhiên
Hương Văn là xã nằm ở vị trí trung tâm của Huyện Hương Trà, dọc theo
quốc lộ 1A cách thành phố Huế 13km. Xã có tổng diện tích tự nhiên 1.372 ha
và được chia thành 7 thôn ( Giáp Nhất, Giáp Nhì, Giáp Ba, Giáp Tư, Giáp
Trung, Giáp Thượng, Bàu Đưng ).
Bảng 1: Tình hình sử dụng đất của xã Hương Văn năm 2010
Loại hình
Diện tích
(ha)
(%)
Tổng diện tích đất tự nhiên 1.372 100
1. Đất nông nghiệp 728,5 53,1
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 577 79,2
- Đất trồng cây hàng năm 575,5 99,7
+ Đất trồng lúa 229,5 39,88
+ Đất trồng cây hàng năm khác 346 60,12
- Đất trồng cây lâu năm 1,5 0,3
1.2. Đất lâm nghiệp 147 20,18
- Đất rừng sản xuất 147 20,18
1.3. Đất nuôi trồng thủy sản 4,5 0,62
2. Đất phi nông nghiệp 616,1 44,91

4.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội
Về kinh tế, mặc dù có vị trí địa lý tương đối thuận lợi để phát triển các
ngành nghề dịch vụ và phi nông nghiệp khác, tuy nhiên hoạt động sản xuất
chính ở đây vẫn chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, với tổng thu nhập từ ngành
nông nghiệp năm 2009 ước đạt 22 tỷ đồng chiếm 34,1% tổng thu nhập toàn
xã. Xã Hương Văn có 2 đơn vị HTX sản xuất nông nghiệp Văn Xá Tây và
Văn Xá Đông. 85% dân cư sống bằng sản xuất nông nghiệp chủ yếu là trồng
lúa và trồng lạc, 15% ngành nghề dịch vụ và buôn bán nhỏ. Trong đó trồng
trọt, cây trồng chủ lực của địa phương là lúa và lạc, với năng suất bình quân của
lúa đạt 54 tạ/ha, lạc trồng hai vụ/năm với năng suất bình quân đạt 22 tạ/ha. Đặc
biệt trên địa bàn xã có HTX sản xuất và cung cấp giống nên gần 100% nông dân
đã sử dụng giống lúa cấp 1 và đưa vào các giống mới như: sắn KM94, lạc L14…
nên năng suất đã được tăng lên và góp phần giúp ổn định đời sống của người
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status